Xem Nhiều 12/2022 #️ 1001 Bài Thơ Hoa Phù Dung Sớm Nở Tối Tàn Hay Nhất / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # 1001 Bài Thơ Hoa Phù Dung Sớm Nở Tối Tàn Hay Nhất / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 1001 Bài Thơ Hoa Phù Dung Sớm Nở Tối Tàn Hay Nhất / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(iini.net) Tổng hợp những bài thơ hoa phù dung hay nhất. Đó là những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của loài hoa Phù Dung (còn có tên gọi khác là Mộc Liên) nhưng sớm nở tối tàn..

THƠ LỤC BÁT: TỰA ĐÓA PHÙ DUNG

Thơ: Hoàng Cửu Long

Xa rồi còn nhớ không anh Lời xưa hẹn ước nỡ đành quên sao Ái ân một giấc chiêm bao Để rồi lạnh lẻo nghẹn ngào lệ rơi

Tôi như cánh mỏng bên trời Phất phơ trong gió tả tơi một chiều Còn đây thân xác cô liêu Bên men tình ái hắt hiu đợi chờ

Người đi rời khỏi cơn mơ Cho tôi ngóng đợi thẩn thờ mình ên Giờ đây một bóng chênh vênh Như hoa sớm nở vội quên ngày tàn

Mịt mù đêm tối dần sang Tỉ tê khép cánh ngỡ ngàn mà đau Tôi như hoa dại thắm màu Đón tia nắng ấm rồi vào đêm đông…

THƠ HOA PHÙ DUNG: LỖI PHẬN

Thơ: Hoa Cỏ May

Sống hoài niệm xa thì khắc mãi Nợ tang bồng chữ ái đã trao Người đi vội vã tiếng chào Phù dung một đóa tại sao nhói lòng

Ông vỡ tổ đùa trong cánh nhụy Rót mật đời thâm thúy lỡ say Niệm xưa lối cũ bao ngày Hoài vương niềm nhớ chẳng lay nỗi mình

Trước giông bão bình minh nào tỏ Tan mất rồi ở đó phải không Cánh hoa lịm sắc phai nồng Rụng rơi xuống cội tàn đông vỡ òa

Kỷ niệm ướt nụ hoa tím chảy Câu hứa nào mãi cháy trong tim Chốn xa lạc giấc mơ tìm Mùa yêu đã hẹn giờ im mất rồi

Về nơi ấy đành thôi lỡ hẹn Ta với người duyên bén lặng câm Bướm ong lỗi phận tơ tằm Nguyệt tơ đào mãi dạ thầm nhớ nhau.

ĐOÁ PHÙ DUNG

Thơ: Khúc Trăng Thơ

Xin anh hiểu quán tình chưa khép lại Dẫu đời em đầy rẫy những đau thương Đời kinh qua bao u uất dặm trường Trong sâu thẳm còn vấn vương tình ái

Xin anh hiểu đoá phù dung si dại Mang nặng tình ôm mãi bóng một người Môi héo tàn cố nở nụ cười tươi Nhưng một góc trái tim đang rướm máu

Xin anh hiểu ái tình trong vô vọng Là niềm đau chôn giấu tận đáy lòng Lê chân buồn lạc bước giữa rêu phong Em nào muốn khơi lòng tình lữ khách

Xin anh hiểu dòng đời dù tất bật Em co mình ôm trọn giấc đêm đêm Trong cơn mơ cứ ngỡ bàn tay êm Ru vỗ về đưa em vào cõi mộng.

KIẾP PHÙ DUNG

Thơ: Nguyễn Minh Nhật

Chiều buông xuống cánh phù Dung khép lại Chẳng kịp chờ ân ái thật đáng thương Một thoáng qua đã chồng chất buồn phiền Sáng khoe sắc,chiều tàn hương tình ái

Đời ai chẳng một đôi lần trót dại Vết thương tâm đã theo mãi kiếp nguời Cỏi dương trần vẫn cố gượng cười tươi Trong sâu thẳm con tim còn rỉ máu

Đời ai chẳng một đôi lần thất vọng Nỗi niềm đau chôn chặt tận đáy lòng Chỉ một mình chống chọi với cuồng phong Không phiền lụy ngời thân hay lữ khách

Cố mảnh bước theo vòng quay tất bật Lại khóc thầm ôm gối chiếc từng đêm Đã từng mơ một mái ấm êm đềm Khi tĩnh giấc chỉ là cơn ảo mộng.

