Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Học: Các Phương Châm Hội Thoại # Top 11 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Học: Các Phương Châm Hội Thoại # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Học: Các Phương Châm Hội Thoại mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nội dung

I – PHƯƠNG CHÂM VỀ LƯỢNG 1. Đọc đoạn đối thoại sau và trả lời câu hỏi. An: – Cậu có biết bơi không? Ba: – Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi nữa. An: – Cậu học bơi ở đâu vậy? Ba: – Dĩ nhiên là ở dưới nước chứ còn ở đâu. Khi An hỏi “học bơi ở đâu” mà Ba trả lời “ở dưới nước” thì câu trả lời có đáp ứng điều mà An muốn biết không? Cần trả lời như thế nào? Từ đó có thể rút ra bài học gì về giao tiếp? 2. Đọc truyện cười sau và trả lời câu hỏi.

LỢN CƯỚI, ÁO MỚI Có anh tính hay khoe của. Một hôm, may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm. Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to: – Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không? Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra bảo: – Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả! (Theo truyện cười dân gian Việt Nam)

Vì sao truyện này lại gây cười? Lẽ ra anh có “lợn cưới” và anh có “áo mới” phải hỏi và trả lời thế nào để người nghe đủ biết được điều cần hỏi và cần trả lời? Như vậy, cần phải tuân thủ yêu cầu gì khi giao tiếp? Ghi nhớ Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiếu, không thừa (phương châm về lượng). II – PHƯƠNG CHÂM VỀ CHẤT Đọc truyện cười sau và trả lời câu hỏi.

QUẢ BÍ KHỔNG LỒ

Hai anh chàng đi qua một khu vườn trồng bí. Một anh thấy quả bí to, kêu lên: – Chà, quả bí kia to thật! Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng: – Thế thì đã lấy gì làm to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều. Có một lần, tôi tận mắt trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà đằng kia kìa. Anh kia nói ngay: – Thế thì đã lấy gì làm lạ. Tôi còn nhớ, một bận tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cả cái đình làng ta. Anh nói khoác ngạc nhiên hỏi: – Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to vậy? Anh kia giải thích: – Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà. Anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình bèn nói lảng sang chuyện khác. (Theo truyện cười dân gian Việt Nam)

Truyện cười này phê phán điều gì? Như vậy trong giao tiếp có điều gì cần tránh? Ghi nhớ Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực (phương châm về chất). III – LUYỆN TẬP 1. Vận dụng phương châm về lượng để phân tích lỗi trong những câu sau: a) Trâu là một loài gia súc nuôi ở nhà. b) Én là một loài chim có hai cánh. 2. Chọn từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống(a) (Đối với các bài tập điền chữ cái, dấu thanh, tiếng, từ ngữ,… vào chỗ trống trong Ngữ văn 9, học sinh chép lại và làm vào vở bài tập): a) Nói có căn cứ chắc chắn là /…/ b) Nói sai sự thật một cách cố ý, nhằm che giấu điều gì đó là /…/ c) Nói một cách hú hoạ, không có căn cứ là /…/

Soạn Văn Bài 2: Các Phương Châm Hội Thoại

Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu về một kiến thức mới, các phương châm hội thoại, qua bài học chúng ta sẽ biết được cách giao tiếp hiệu quả và tránh được một số lỗi giao tiếp thường gặp.

I. Phương châm về lượng

Câu 1: Khi An hỏi: “Học bơi ở đâu?” mà Ba trả lời: “Học bơi dưới nước” thì câu trả lời có đáp ứng được điều mà An muốn biết không? Cần trả lời như thế nào? Từ đó có thể rút ra bài học gì về giao tiếp.

Câu 2: Vì sao câu chuyện lại gây cười? Lẽ ra anh có “lợn cưới” và anh có “áo mới” phải hỏi và trả lời như thế nào để người nghe đủ biết được điều cần hỏi và trả lời? Như vậy, cần phải tuân thủ yêu cầu gì của giao tiếp?

Lời nói phải có thông tin; thông tin ấy phải phù hợp với mục đích giao tiếp.

Nội dung của lời nói phải đủ (không thiếu, không thừa).

II. Phương châm về chất

Câu 1: Truyện cười Quả bí khổng lồ phê phán điều gì? Như vậy trong giao tiếp có điều gì cần tránh?

III. Luyện tập

Câu 1: Các câu sau vi phạm phương châm về lượng như thế nào?

