Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến # Top 4 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

loading…

– Bút danh: Quang Dũng.

– Sinh năm 1921và mất năm 1988.

– Quê: Phưọng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.

– Xuất thân trong một gia đình nho học.

– Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh soạn nhạc.

b. Tác phẩm:

– Mục đích sáng tác: ghi lại những kỉ niệm một thời của những người lính Tây Tiến.

*Bố cục: chia làm ba đoạn:

– Cảm hứng chính của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tránggắn bó với nhau để làm nên linh hồn, sắc điệu của bài thơ.

II. Đọc hiểu văn bản a. Nỗi nhớ Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

– Hai câu thơ mở đầu đã cụ thể cho cảm xúc của toàn bài thơ Sông Mã đại diện cho vùng đất miền Tây. Hai hình tượng song song kết động nỗi nhớ. Đó là miền Tây Bắc Bắc Bộ và người lính Tây Tiến.

b. Hình ảnh người lính Tây Tiến:

*Giữa khung cảnh hùng vĩ, dữ dội.

-Câu thơ 3. 4 gợi tên đất, tên làng. Đó là Sài Khao, Mường Lát:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

– Hành quân chiến đấu đầy gian khổ, thử thách và hi sinh:

“Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời …………… mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm……… cọp trêu người Nhớ ôi ! Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*Người lính Tây Tiến giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng:

“Doanh trại… bừng …hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

*Tâm hồn lãng mạn:

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.

* Sự hy sinh thầm lặng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh …………anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

*Hình ảnh:

– Đó là nét vẻ hào hoa, lãng mạn đầy thơ mộng của những chàng trai Hà Nội.

3. Khẳng định lí tưởng chiến đấu và tinh thần đồng đội.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

– Mặt khác, đoạn thơ kết bài thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính. Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày về.

III. Tổng kết:

– Xem phần ghi nhớ SGK.

Nhận xét

Bài Giảng Tây Tiến Ngắn Gọn Dễ Hiểu

Dàn ý chi tiết:

Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt nam thời kì Kháng chiến chống Pháp. Với một hồn thơ hồn hậu, lãng mạn, phóng khoáng và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về người lính tây Tiến và xứ Đoài(Sơn Tây) của mình. Thơ ông giàu chất nhạc, chất họa. “Tây Tiến” là bài thơ đẹp nhất đời thơ Quang Dũng, bài thơ được sáng tác năm 1948 khi nhà thơ chuyển đơn vị, rời xa đoàn binh Tây Tiến. Những kỉ niệm hào hùng của một thời chiến đấu đã qua đọng lại trong kí ức nhà thơ như một kỉ niệm đẹp- kỉ niệm của một thời dấn thân đầy máu lửa.

Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ, một bài thơ hay viết về đề tài người lính Cụ Hồ thời Kháng chiến chống thực dân pháp. Trong một tác phẩm văn học, hình tượng nghệ thuật luôn là yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp cũng như giá trị của tác phẩm. Hình tượng ấy được thể hiện bằng ngôn từ độc đáo, Tây Tiến cũng thế! Hình tượng thiên nhiên và con người Tây Tiến được Quang dũng thể hiện một cách tài hoa qua ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Bài thơ này là minh chứng hùng hồn cho đặc trưng cơ bản của văn học : “Máu thịt và linh hồn của văn học là hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn từ”

II. THÂN BÀI: dựa vào Bài giảng Tây Tiến

1.Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, văn học đi vào nhận thức, phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng là “máu thịt và linh hồn” của tác phẩm. Nó là một cách tư duy, là hình thức mang tính nội dung của văn học- nghệ thuật.

Hình tượng nghệ thuật không giống với hình tượng âm nhạc, hội họa hay điêu khắc. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu riêng. Chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc; chất liệu của điêu khắc là mảng, là khối,…còn của văn học là ngôn từ. Vì vậy, người ta thường nói: “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ”.

Sức sống của tác phẩm văn học suy cho cùng là bắt nguồn từ chính sức sống của ngôn từ. Một thứ ngôn từ đậm chất nghệ thuật, đậm cá tính nghệ thuật, ẩn chứa một sức nặng tư tưởng không cùng những cảm xúc sâu sắc.

