Xem Nhiều 12/2022 #️ Bài Thơ Hiếm Về Liệt Sĩ Thiếu Nhi / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bài Thơ Hiếm Về Liệt Sĩ Thiếu Nhi / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Hiếm Về Liệt Sĩ Thiếu Nhi / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

LƯỢM

Ngày Huế đổ máu,

Chú Hà Nội về,

Tình cờ chú cháu,

Gặp nhau Hàng Bè.

Chú bé loắt choắt,

Cái xắc xinh xinh,

Cái chân thoăn thoắt,

Cái đầu nghênh nghênh,

Ca-lô đội lệch,

Mồm huýt sáo vang,

Như con chim chích,

Nhảy trên đường vàng…

– “Cháu đi liên lạc,

Vui lắm chú à.

Ở đồn Mang Cá,

Thích hơn ở nhà!”

Cháu cười híp mí,

Má đỏ bồ quân:

– “Thôi, chào đồng chí!”

Cháu đi xa dần…

Cháu đi đường cháu,

Chú lên đường ra,

Ðến nay tháng Sáu,

Chợt nghe tin nhà.

Ra thế,

Lượm ơi!

Một hôm nào đó,

Như bao hôm nào,

Chú đồng chí nhỏ,

Bỏ thư vào bao,

Vụt qua mặt trận,

Ðạn bay vèo vèo,

Thư đề “Thượng khẩn”,

Sợ chi hiểm nghèo!

Ðường quê vắng vẻ,

Lúa trổ đòng đòng,

Ca-lô chú bé,

Nhấp nhô trên đồng…

Bỗng lòe chớp đỏ,

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ,

Một dòng máu tươi!

Cháu nằm trên lúa,

Tay nắm chặt bông,

Lúa thơm mùi sữa,

Hồn bay giữa đồng.

Lượm ơi, còn không?

Chú bé loắt choắt,

Cái xắc xinh xinh,

Cái chân thoăn thoắt,

Cái đầu nghênh nghênh,

Ca-lô đội lệch,

Mồm huýt sáo vang,

Như con chim chích,

Nhảy trên đường vàng…

1949

(Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003)

QĐND – Tố Hữu (1920 – 2002) là nhà thơ cách mạng hàng đầu của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Ngoài nhiệm vụ chính của người lãnh đạo văn hóa, văn nghệ… ông sáng tác thơ, để lại một di sản thi ca với 6 tập:  Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa và Một tiếng đờn với tổng số xấp xỉ 250 bài thơ. Thơ ông là thơ cách mạng, đọc các tập thơ của ông, bạn đọc biết được từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam.  Lượm là bài thơ in trong tập Việt Bắc, tập thơ viết về 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thế kỷ 20 đặt lên vai dân tộc ta nhiệm vụ nặng nề là phải kháng chiến chống lại các thế lực xâm lược. Khi nước yếu, lạc hậu phải chống lại thế lực ngoại xâm hùng mạnh, muốn thắng lợi, chúng ta phải tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân và toàn diện. Toàn diện là nhiều mặt, không chỉ quân sự mà còn kinh tế, ngoại giao… Toàn dân là mọi người cùng tham gia, không phân biệt giới tính, tuổi tác, đẳng cấp xã hội… Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xảy ra, không chỉ thanh niên lên đường nhập ngũ, mà có hàng ngàn em thiếu nhi gia nhập thiếu sinh quân, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cuộc kháng chiến, có nhiều em đã tham gia các cuộc hành quân, chiến đấu cùng bộ đội. Tôi nhớ, hồi ấy trong ngày sinh của Bác Hồ, đã có em thiếu sinh quân làm thơ gửi Bác: “Bác Hồ ơi/ Cháu là em bé phương xa/ Theo anh vệ quốc xa nhà từ lâu/ Cháu qua sông Đuống, sông Cầu/ Phủ Thông, Đèo Khách, An Châu, Lũng Vài/ Qua bao vực thẳm núi dài/ Giúp anh vệ quốc đánh loài thực dân…”. Liên lạc là nhiệm vụ chính các em tham gia, bài thơ này giúp ta hiểu thêm công việc và ý nghĩ của các em khi gánh vác nhiệm vụ đó.

Minh họa: PHÙNG MINH.

Bài thơ là một câu chuyện về một em liên lạc tên Lượm. Nhà thơ Tố Hữu quê ở Thừa Thiên – Huế, nhưng trong cuộc chiến tranh chống Pháp, phần lớn thời gian ông ở chiến khu Việt Bắc. Trong cuộc kháng chiến đó, Thanh Nghệ Tĩnh là vùng tự do, nhưng Bình Trị Thiên khói lửa. “Ngày Huế đổ máu” tác giả nêu đầu bài thơ, cũng là khoảng đầu cuộc chiến tranh, tác giả về quê mình (chắc là vì nhiệm vụ) có gặp em Lượm liên lạc ở Hàng Bè, tin là một địa danh của Huế. Hình ảnh lanh lợi, nhí nhảnh, vui tươi của em được khắc họa trong trí nhớ:

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh,

Thời kháng chiến chống Pháp, máy truyền tin của ta rất hiếm, phần lớn chỉ thị, mệnh lệnh đều do người chuyển tới. Người làm nhiệm vụ chuyển tin đó gọi là liên lạc. Thiếu nhi làm nhiệm vụ liên lạc có nhiều cái lợi: Các em đi từ nơi nọ đến nơi kia nhanh không kém người lớn, hơn nữa khi gặp nguy hiểm, như gặp địch, thì chỉ cần giấu tài liệu đi là được an toàn, không bị bắt như khi người lớn làm nhiệm vụ này gặp địch. Bởi vậy, thời chống Pháp, nhiều em thiếu nhi làm nhiệm vụ liên lạc trong các đơn vị của ta.