Ngẩn ngơ trước con đò ngang lạc bến Nụ cười tươi thắm dệt nắng chiều thưa Mái chèo khua chấp chới dưới rặng dừa Xao xuyến quá có chồng chưa em hỡi!

Trăng huyền hạ mùa đông chưa kịp tới Vạc kêu sương chờ đợi kẻ sang đò Tiếng vọng buồn hiu hắt đóa hoa yêu Chiều lặng lẽ người xưa ơi có hiểu!

Bến sông cũ cung đàn ai lạc điệu Đóa phù dung nắng chiếu ngả phai màu Nở rồi tàn phận mỏng xót tim đau Nàng thiếu phụ lời ru nao nao nhớ

Thương cô lái chuyện tình yêu một thuở Gánh muộn phiền tan vỡ mộng phù du Tiếng gọi đò năm cũ sớm mịt mù Sao người bảo phù dung luôn tươi thắm

Kẻ phiêu lãng trên nẻo đường vạn dặm Có đợi chờ một sớm ngắm phù dung Chuyện tình yêu có mong lối tương phùng Phận thuyền quyên tình chung không lẻ bóng.

Còn cập nhật..

Hoa Tàn Hoa Nở Cũng Vô Tình / 2023

玫瑰花開花又謝, 花開花謝兩無情。 花香透入籠門裡, 向在籠人訴不平。

Vãn cảnh

Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ, Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình; Hoa hương thấu nhập lung môn lý, Hương tại lung nhân tố bất bình.

Dịch nghĩa

Hoa hồng nở hoa hồng lại tàn, Hoa nở hoa tàn đều vô tình; Hương thơm bay vào thấu trong ngục, Tới kể với người trong ngục nỗi bất bình.

Theo thứ tự trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh “Cảnh chiều hôm” (Văn Cảnh) là một trong những bài thơ cuối tập, chỉ cách bài “Tân xuất ngục học đăng sơn” (Mới ra từ tập leo núi) chỉ có mười bài… Như vậy, lúc làm bài thơ này, nhà thơ bị giam cầm đã khá lâu, tâm trạng đã trải qua nhiều bức bối, phiền muộn. Tình hình thế giới và trong nước cũng đang có nhiều biến chuyển mau chóng, khiến cho chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy cảnh ngộ của mình trở nên không thể chịu đựng. Sau hơn nửa năm trời bị giam cầm và di chuyển “Quảng Tây giải khắp mười ba huyện, mười tám nhà giam đã ở qua”, cái khổ của cảnh lao tù có thể nói là đã tạm quen, nhưng nỗi khát khao được tự do, được hoạt động thì lại thêm cháy bỏng. Bài thơ này, và cả những bài thơ tiếp theo đều nói lên tâm trạng ấy

Theo đầu đề, đây là một bài thơ tả cảnh (Văn cảnh – Cảnh chiều hôm), nhưng thật ra, bài thơ lại không tả cảnh mà chỉ nhân cảnh để nói lên tâm trạng, đo là nổi bất bình trước cảnh ngộ và niềm khao khát tự do của người tù.

Thường thì trong những hoàn cảnh như thế này, bất cứ thời khắc nào trong ngày cũng khiến người ta suy nghĩ để cay đắng về cảnh ngộ của mình. Tuy nhiên, trong những thời khắc ấy, thì cái thời khắc khi chiều đỗ xuống vẫn tác động đến tâm trạng người ta nhiều và mạnh hơn cả. Lí do một phần có lẽ do thứ ánh sáng nhàn nhạt của đất trời trước khi sập tối, cái hơi lành lạnh của buổi chiều về dễ khiến người ta nhận ra: thế là một ngàu nữa đã trôi đi mất. Càng nhận ra cuộc đời mình là quý giá, là cần thiết, thì cảm nhận về sự uổng phí của một ngày bị mất đi ấy càng thêm rõ ràng và cay đắng.

Cho nên, nói đến cảnh chiều hôm ở đây chỉ là cái cớ, cái thời khắc, hơn là nội dung của bài thơ.