2.Tây Tiến là một bài thơ ngôn từ độc đáo. Bài thơ được hình thành và kết tinh từ nỗi nhớ. Một nỗi nhớ da diết về đồng đội, nhớ từng gương mặt, nhớ từng niềm vui, nỗi buồn, những gian khổ, hi sinh, những cung đường đã trải. Bao trùm toàn bài thơ là nỗi nhớ “chơi vơi” da diết, mãnh liệt, làm sống dậy những kỉ niệm chân thật về cuộc đời chiến đấu của binh đoàn Tây Tiến trên núi rừng Tây Bắc- một vùng đất hùng vĩ, dữ dội.

*Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ, mơ mộng, và vẻ đẹp người lính Tây Tiến vừa hào hùng, vừa lãng mạn càng trở nên độc đáo, khác thường dưới ngòi bút của QD- ngòi bút tài hoa, giàu chất lãng mạn. Ngôn từ đặc sắc là thành công nổi bật của QD khi khắc hoạn hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, mĩ lệ. Vẻ đẹp ngôn từ trong bài thơ Tây Tiến gồm toàn bộ các hình thức biểu đạt từ nhịp thơ, từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ đến cả những yếu tố như thanh, vần, điệu.

a/ Quang Dũng đã xây dựng trong bài thơ những hình ảnh thơ độc đáo. Hình ảnh trong bài được sáng tạo bằng nhiều bút pháp khác nhau (hiện thực và lãng mạn) tạo nên những sắc thái thẩm mĩ phong phú. Trong bài thơ có hai loại hình ảnh chính: thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc bộ và người lính Tây Tiến. Ở mỗi loại hình ảnh có hai dạng chính tạo nên sắc thái hình ảnh, bổ sung cho nhau.

Bài giảng Tây Tiến

-Thiên nhiên có cái dữ dội, khắc nghiệt, hoang sơ, hùng vĩ và kì bí:

+Câu thơ ” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ” là cảnh người chiến binh phải đi giữa núi rừng mờ sương dày đặc, thăm thẳm lạnh lẽo, che lấp cả dáng người đi trong mờ mịt.

+Đoạn thơ :

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

diễn tả hình ảnh khúc khủy, gập ghềnh của dốc núi cheo leo. Đọc những dòng thơ này, ta thấy trước mắt hình ảnh những ngọn dốc vừa khúc khuỷu, gập ghềnh, vừa cao ngất trời, lại vừa thẳm thẳm. Bằng những từ ngữ giàu chất tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “cồn mây”, “súng ngửi trời”, Quang Dũng diễn tả thành công độ cao ngất trời của Tây Bắc. Núi cao chót vót, thăm thẳm, đường lên khúc khuyue, gập ghềnh; người lính leo trên đỉnh núi nhạt nhòa như leo trong mây, mũi súng chếch lên, tựa hồ chạm cả đỉnh trời.

Cách nói “súng ngửi trời ” : vừa diễn tả sự mạnh mẽ, vừa bộc lộ nét tinh nghịch của người línhTây Tiến trẻ trung, sôi nổi, yêu đời.

Câu thơ : “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” như bị bẻ đôi bởi nhịp của nó và sự đối lập: “Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống “, gợi tả sự hiểm trở của dốc núi miền cao. Bút pháp tương phản gân guốc làm nổi bật tính tạo hình của nó.

Cuối cùng là câu thơ với những thanh bằng nhẹ nhàng, ngang nhau, gợi mở một không gian xa rộng dưới tầm mắt người lính: Qua mịt mù lớp sương rừng mưa núi, thấp thoáng những ngôi nhà của đồng bào miền cao bồng bềnh trong mưa như trong biển nước: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

+ Tây Bắc về chiều càng hoang dã, dữ dội. Vẻ bí hiểm chốn rừng thiêng gói gọn trong hai dòng thơ mà độ mở của nó thật sâu xa, vừa gợi tả theo thời gian, vừa mở ra theo chiều không gian. Âm thanh dữ dội của tiếng mưa nguồn thác lũ gầm thét vào mỗi buổi chiều, tiếng cọp gầm trên rừng Mường Hịch mỗi lúc đêm về thật đáng sợ, luôn rình rập và đe dọa sự sống cho đồng bào nơi đây : “Chiều chiều oai linh thác gầm thét- Đêm đem Mường Hịch cọp trêu người”.