Nhiều bạn đọc ngày nay không hiểu cái xắc là gì trong câu “cái xắc xinh xinh”. Đó là loại túi may bằng vải hoặc đan bằng mây để đựng quần áo hoặc tài liệu, công văn. Trong bài thơ “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung, có câu : “Cái xắc mây anh mang/ Em nách mo cơm nếp”, thì cái xắc làm “chức năng” của chiếc ba lô. Còn “cái xắc xinh xinh” của Lượm, tin chắc có thêm chức năng đựng công văn, tài liệu để chuyển từ nơi gửi đến nơi nhận. Trong trí nhớ và dưới ngòi bút của Tố Hữu, hình ảnh Lượm thật sống động và cũng rất trẻ con:

“Cháu đi liên lạc

Vui lắm chú à.

Ở đồn Mang Cá,

Thích hơn ở nhà!”.

Mang Cá là đồn do thực dân Pháp xây ở Huế, sau Cách mạng Tháng Tám, đó là nơi đóng quân của ta. Em Lượm làm nhiệm vụ liên lạc cũng ở trong đồn với các chú bộ đội, và cảm thấy “thích hơn ở nhà”, một sự so sánh hết sức trẻ con, chứng tỏ đồn Mang Cá là nơi đầu tiên cháu ở sau khi xa nhà. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà tác giả nhớ lại hình ảnh của Lượm trong lần gặp gỡ ấy, mà vì nghe tin nhà báo cháu Lượm đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ chuyển lá thư “Thượng khẩn” đến nơi cần gửi. Các thư từ, công văn, mệnh lệnh… ngoài phong bì người ta thường ghi các chữ “Hỏa tốc”, “Thượng khẩn”… để cho người vận chuyển biết và chuyển tới nơi nhận một cách nhanh nhất, bất chấp hiểm nguy: “Thư đề “Thượng khẩn”/ Sợ chi hiểm nghèo”. Nhưng đó là chuyến công tác cuối cùng của Lượm, vì đạn giặc đã giết em khi đi ngang đồng. “Đường quê vắng vẻ/ Lúa trổ đòng đòng”, vắng vẻ nhưng không phải yên bình, có thể là sự vẳng vẻ của những trận phục kích, bởi thế nên “Ca lô chú bé/ Nhấp nhô trên đồng” là mục tiêu của súng giặc. Hình ảnh hy sinh của liệt sĩ thiếu nhi được nhà khắc họa bằng cả tấm lòng yêu thương:

Cháu nằm trên lúa,

Tay nắm chặt bông,

Lúa thơm mùi sữa,

Hồn bay giữa đồng.

Lúa mới trỗ còn thơm mùi sữa, là nơi Lượm kết thúc cuộc đời thơ trẻ của mình.

Lượm ơi còn không?

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh…

Có một số bạn đọc thắc mắc phần kết này của bài thơ vì nghĩ rằng tác giả đã biết Lượm hy sinh rồi, sao lại còn hỏi vậy. Thực chất đó không phải là một câu hỏi chờ câu trả lời, mà là một cách để nói rằng hình ảnh sống động của chú bé liên lạc vẫn in dấu trong lòng tác giả, không thể nào phai nhạt được.

Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, nhiều em nhỏ đã lập công và hy sinh, nhưng có lẽ đây là bài thơ hiếm hoi viết về liệt sĩ thiếu nhi. Về hình thức nghệ thuật, nhà thơ Tố Hữu thường viết các thể thơ truyền thống (thơ lục bát, thơ bảy, tám chữ, thơ năm chữ) và thể thơ tự do, nhưng đây là bài thơ có số chữ trong câu ngắn nhất, thơ bốn chữ. Không phải ngẫu nhiên, mà là sự chọn lựa có chủ ý của tác giả, nhằm để diễn tả sự lanh lợi, sinh động của chú bé liên lạc. Trong tập Từ ấy, Tố Hữu đã có một số thơ viết về trẻ em, như bài “Phước ơi”, “Hai đứa bé”… để nói tình cảm của mình với những đứa trẻ có cuộc đời bất hạnh, tác giả sử dụng thơ bảy, tám  chữ: “Rứa là hết chiều nay em đi mãi/ Còn mong chi ngày trở lại, Phước ơi…” hay: “Tôi không muốn mờ anh đi xa lạ/ Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn…”. Nhưng với em bé liên lạc nhí nhảnh, thoắt đó, thoắt đây thì xem ra thể thơ bốn chữ  “đắc địa” hơn cả. Nhà thơ Tố Hữu là người có thói quen sửa chữa lại thơ mình khi đã in báo hoặc xuất bản thành sách. Bài thơ Lượm này ở lần in trước không phải giống hệt như thế này, cụ thể là không phải chỉ toàn thơ bốn chữ, nhưng qua nhiều lần sửa chữa, tác giả dừng lại thể thơ bốn chữ như trong văn bản chính thức có trong tập Việt Bắc ta từng quen biết.