Thực ra, xét riêng câu thơ đầu, nếu gọi đó là câu thơ tả cảnh cũng được:

” Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ…” (Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng)

Cảnh ấy là: Chiều đã xuống, hoa hồng đã rụng xuống. Coi đó là câu thơ tả cảnh thực, ta có thể hình dung ra bức tranh mà người tù đang nhìn thấy qua cửa sổ (hoặc khe hở nào đó) của phòng giam: trời đang sập tối, bóng tối càng xuống nhanh của một ngày đang độ mùa mưa, không gian cả trong và ngoài phòng giam đều âm u (ngay trước bài này là bài Thanh minh lất phất mưa phùn.. và sau đó là hai bài là bài Mưa lâu: Một ngày nắng hưởng, chín ngày mưa); trên mặt đất có mấy cây hồng ủ rũ với những bông hồng đang tàn pha…

Có thể trước mắt người tù thi sĩ và chiến sĩ này, đang diễn ra cảnh hoa hựu tạ (hoa lại rụng) ấy thật… Nhưng nếu thật như thế thì cảnh này cũng chỉ là nguyên cớ làm nảy sinh một cảnh trong tâm trạng, ấy là:

” Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng…”

Thấy hoa hồng rụng là nghĩ đến hoa nở, ấy là để cảm nhận một quá trình: thấm thoắt thời gian trôi qua, cái gì cũng có thể chuyển dời, cái gì cũng trôi mất, hết nở rồi tàn…

Trong câu thơ này, cần lưu ý từ hựu (nghĩa là lại, lại lần nữa). Việt nhìn thấy hoa hồng tàn ở đây không chỉ mới có trong buổi chiều hôm nay, cũng không phải chỉ có từ chiều hôm qua. Chính cái điều lại nở, lại tàn là gây ấn tượng mạnh cho nhà thơ lúc này.

Vì đó cũng là chỗ xuất phát cho cảm hững của bài thơ. Cũng vì thế mà, khác với nhiều bài thơ tả cảnh khác của Hồ Chính Minh, sang câu thơ thứ hai, tác giả không chỉ tả cảnh nữa mà là ngẫm nghĩ về cảnh.

” Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình…” (Hoa tàn hoa nở cũng vô tình…)

Câu này có thể được hiểu theo mấy cách. Cách thứ nhất là: Hoa nở rồi hoa tàn, đó là chuyện tự nhiên, hoa nào có ý thức gì về việc tàn hay nở. Cách hiểu thứ hai có thể là: hoa nở rồi hoa tàn, hoa là vật vô tri, vô tình, hoa nào quan tâm gì đến ai, nào biết gì đến tâm trạng như ta. Lại có thể hiểu theo cách thứ ba: hoa nở rồi hoa tàn, đó là việc của hoa, việc của tự nhiên, ta đâu có quan tâm đến điều ấy.

Đọc hai câu thơ này, cứ tưởng là thở của vị ẩn sĩ nào thời xưa đã đến, lúc cuộc đời gác bỏ ngoài tai, mọi chuyện đời đều chỉ là chuyện nước chảy, mây trôi, hoa tàn, hoa nở. Nhưng thật là thú vị, tưởng là vô tình, nói là vô tình, mà lại hữu tình, rất hữu tình.

” Hoa hương thấu nhập lung môn lí, Hương tại lung nhân tố bất bình.” (Hương hoa bay thấu vào trong ngục Kể với tù nhân nỗi bất bình)

Hoa tưởng vô tình nhưng lại đưa hương đến tận nhà giam, đến tận người tù để kể với người tù nỗi bất bình của mình. Người tưởng vô tình lại đón được hương hoa từ bên ngoài vào ngục, lại lắng nghe được tâm sự của hoa. Như vậy, giữa hoa và người đã diễn ra một sự cảm thông chứ không có gì là vô tình nữa, Hoa có thể vô tình, vô giác về sự bất công của xã hội, về cảnh ngộ của người tù nữa.

Còn lỗi bất bình? Nỗi bất bình của ai? Theo ý tứ câu thơ thì đó là nỗi bất bình của hoa, nỗi bất bình mà hoa, nhờ hương của mình làm tiếng nói mang đến kể với người tù. Nhưng nỗi bất bình nào? Có phải đó là nỗi bất bình về chuyện hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng? Nhưng đã nói rồi kia mà: Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình!