Câu 2: Hãy chọn các từ ngữ cho bên dưới để điền vào chỗ trống – (…) – trong các câu sau cho thích hợp:

Trả lời: a. Nói có căn cứ chắc chắn là: nói có sách, mách có chứng. b. Nói sai sự thật một cách cố ý nhằm che giấu điều gì đó là: nói dối. c. Nói một cách hú họa, không có căn cứ là: nói mò. d. Nói nhảm nhí, vu vơ là: nói nhăng nói cuội. e. Nói khoác lác, làm ra vẻ tài giỏi… là: nói trạng.

Câu 3: Đọc truyện cười Có nuôi được không và cho biết phương châm hội thoại nào không được tuân thủ

Trả lời: _ Người nói đã không tuân thủ phương châm về lượng. Vì nội dung câu hỏi là thừa vì nếu không nuôi được thì sao có sự ra đời của cậu bạn này.

Câu 4: Vận dụng những phương châm hội thoại đã học để giải thích vì sao người nói đôi khi phải dùng những cách diễn đạt như như tôi được biết tôi tin rằng ; nếu tôi không lầm thì ; tôi nghe nói ; theo tôi nghĩ ; hình như là…

Trả lời: Đôi khi người nói dùng: như tôi đã trình bày, như mọi người đều biết. Những cách nói này nhằm để đảm bảo phương châm về lượng. Mục đích có thể để nhấn mạnh ý, hay chuyển ý, dẫn ý, người nói cần nhắc lại một nội dung nào đó đã nói hay giả định là mọi người đã biết.

Câu 5: Giải thích thành ngữ:

Trả lời:

Ăn đơm nói đặt: cách nói không đúng sự thật nhằm vu khống, bịa đặt những điều không có cho người khác

Ăn ốc nói mò: Nói mà không có căn cứ

Ăn không nói có: Đặt điều nhằm vu khống

Cãi chày cãi cối: Sai nhưng vẫn cố cái những điều không có căn cứ

Khua môi múa mép: Nói khoác mà không có thông tin xác thực

Nói dơi nói chuột: nói lăng nhăng linh tinh, không xác thực.

Hứa hươu hứa vượn: Hứa hẹn nhưng không thực hiệnCác thành ngữ trên đều chỉ những trường hợp vi phạm phương châm về chất.

Phương Pháp Học Thơ Lục Bát Cho Học Sinh

Có ai đó nói rằng: Thơ là tiếng lòng được ngân lên khi nó đụng chạm tới cuộc sống. Thơ là tiếng nói của tâm hồn, tình cảm… Để lắng nghe được những “tiếng lòng” ấy thì việc đọc thơ là rất quan trọng.

Thơ lục bát thường được ngắt nhịp chẵn: 2/2/2; 2/4/2; hoặc 4/4… Điều cơ bản mà nhịp thơ lục bát gợi ra là sự thiết tha ngọt ngào. Chẳng hạn khi dạy bài “Ca dao yêu thương, tình nghĩa” cần phải đọc đúng nhịp để gợi ra được sự thiết tha trong tình cảm của những chàng trai, cô gái:

1. Ước gì / sông rộng một gang

Bắc cầu / dải yếm / để chàng / sang chơi.

2. Ước gì / anh hoá ra gương

Để cho / em cứ / ngày thường / em soi.

Để cho / em đựng / cau tươi / trầu vàng.

Học sinh cần được hướng dẫn phương pháp học thơ thích hợp

Tuy nhiên không phải lúc nào ở thể thơ này cũng được ngắt nhịp chẵn thông thường đó. Ở một số câu nằm trong dụng ý nghệ thuật của tác giả, cần lưu ý học sinh đọc đúng.

Người lên ngựa / kẻ chia bào

Rừng phong / thu đã nhuốm màu quan san.

Nhiều học sinh đã đọc sai, ngắt nhịp sai. Ở đây là khung cảnh chia li giữa Thuý Kiều – Thúc Sinh. Câu lục cũng như bị bẻ gãy làm đôi 3/3 thể hiện rõ sự chia biệt đó. Nếu học sinh đọc 2/2/2 là không đúng. Nhưng câu bát lại không thể ngắt nhịp 3/3/2 mà phải là 2/6. Nếu ngắt 3/3/2 dẫn đến cách hiểu “thu” không còn là chủ thể nữa mà trở thành định ngữ cho “rừng phong”.