-Bên cạnh đó là hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình:

+Cũng có khi lại êm dịu và say đắm lòng người bởi hình ảnh những bông hoa rừng trắng muốt ẩn hiện trong sương mờ một đêm Mường Lát lạnh giá ở một bản làng miền núi:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.

+ Quang Dũng lại nhớ về một Châu Mộc chiều sương. Cảnh sông nước Tây Bắc thơ mộng, hữu tình trong lòng người lính mãi không thể nào quên.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Nhớ về một Châu Mộc chiều sương, không gian dòng sông lúc chiều tà mênh mông huyền ảo như giăng như mắc một màu sương. Sông nước bến bờ lặng tờ, hoang dại, những bờ lau phất phơ như cũng có linh hồn.

*Hình ảnh người lính Tây Tiến cũng hiện ra ở nhiều sắc thái, chủ yếu là hào hùng và hào hoa.

-Họ hào hùng ở ý chí, tư thế hiên ngang, vượt lên và coi thường những gian khổ, thiếu thốn, cả sự hi sinh.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa- Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

Những cuộc hành quân dãi dầu gian khó, sự thiếu thốn đã vắt kiệt sức người lính, không ít người đã ngã xuống. Với biện pháp nói giảm “bỏ quên đời”, không chỉ làm vơi đi cảm giác đau thương bi lụy mà còn làm tăng tính chất thanh thản của cuộc hi sinh vì nước, vì lí tưởng cao đẹp của một thời đại hào hùng, bất khuất. Giọng thơ vừa xót xa, vừa ngang tàng cứng rắn là nét bi tráng của bài thơ Tây Tiến. Từ đây, một hàng trình Tây Tiến đã hiện ra: vất vả, gian khổ và đầy thử thách, nhưng người lính Tây Tiến đã vượt qua với tinh thần trẻ trung, lạc quan, dũng cảm và sự hào hùng.

– Hào hoa ở tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên đằm thắm tình người và cả những khát khao, mơ mộng. Trong đêm liên hoan văn nghệ có đồng bào địa phương đến góp vui, không khí rộn rã, vui vẻ, cả doanh trại như bừng lên hội đuốc hoa với vũ điệu và âm nhạc của người bản xứ. Những người lính trẻ, tâm hồn lãng mạn như bốc men say, ngất ngây, đa tình. Hai chữ “kìa em” thể hiện cái nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa ngạc nhiên, vừa say mê, vừa sung sướng trước vẻ đẹp của thiếu nữ Tây Bắc “xiêm áo tự bao giờ”. Các chàng trai Hà Nội trẻ trung sao không khỏi ngất ngay trước vẻ đẹp say mê, quyến rũ ấy!

Những ngày chiến đấu ở nơi núi rừng xa xôi, thăm thẳm, Hà Nội với những “dáng kiều thơm”(những thiếu nữ yêu kiều diễm lệ Hà Thành) đã để thương để nhớ trong lòng người lính trẻ, tiếp thêm sức mạnh cho anh trong những ngày tháng chiến đấu và đối mặt với hiểm nguy đang kề cận bên mình.

b/Ngôn ngữ thơ: Đặc sắc trong ngôn ngữ của Tây Tiến là sự cô đúc tinh tế, sự phối thanh, hỗn trộn của nhiều sắc thái, phong cách với những lớp từ vựng đặc trưng. -Nhan đề “Tây Tiến” (ban đầu là “Nhớ TT”)

+Không cần đến chữ “nhớ” trong nhan đề bởi nỗi nhớ chan chứa khắp toàn bài (“nhớ về”, “nhớ chơi vơi”, “nhớ ôi”, “có nhớ”,…)- nỗi nhớ là cảm xúc chủ đạo của toàn bài.

+Bài thơ không chỉ có nỗi nhớ mà còn có sự ngợi ca, tôn vinh những chiến sĩ TT

-Đặc sắc ngôn ngữ của bài thơ:

+Có thứ ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc cổ kính- chủ yếu ở đoạn 3, miêu tả trực tiếp hình ảnh người lính và sự hi sinh bi tráng của họ.

+Cả lớp từ ngữ sinh động của tiếng nói hàng ngày, in đậm phong cách người lính và sự hi sinh bi tráng của họ.