Thế thì, ở đây chỉ còn lại là nỗi bất bình của hoa về người tù, về cảnh ngộ của người tù. Phải chăng nỗi bất bình của hoa là thế này: tại sao, giữa hoa và người, có kẻ ở ngoài trời, có kẻ ở nhà giam? Và con người ở trong ngục kia, có tội gì mà phải bị giam cầm?

Hoa ra, đây cũng lại chính là nỗi bất bình của nhà thơ.

Cả bài thơ bốn câu, nhẹ nhàng, gần như vu vơ, chỉ để dồn vào hai tiếng cuối cùng bất bình. Đọc cả bài thơ, ấn tượng sau cùng, mạnh nhất, vẫn là hai tiếng: bất bình. Hẳn nhà thơ, khi viết bài thơ này, cũng chỉ là nói lên hai tiếng: bất bình. Đó là nỗi phẩn uất nhất, bức xúc nhất của nhà thơ lúc này, điều nhà thơ muốn kêu lên giữa nhà giam, muốn nói to lên giữa cuộc đời lúc này. Lời của bài thơi dịu, mà ý nghĩa của bài thơ rất mạnh là thế.

Từ dây, ta nhìn lại ý nghĩa của mấy từ này: tố bất bình (nói lên nỗi bất bình). Theo chữ nghĩa thì chủ ngữ của mấy tiếng này là hoa hương (hương của hoa nói lên nỗi bất bình).

Tuy nhiên, ở đây không chỉ là tiếng nói tố cáo của hoa hương mà chủ yếu, là tiếng nói của người tù. Người tù nói nên nỗi bất bình của mình. Ở đây, hương hoa chỉ là tác nhân làm bùng lên nỗi bất bình trong lòng người tù, khiến người phải thốt lên. Hay nói cách khác, hương hoa làm cho nỗi bất bình đã có sẵn trong lòng người từ phút chốc bùng lên, da diết, cháy bỏng hơn.

Trong bóng chiều hôm đang xuống, nhìn cảnh vật ngoài trời mà chỉ thấy hoa mai khôi, chỉ nhận ra hoa mai khôi đã tàn, ấy không phải chuyện ngẫu nhiên. Vì sao? Hẳn vì hoa hồng là loài hoa đẹp, tượng trung cho cái đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc.

Nhìn hoa hồng tàn mà liên tưởng đến hoa nở, hoa tàn, ấy cũng không phải ngẫu nhiên. Thời gian đang trôi qua ngày này qua ngày khác, phí uổng trong lao tù.

Nhìn hoa hồng mà nghĩ đến hương hoa hồng, ấy càng không phải là ngẫu nhiên. Thực tế thì có lẽ ngồi trong trại giam khó mà ngửi thấy hương hoa hồng từ ngoài bay vào. Nhưng đây thì là hương hoa bay thấu vào trong ngục. Noi thấu là để nhấn mạnh, xa xôi cách trở thế, nhà tù có thể ẩm thấp hôi hám thế, hương hoa vẫn cứ bay tới tận nơi. Có được cái thấu ấy là bởi vì không những hoa hồng vốn có hương thơm mà còn bởi lòng người sẵn mở ra để đón nhận hương thơm. Đến đây ta lại càng hiểu thêm tấm lòng của Bác đối với cuộc đời, hiểu thêm sự đồng cảm tri âm tri kỷ của tâm hồn nghệ sĩ Hồ Chí Minh với tất cả các sự vật thân thiết với con người. Một sự đồng cảm tuyệt vời!

Những đón nhận hương hoa rồi không chỉ để thưởng thức hương hoa, mà còn để nhận rõ thêm nỗi bất bình của mình. Vì sao? Vì hoa hồng là đẹp, là hạnh phúc, là tự do. Càng thấm thía hương thơm của hoa hồng, càng phẫn nộ trước cái xấu, cái ác đang có trong cuộc đời, càng nhận ra nỗi bất hạnh của mình. Bởi vậy, trong bao nhiêu điều mà hoa hồng có thể gợi lên cho mỗi người, nhà thơ đã bắt gặp điều tâm đắc nhất: khát vọng tự do.

Vãn Cảnh là một tác phẩm đặc sắc của Hồ Chí Minh. Ông mượn cảnh để bộc lộ tâm trạng cô đơn, buồn chán của mình khi bị giam cầm. Đồng thời qua bài thơ chúng ta cảm nhận được niềm mong nhớ nhân dân và một tâm hồn kháng chiến mãnh liệt của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi!