Hay đoạn thơ diễn tả tâm trạng Thuý Kiều trong đêm trao duyên cho em là Thuý Vân:

Ngồi lên cho chị lạy / rồi sẽ thưa

Giữa đường / đứt gánh tương tư

Keo loan chắp mối tơ thừa / mặc em.

Sự ngắt nhịp ở đây cũng không còn đều đặn 2/2/2 như đặc trưng thể loại nữa. Các ngắt nhịp “cậy em” và “mặc em” đối lập 2/6 và 6/2 mà trọng tâm dồn vào để làm cho nhịp thơ trĩu xuống. Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nhấn mạnh và ngừng lâu ở các nhịp này để tạo ra một không khí trang trọng và thiết bị thuận lợi cho việc khai thác từ ngữ sau đó. Riêng dòng thơ sau phải hướng dẫn học sinh đọc cho đúng nhịp ngắt:

Ngồi lên cho chị lạy / rồi sẽ thưa.

Nhịp ngắt gây cảm giác không suôn sẻ nếu không muốn nói là hơi gượng gạo. Giá trị độc đáo của câu thơ chính lại ở chỗ đó. Song đây cũng là lý do giải thích tại sao hầu như không có học sinh nào đọc đúng nhịp ngắt này. Chính cái không bình thường ấy đã nói được phần nào cái quằn quại, đau đớn trong tình cảnh hết sức trớ trêu: yêu tha thiết mà vẫn buộc lòng phải khước từ tình yêu. Nhịp điệu không phải là tình cảm nhưng ngắt nhịp đúng chính là “đọc” được tình cảm, tâm trạng của con người trong câu thơ, bài thơ.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được làm theo thể lục bát. Tinh thần chính của toàn bài là ngắt nhịp chẵn. Tình nghĩa thuỷ chung gắn bó giữa người cán bộ miền xuôi với đồng bào Việt Bắc một phần được gợi ra bởi giai điệu da diết của bài thơ. Đây là một bài thơ khá dài, vì vậy cách tốt nhất là cho học sinh đọc và phân tích từng đoạn. Ở đoạn thơ diễn tả khung cảnh chia tay giữa Trung ương Đảng, Chính phủ với đồng bào Việt Bắc , câu cuối nhịp có khác:

Mình về / mình có nhớ ta /

Mười lăm năm ấy / thiết tha mặn nồng /

Mình về / mình có nhớ không /

Nhìn cây nhớ núi, / nhìn sông nhớ nguồn? /

Tiếng ai / tha thiết bên cồn /

Bâng khuâng trong dạ, / bồn chồn bước đi /

Áo chàm / đưa buổi phân li /

Cầm tay nhau / biết nói gì / hôm nay…

Câu “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” nếu ngắt 2/6 hoặc 4/4 thì câu thơ sẽ trở nên vô nghĩa. Trong buổi chia tay có nhiều điều muốn nói, nói sao cho thoả, đành dùng ngôn ngữ đôi bàn tay. Vì vậy khi ngắt nhịp 3/3/2 (cầm tay nhau/ biết nói gì / hôm nay) sẽ hiện lên sự ngập ngừng, dùng dằng, quyến luyến, bịn rịn giữa người đi – kẻ ở.

Hay như đoạn thơ sau, ta lại bắt gặp câu thơ có sự biến đổi nhịp 2/4 sang nhịp 3/3:

Ta với mình / mình với ta.

Câu thơ được chia tách làm hai vế. Hai đại từ mình – ta được đảo vị trí cho nhau tưởng rằng chia xa nhưng rất xoắn xuýt. Sự thay đổi nhịp điệu ở câu thơ này thể hiện rất rõ, rất dễ nhận ra.

Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống. Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ( khi muốn kể sự việc ) Ví dụ: ” Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.” Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép. +Có nhân vật : dì ghẻ, Tấm, Cám. +Có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em +Có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám +Có các câu trần thuật

Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người. Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả : Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc,… của người và sự vật ( tả người, tả cảnh, tả tình,….) Ví dụ: ” Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát“ ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy) Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng.

Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết. Nhận biết phương thức thuyết minh hơi rắc rối hơn chút : có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng,người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó. Ví dụ:Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan. Hoa lan đã được người phương Đông tôn là ” loài hoa vương giả ” (vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là ” nữ hoàng của các loài hoa “ Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục …. ( Trích trong SGK Ngữ văn lớp 10 ) Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu rõ về loài hoa này.

6. Hành chính công vụ :

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Bạn đang xem bài viết Bài Học: Các Phương Châm Hội Thoại trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!