+Sự sáng tạo trong ngôn ngữ của bài thơ là những cách kết hợp từ mới lạ, độc đáo, tạo ý nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ ngữ.

+Sử dụng địa danh cũng là một nét đáng chú ý trong ngôn ngữ của bài thơ. Các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và con người, lại vừa tạo được sự hấp dẫn của xứ lạ, phương xa.

-Về giọng thơ:

Cả bài thơ bao trùm trong nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy gọi về nhwuxng kỉ niệm, những trạng thái cảm xúc khác nhau, mỗi trạng thái cảm xúc được diễn tả bằng một giọng điệu phù hợp.

+Đoạn 1:tha thiết, bồi hồi- được gợi lên từ tiếng gọi tha thiết.

+Đoạn 2: chuyển sang giọng thơ tươi vui, hồn nhiên khi tái hiện những kỉ niệm vui vầy, hào hứng về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân, rồi lại bâng khuâng man mác khi gợi về một chiều sương Tây Bắc…

+giọng thơ trở nên trang trọng, rồi lắng xuống khi tưởng nhớ về sự hi sinh của đồng đội.

Văn học là hình tượng nghệ thuật xây dựng bằng ngôn từ. Ý kiến trên thật xác đáng khi nhận xét về đặc trưng ngôn từ của bài thơ Tây tiến- một thi phẩm tiêu biểu thời chống Pháp.

Bài giảng Tây Tiến

Bình Giảng Bài Thơ Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng

Đề bài: Bình giảng bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Nhắc đến hình tượng người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp không ai không nhớ đến Tây Tiến của Quang Dũng. Với tạo hình vừa chân thực vừa lãng mạn, diễn tả đặc sắc điều kiện thiếu thốn của cuốc đấu tranh và cảnh vật thiên nhiên nơi miền Tây hoang sơ kì vĩ, “Tây Tiến” đã trở thành tác phẩm tiêu biểu trong thời kỳ này và còn giá trị đến mãi ngày nay.

Bước vào bài thơ là sự nhớ thương, nỗi vất vả của người lính. Cái hay của tác giả đó chính là mượn hình ảnh “Sông Mã” để diễn tả nỗi nhớ của mình. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi – Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. Từ láy “chơi vơi” vừa tạo âm hưởng cho câu thơ, vừa tạo sự ám ảnh vang vọng trong lòng người đọc. Nhà thơ đã tạo ngay được ấn tượng đối với người đọc. Chặng đường hành quân đầy gian khổ được tác giả gắn liền với các địa danh, những vùng đất xa xôi hẻo lánh, sự hoanh sơ bí hiểm của rừng thiêng nước độc. Nhưng vượt lên trên cuộc hành quân khó khăn gian khổ ấy vẫn là tư thế người chiến sĩ mang quyết tâm cao. Một hình ảnh đẹp về người lính được viết thêm: “súng ngửi trời”. Tiếp xúc với hình ảnh nhân hóa mới này ta liên tưởng đến Chính Hữu với “đầu súng trăng treo”.

Bình giảng bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Cái độc đáo của bài thơ này còn thể hiện ở cái nhìn của Quang Dũng. Ông dám nhìn thẳng vào sự thật mà không né tránh, đó là sự hi sinh trên chiến trường. Trong bài thơ cũng rất nhiều lần, tác giả nói về vấn đề này. Nhưng ông không lấy đó để làm nhụt chí chiến đấu của chiến sĩ đồng bào ta mà lấy đó để khẳng định lòng quyết tử chi Tổ quốc quyết sinh của họ. Từ “gục lên súng mũ bỏ quên đời” đến “rải rác biên cương mồ viễn xứ” hay “áo bào thay chiếu anh về đất”. Tất cả chỉ nhằm chỉ thẳng vào hiện thực đó là cái chết luôn cận kề. Nhưng cái chết ấy không làm cho chiến sĩ của ta run sợ, họ vẫn “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Không những thế họ còn lạc quan, yêu đời, hào hoa. Trong điệu múa tiếng khèn cùng với các cô gái Thái xinh đẹp trong xiêm áo, nguồ lính vẫn vui hết mình, vẫn rung động trước những vẻ đẹp mà thiên nhiên, tạo hóa đã ban tặng. Họ vẫn rung động trước vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng của núi rừng, sông nước miền Tây.