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Hoa Nở Để Mà Tàn Đặc Sắc Của Nhà Thơ Xuân Diệu Mới Nhất / 2023

I. Tiểu Sử Nhà Thơ Xuân Diệu

– Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2-2-1916 tại Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, nơi cha là Ngô Xuân Thọ vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Hiệp.

– Xuân Diệu sau ra Hà Nội học, 1938-1940 ông và Huy Cận ở gác 40 Hàng Than. Ông tốt nghiệp kỹ sư canh nông năm 1943. Ông mất ngày 18-12-1985.

– Xuân Diệu viết nhiều, có khoảng 450 bài thơ, nhưng một số lớn chưa được xuất bản.

– Tác phẩm tiêu biểu gồm các tập thơ Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.

– Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca.

– Thơ Xuân Diệu là “vườn mơn trớn”, ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi hương cho gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp.

– Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một tôn chỉ: sống để yêu và phụng sự cho tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc hăm hở làm thơ tình!

– Trước kia Nguyễn Công Trứ nói:

” Trời ban ta, đất trở ta

Trời đất sinh ta, nguyên có ý.”

– Thì quả vậy, trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này để ca hát về tình yêu – cái đề tài mà từ ngàn xưa người Việt Nam chúng ta đã say mê, giống như nhà sư nọ mê một cô nàng đội gạo:

” Sư về sư ốm tương tư

Ốm lăn ốm lóc cho sư chọc đầu”

Vì Xuân Diệu sống hết mình cho tình yêu cộng với tài thơ thiên phú, lại gặp buổi “gió Âu mưa Mĩ”, những khát vọng yêu đương của trai gái được tháo cũi sổ lồng, cho nên trong thơ tình của Xuân Diệu có tiếng máu dồn mạnh trong huyết quản, có dòng nhựa sống tràn trề mãnh liệt của cả thế hệ đang vươn dậy.

– Có những vần thơ được viết ra cách đây hơn nửa thế kỷ mà đến nay vẫn còn khiến chúng ta bàng hoàng vì sự mới mẻ và táo bạo của nó:

” Với trăm ma, tôi hẹn những mười nguyền

Những Tây Thi, Lộng Ngọc, những Điêu Thuyền.

Hồn đông thế, tôi sợ gì cô độc?

Ma với nhau thì ôm ấp cùng nhau…”

– Cái “nhân bản yêu đương” trong thơ tình Xuân Diệu thật là nồng cháy và bền bỉ cho đến tận lúc nhà thơ của chúng ta nhắm mắt xuôi tay! Nửa thể kỉ thơ tình Xuân Diệu là một quá trình khám phá không ngừng vào cái thế giới kỳ diệu của tình yêu.

– Phát hiện đắt nhất của Xuân Diệu chính là sự khẳng định rằng: cây tình yêu giữa cuộc đời thực, sẽ mãi mãi xanh tươi, còn những thứ “tình” được nặn ra từ lí trí khô cứng hoặc từ mộng mị sẽ tàn lụi, xám xịt!

– Xuân Diệu không còn nữa nhưng cây tình yêu trên mảnh đất này có hư hao đi chút nào màu xanh muôn thuở? Trong khi nhà thơ, ở một cõi khác, có thể đang ôm ấp những hồn ma xinh đẹp nào đó

II. Bài Thơ Hoa Nở Để Mà Tàn Đặc Sắc

Xuân Diệu được biết đến là một nhà thơ tình tài hoa. Thơ ông chuyên viết về đề tài tình yêu ngọt ngào của đôi lứa. Ngọn lửa tình trong ông luôn dâng trào thôi thúc ông sáng tác những bài thơ đặc sắc về tình yêu. Ông luôn khát khao, muốn đắm chìm vào một thế giới tình yêu hạnh phúc. Thơ ông bộc lộ những cung bậc cảm xúc trong tình yêu khá rõ ràng. Nổi bật là bài thơ Hoa Nở Để Mà Tàn đậm chất trữ tình nhưng không kém phần sầu buồn.

Hoa nở để mà tàn;

Trăng tròn để mà khuyết;

Bèo hợp để chia tan;

Người gần để ly biệt.

Hoa thu không nắng cũng phai màu;

Trên mặt người kia in nét đau.

“Mỗi Năm Hoa Đào Nở Lại Thấy Ông Đồ Già”… / 2023

(QBĐT) – Trời vào xuân. Ông đồ già ngồi giữa cơ man “mực tàu, giấy đỏ”. Dưới nét bút uyển chuyển của ông, thời gian tưởng chừng như lắng lại, chỉ còn nét xưa đậm chất hồn dân tộc phảng phất đâu đó giữa nhịp sống gấp gáp, vội vã. Cho đến cuối cuộc đời “múa bút nên tranh” của mình, ông đồ Hoàng Gia Hy vẫn ấm áp bởi “còn nhiều lắm những người yêu vốn cổ”. Ngày còn đi học, tôi cứ ám ảnh mãi hình tượng ông đồ trong bài thơ cùng tên của Vũ Đình Liên với một nỗi niềm hoài cổ và nhớ tiếc về “những người muôn năm cũ”.  Để rồi đến khi gặp ông đồ già Hoàng Gia Hy trong căn nhà đượm màu xưa cũ, mới hiểu rằng có những giá trị cổ, dẫu qua bao dâu bể vẫn đủ sức bền chặt cùng thời gian. Một đời đeo đẳng nghiệp bút nghiên, ở tuổi bát tuần, ông mang một nỗi niềm sâu thẳm gửi gắm trong từng nét bút. Ông cụ không giống như trong trí tưởng tượng của nhiều người về hình ảnh của một thầy Nho già với râu tóc bạc trắng, nhưng nhìn vào ông vẫn thấy toát lên vẻ hiền triết và hồn hậu đến lạ. Ông mang trong mình chất uyên bác của con cháu dòng dõi Nho gia; nét tài tử, phá cách của con người tài hoa, cá tính. Làn da lấm tấm vết đồi mồi, đôi mắt trầm đục bao giờ cũng ngân ngấn nước. Trò chuyện cùng ông, đôi lần thấy ông như đang trôi về một cõi xa lắm, như đang hoài nhớ về những ngày tháng đã xa.

Ở tuổi bát tuần, ông mang một nỗi niềm sâu thẳm gửi gắm trong từng nét bút

Ông cụ kể, thân sinh của mình là thầy đồ dạy chữ Nho. Từ nhỏ, ông đã quen với mực tàu, giấy đỏ. Ngày ngày ngồi mài mực cho cha viết rồi cái chữ thâm trầm ấy cũng thấm vào đam mê, vào máu thịt mình từ lúc nào chẳng rõ. Thế rồi nắn nót tập viết cùng cha. Ngày tháng trôi, nét chữ ngày một mềm mại và rồi suốt cuộc đời, cụ đeo đẳng với chữ nghĩa như một cái nghiệp. Nhiều người thường bảo ông cụ như sống trong một thế giới riêng, tự tạo niềm vui nỗi buồn và nhất là khi cầm bút, ông như tách mình ra khỏi những xô đẩy của thực tại, của những gấp gáp, bon chen. Gần chục năm nay, ông bắt đầu viết chữ và câu đối Tết. Cứ mỗi dịp Tết đến, người ta lại thấy ông ngồi giữa một góc phố khiêm nhường, lom khom giữa cơ man giấy đỏ, mực tàu. Có năm lại thấy ông ngồi bình lặng trong Chùa Phổ Minh (Đức Ninh Đông, Đồng Hới), tỉ mỉ với từng nét bút. Nhưng năm nào cũng thế, cái dáng người thương thương, cùng những nét chữ của ông vẫn luôn được nhiều người trân quý. Hai năm nay, sức khỏe giảm sút nhiều, những ngày Tết, ông cụ chỉ ở nhà, ai đến xin chữ lại bày giấy bút ra rồi say mê viết.