Lòng quyết tâm của người lính Tây Tiến cũng là điểm mấu chốt của tác phẩm. Trước muôn vàn khó khăn thiếu thốn, trong cả bệnh tật lẫn cái chết liền kề, người lính vẫn toát lên vẻ oai hùng, quyết tâm của họ. Họ sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho quê hương đất nước. Họ dám chết và coi thường cái chết. Với lời hẹn ước: “Tây Tiến người đi không hẹn ước” sẽ không có ngày trở lại nếu sự nghiệp không thành một lần nữa khẳng định lại quyết tâm cao độ của người lính.

Tây Tiến giờ đã xa cả về không gian và thời gian, nhưng nhà thơ, hồn thơ ấy vẫn vương vẫn mảnh đất Tây Tiến vào xuân. “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy – Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

Khép lại bài thơ, “Tây Tiến” vẫn đọng lại trong lòng nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc. Không chỉ đơn thuần là miêu tả chân dung người lính Tây Tiến, thiên nhiên cảnh vật nơi đây mà tác phẩm còn đong đầy cảm xúc của tác giả. Một nỗi nhớ về đồng đội, về thiên nhiên con người, nỗi nhớ ấy cứ “chơi vơi” lửng lơ tring lòng cũng khiến người đọc dư âm vang vọng mãi.

Kim Oanh

Bình Giảng Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là một bài thơ phản ảnh chân thực cuộc kháng chiến chống Pháp nhiều hi sinh và gian khổ của người lính.

Tuy nhiên, dù khó khăn gian khổ nhưng người lính vẫn lạc quan và thể hiện tinh thần kiên cường. Những tứ thơ thể hiện tình cảm của người lính trẻ và đậm nét bi hùng qua nghệ thuật thơ độc đáo trong khổ 1 của bài thơ Tây Tiến.

Bài 1. Bài văn của em Hà Trí Dũng bình giảng khổ 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Quang Dũng ( 1921-1988) là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng , hồn hậu , lãng mạn và tài hoa . “Tây Tiến” là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng. Có thể nói , tinh hoa của bài thơ được hội tụ lại trong khổ thơ đầu tiên . Khổ thơ đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ , mĩ lệ của núi rừng miền Tây, nơi nhà thơ cũng đoàn quân Tây Tiến đã từng hoạt động, chiến đấu.

Bình giảng khổ 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây,súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh , khi nhà thơ đã rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến , chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác .

Tây Tiến là một đơn vị bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào , tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam . Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rất rộng lớn trải dài từ Sơn la , Hòa Bình , miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa ( Lào) – là những nơi hiểm trở , hoang vu , rừng thiêng nước độc . Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội , có nhiều học sinh , sinh viên , trong đó có Quang Dũng . Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ , thiếu thốn , bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan , anh dũng . Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập Trung đoàn 52 .

Bài thơ ra đời từ nỗi nhớ , kỉ niệm , hồi ức của Quang Dũng về đồng đội và địa bàn chiến đấu cũ . Tác phẩm sau khi ra đời đã được bao thế hệ thanh niên và bạn yêu thơ truyền tay tìm đọc . Đến năm 1986, bài thơ được in trong tập thơ ” Mây đầu ô” ( xuất bản 1986) .

Ban đầu bài thơ có tên là ” Nhớ Tây Tiến” , sau đó tác giả chuyển lại thành ” Tây Tiến” . Nhan đề ” Tây Tiến” đảm bảo tính hàm súc của thơ , không cần phải trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ mà tình cảm ấy vẫn hiện lên sâu sắc , thấm thía . Nhan đề còn làm nổi rõ hình tượng trung tâm của tác phẩm , đó là hình tượng đoàn quân Tây Tiến . Việc bỏ đi từ “nhớ” đã vĩnh viễn hóa đoàn quân Tây Tiến , khiến cho hình ảnh người lính Tây Tiến trở thành bất tử trong thơ ca kháng chiến Việt Nam .

“Tây Tiến” là bài thơ in đậm phong cách tài hoa , lãng mạn , phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng . Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhà thơ với người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn , đậm chất bi tráng. Đoạn thơ thứ nhất đã tái dựng lại sống động bức tranh thiên nhiên miền Tây với những khung cảnh , những chặng đường hành quân gian khổ , từ đó hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra .

Bài thơ mở ra bằng một nỗi nhớ trào dâng:

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi ! Nhở về rừng núi, nhớ chơi vơi

Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” bật lên bởi một nỗi nhớ sâu sắc , cồn cào không kìm nén nổi . Đối tượng của nỗi nhớ ấy rất cụ thể , rõ ràng là : “sông Mã” , “Tây Tiến” , “rừng núi” . Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả mới điệp lại hai lần từ ” nhớ” . ” Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ chập chờn hư thực , vừa tha thiết , thường trực , vừa mênh mang , đầy ám ảnh , vừa mở ra không gian của tiềm thức , vừa như gợi ra không gian trập trùng của núi đèo rộng lớn . Cách hiệp vần “ơi” làm câu thơ như ngân vang , phù hợp với biên độ của cảm xúc .

Hai câu thơ đầu đã khơi mạch chủ đạo của cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi . Nỗi nhớ ấy được cụ thể dần dần trong những vần thơ tiếp sau .

Hai câu thơ tiếp : gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi , Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Hai câu thơ vừa tả thực, vừa sử dụng bút pháp lãng mạn .Những từ chỉ địa danh Sài Khao , Mường Lát gợi ra địa bàn rộng lớn , đầy lạ lẫm đối với người lính Tây Tiến . Sương mù vùng cao dày đặc như trùm lấp bước chân , nuốt chửng cả đoàn binh vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì chặng đường dài gian khổ . Quang Dũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực khuất lấp trong thơ ca kháng chiến . Nhưng những người lính ấy , dù mệt mỏi mà tâm hồn vẫn trẻ trung , hào hoa , lạc quan , yêu đời . Hình ảnh ” hoa về trong đêm hơi” là hình ảnh đẹp giàu sức gợi . Đó có thể là những ánh đuốc sáng lung linh của đoàn quân đang tiến về bản làng , cũng có thể là hình ảnh đoàn quân từ rừng đi ra , trên tay vẫn cầm theo những đóa hoa rừng ngát hương , mà đó cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân Tây Tiến như những bông hoa rừng . Đoàn quân ấy hành quân trong một ” đêm hơi” đầy huyền ảo , mơ hồ , bảng lảng khói sương chốn rừng suối . Hai câu thơ in đậm dấu ấn tài hoa , lãng mạn của Quang Dũng .

Bốn câu thơ tiếp theo đặc tả địa hình hiểm trở của miền Tây :

Dốc lên khúc khuỷu , dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời , Ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống , Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi .

Nhà thơ sử dụng một loạt các từ láy tượng hình “khúc khuỷu” , ” thăm thẳm”, ” heo hút” , kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như chặt đôi câu thơ , mật độ thanh trắc dày đặc khiến câu thơ trúc trắc gợi sự vất vả , nhọc nhằn . Những phép tu từ đó mở ra trong tâm tưởng người đọc ấn tượng về sự gập ghềnh , hiểm trở , ẩn chứa bao bất trắc , nguy hiểm của núi cao , vực sâu nơi núi rừng miền Tây . Hình ảnh ” súng ngửi trời” là một nhân hóa táo bạo , đặc tả sự chót vót của dốc núi . Người lính Tây Tiến leo lên đỉnh dốc , cảm tưởng như mũi súng có thể chạm mây . Từ đó , ta cũng thấy được nét tinh nghịch khỏe khoắn , vẫn có thể trêu đùa vô tư sau một chặng đường hành quân vất vả , mệt nhọc của các anh lính Tây Tiến . Phép đối ” ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống” càng nhấn mạnh độ gập ghềnh , hình sông thế núi trập trùng , hiểm trở của thiên nhiên miền Tây . Ba câu thơ giàu chất hội họa , dựng lên bức tranh hoang vu , dốc đèo đứt nối , hùng vĩ trên con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến . Câu thơ thứ tư toàn bộ là bảy thanh bằng ” Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” , vần mở “ơi” đặt cuối câu tạo cảm giác nhẹ nhàng gợi ra những phút giây nghỉ ngơi thư giãn của người lính . Họ đứng trên những đỉnh núi , thưởng thức chút bình yên , vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng , phóng tầm mắt , thấy mưa rừng giăng mờ nơi bản làng Pha Luông xa xôi . Bốn câu thơ vừa gợi ra sự dữ dội hoang vu , sự êm đềm của núi rừng , vừa gợi ra những cuộc hành quân vất vả nhọc mệt nhưng đầy trẻ trung , yêu đời của các chàng trai Tây Tiến .