Thế nhưng, không phải ai xin chữ, ông cụ cũng cho. Cụ bảo, giữa người viết và người đến xin phải có cái duyên. Người cho chữ phải hiểu chữ và hiểu cả người xin chữ nữa. “Xin chữ là việc của tâm linh. Lòng có thành thì đức mới sáng. Chữ nghĩa cho là để gánh vác, để bươn chải mà vươn lên cho thành đạt chứ không phải trò xổ số cầu may. Có rứa thì việc xin chữ và cho chữ mới thật sự ý nghĩa, có rứa thì người cho và người xin chữ mới xứng với hồn cốt của chữ”, ông cụ gật gù. Gương mặt hằn in vết thời gian, đồ Hy lại say sưa giảng giải cho người khách trẻ sự thâm thúy của chữ nghĩa. “Con có biết, với mỗi người, một trong những chữ quan trọng nhất là gì không? Là “Nhân Hòa”, nghĩa là phải giữ được hòa khí trong mọi mối quan hệ. Giữa người với người mà hòa thuận, vui vẻ thì cuộc sống mới an yên”. Nói đoạn, ông đồ khom lưng viết, đôi bàn tay run run nhẫn nại kéo từng nét bút. Ánh mắt ông trầm đục, đượm buồn tựa như một dấu lặng giữa nhịp sống gấp gáp, hối hả.

Vừa đưa đẩy từng nét chữ, thỉnh thoảng ông lại ngẩng đầu lên, trầm tư: “Xin chữ treo trong nhà đầu năm là một việc làm quan trọng với mỗi gia đình từ xưa, treo chữ gì trong nhà thể hiện bản sắc của mỗi gia đình, cũng là thể hiện những mong ước trong năm mới”. Vậy nên, nhiều năm nay, Tết nào căn nhà nhỏ nép mình bên rì rào ruộng lúa của ông cũng đông kín người. Người già xin chữ “Thọ”. Người trẻ xin chữ “Tài”, “Lộc”, “Trí”… Mỗi người đều ấp ủ một ước vọng riêng nhưng ai cũng quý trọng cái đức của ông đồ già. Ông kể, vui nhất là những hôm cận Tết, trời mùa đông rét tái tê, vẫn có những bạn sinh viên đạp xe cả chục cây số đến nhà ông xin chữ. Người trọng ông bởi cái đức, ông quý người bởi sự nâng niu với chữ. Ông tự nhận mình là “người xưa cũ”. Và những “người xưa cũ” như ông đã nhiều lúc đau đáu buồn bởi những giá trị cổ đang dần bị lãng quên. Nhưng rồi ông ấm lòng, bởi giữa dòng chảy của cuộc sống hôm nay, vẫn còn nhiều lắm những người trân quý cái nét chữ thâm nho này.

Xin chữ ngày Tết là nét văn hóa truyền thống của người Việt

Ông bảo, luyện nét chữ cũng như rèn nết người và phải luôn rèn luyện đến suốt đời. Chữ càng uốn nắn, thì càng mềm mại. Rèn chữ cũng là rèn đức nhẫn nại  nên dù hôm nay sức đã yếu, đôi bàn tay đã run run nhưng ông vẫn rèn chữ từng ngày. Năm 2008 và 2009, ông đồ già Hoàng Gia Hy được giải khuyến khích về thể hiện tại Lễ hội “Câu đối, hoa và đồ uống tết” do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tổ chức. Từ đó đến nay, ông vẫn miệt mài rèn chữ và “nếu còn sức khỏe thì còn tham gia thi”, ông đồ già cười hiền hậu. Nhiều năm nay, ông nghiên cứu nhiều về Phật pháp và hiện là thư ký của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Bình. Và cũng như khi đắm mình trong từng nét chữ, học giáo lý nhà Phật, ông thấy lòng mình tĩnh lại, trầm mặc giữa cái vồn vã, xô bồ của cuộc sống.

Nhìn ông cụ, tôi nhớ đến lời dạy của thầy tôi rằng một khi mọi giá trị đều mất đi thì văn hóa của một dân tộc là điều duy nhất còn sót lại. Vẫn tin rằng, cuộc sống dẫu biến thiên, bộn bề lo toan thì mãi mãi, những phong tục đẹp của cha ông xưa cũng không dễ gì bị quên lãng. Điều gì thuộc về giá trị truyền thống sẽ mãi mãi trường tồn. Và “những người muôn năm cũ” sẽ lại về cùng con cháu mỗi mùa hoa mai, hoa đào nở, mang “lộc chữ” đến cho muôn nhà.

Ghi chép của Diệu Hương

Bạn đang xem bài viết 1001 Bài Thơ Hoa Phù Dung Sớm Nở Tối Tàn Hay Nhất / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!