Người lính Tây Tiến không chỉ đối diện với dốc cao vực sâu mà còn phải chịu những mất mát hi sinh:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa , Gục lên súng mũ bỏ quên đời .

Cách nói tránh về cái chết “không bước nữa” , “bỏ quên đời” gợi tư thế ngạo nghễ của người lính Tây Tiến . Họ chủ động chấp nhận cái chết , coi nó chỉ đơn giản như một giấc ngủ mà thôi . Tư thế hi sinh ” gục lên súng mũ” đầy xót xa nhưng cũng thật hào hùng . Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy sau này ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam” : ” Và anh chết trong khi đang đứng bắn- Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng” . Câu thơ đã tiếp tục cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến .

Và người lính Tây Tiến tiếp tục chịu sự thử thách của núi rừng miền Tây :

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét , Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” .

Các từ láy chỉ biên độ lặp lại thường xuyên của thời gian” chiều chiều” , “đêm đêm” kết hợp với biện pháp nhân hóa ” thác gầm thét” , ” cọp trêu người” đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm , dữ dội ,hoang dã chứa đầy nguy hiểm , cái chết luôn luôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây . Sự nguy hiểm ấy không chỉ trải rộng trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên theo thời gian .

Hai câu thơ cuối đoạn lại đột ngột chuyển cảnh:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói , Mai Châu mùa em thơm nếp xôi .

Núi cao rừng rậm lùi xa , chỉ còn lại hương vị ấm áp nghĩa tình quân dân lan tỏa từ nồi cơm của các cô gái Thái . Từ cảm thán ” Nhớ ôi” đứng đầu câu thơ diễn tả nỗi nhớ da diết , ám ảnh khôn khuây của Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến về đồng bào miền Tây . Nhà thơ như nhói lòng khi hồi tưởng lại cảnh đoàn quân quây quần quanh nồi xôi nếp thơm lừng đang bốc khói . Đó là những giây phút ấm áp ngắn ngủi nhưng lại dịu ngọt , tinh tế nên khắc sâu mãi trong tâm trí nhà thơ . Cách kết hợp từ ” mùa em” rất độc đáo , gợi những liên tưởng đẹp , lãng mạn về những cô gái Thái vừa khỏe khoắn vừa dịu dàng mà đằm thắm yêu thương . Hai câu thơ kết thúc đoạn một bài thơ Tây Tiến có âm điệu nhẹ nhàng tha thiết gợi cảm giác êm dịu , ấm áp , tạo tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn thơ tiếp theo .

Trong những đoạn thơ còn lại , nhà thơ Quang Dũng tiếp tục hồi tưởng về cảnh những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân , những buổi chiều trên sông nước miền Tây thơ mộng , hư ảo , hồi tưởng về chân dung tập thể những người lính Tây Tiến anh dũng , hào hoa . Cuối bài thơ , Quang Dũng bộc lộ lời nguyện thề mãi gắn bó với miền Tây và đoàn quân Tây Tiến .

Đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến đã thể hiện tài hoa và tâm hồn lãng mạn phóng khoáng của nhà thơ Quang Dũng . Đoạn thơ có ngôn ngữ giàu chất tạo hình , giàu nhạc điệu , gây ấn tượng táo bạo , dựng lên bức tranh sinh động , có chiều sâu về cảnh hành quân của đoàn quân Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên rừng núi hùng vĩ thơ mộng miền Tây . Qua đó , ta cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc , nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ Quang Dũng về những ngày tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến – một thời mãi mãi để nhớ và tự hào .

Bài 2. Bài văn của em Lê Văn Dũng đã bình giảng khổ 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ, gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng hình sông núi:

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ…

Bình giảng khổ 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?

Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.

Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến như sau:

“Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.”

Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ.

Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.

Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc.

Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây , mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh nhữngngười lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.

Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.

Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc.

Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính , khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan thơ thứ hai.

Bạn đang xem bài viết Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!