VƯƠNG TRỌNG

Liệt Sĩ Lê Anh Xuân: Nhà Thơ, Người Chiến Sĩ / 2023

Trong những lớp nhà thơ trẻ xuất hiện từ những năm tháng chống Mỹ cứu nước, Lê Anh Xuân là một tác giả được đông đảo bạn đọc yêu thơ chăm chú theo dõi với một cảm tình đặc biệt.

Vốn xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống, yêu văn học và làm thơ từ nhỏ, ngay từ những bài thơ đầu tiên ra mắt người đọc Lê Anh Xuân đã được đánh giá cao. Bài thơ “Nhớ mưa quê hương” được giải Nhì cuộc thi thơ do tạp chí Văn nghệ tổ chức năm 1960 đã đánh dấu những thành công bước đầu của anh.

Lê Anh Xuân đại diện cho một thế hệ thanh niên say mê lý tưởng, chiến đấu hy sinh vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng. Mặc dù chỉ sống vỏn vẹn 28 năm, nhưng 28 năm đó anh đã cùng dân tộc nếm trải hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ. Những biến động của lịch sử góp phần hoàn thiện thêm hồn thơ và lòng yêu nước trong người thanh niên trẻ tuổi. Thơ anh và chính cuộc đời anh đều thể hiện sự gắn bó máu thịt với quê hương đất nước, với nhân dân, với đồng đội. Có thể nói anh là người ghi lại lịch sử bằng thơ. Lịch sử đấu tranh anh hùng của dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ được anh phản ánh một cách sinh động, trong đó nổi bật là hình ảnh quê hương Bến Tre và những người đã dũng cảm ngã xuống vì sự trường tồn của Tổ quốc. Dù chưa đủ thời gian và điều kiện để rèn luyện, gọt giũa, tạo nên những đột phá mới cho thơ nhưng với hai tập thơ chính “Tiếng gà gáy”, “Hoa dừa” và tập trường ca “Nguyễn Văn Trỗi” đã đủ để chúng ta thấy được một phong cách riêng, một tiếng thơ say sưa trong trẻo ngợi ca đất nước, một giọng điệu nhỏ nhẹ tâm tình mà không kém phần sâu sắc.

Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc. Có thể nói 10 năm sống ở miền Bắc đã để lại dấu ấn sâu sắc trong anh. Miền Bắc thân

yêu cũng là chất liệu và là cảm hứng chính để anh viết nên tập thơ đầu tiên – “Tiếng gà gáy”, tập thơ chủ yếu viết về miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lê Anh Xuân có những cảm xúc say sưa, ngỡ ngàng trước cuộc sống bộn bề sôi động, trước bao đổi thay nhanh chóng của cuộc sống. Hiện lên trong thơ anh là những công trường, những con đường, những vùng đất, những mùa gặt… cuộc sống mới đang thay da đổi thịt từng ngày. Sự chuyển mình của miền Bắc thật mạnh mẽ và đầy chất thơ. Bất cứ nơi nào đặt chân đến ta cũng có thể nhìn thấy sự “bừng nở” của cuộc sống mới:

“Thái Nguyên bừng nở khu gang thép

Việt Trì khói trắng như mây trôi…”

Anh “Lên Bắc Sơn”

chứng kiến sự đổi thay nhanh chóng, xuống “Đêm Uông Bí” tưng bừng ánh điện công trường, vui mừng trước “Con đường cũ” giờ thênh thang rộng mở, tấp nập những đoàn xe qua lại… Tình yêu của Lê Anh Xuân với miền Bắc được thể hiện trực tiếp, rất sôi nổi và hào hứng:

“Miền Bắc ơi! Sao tôi yêu quá!

Như yêu em, yêu má, yêu ba

Xa quê hươn,g miền Bắc là nhà

Tôi như lá xanh chen trong cành biếc”.

(Mười năm)

Có thể nói tình cảm trong trẻo, trẻ trung đã tạo nên sức lôi cuốn đ

ặc biệt cho tập thơ đầu tay, cũng như cho bài thơ được giải báo Văn Nghệ – “Nhớ mưa quê hương” của anh. Bài thơ tuy giản dị, nhưng là những tình cảm tha thiết và chân thực, thuần khiết và sâu sắc về quê hương:

“Mưa cuốn đi rồi

Mưa chảy xuống dòng sông quê nội

Sóng nước quê hương dào dạt chảy về khơi

Chở những kỷ niệm xưa, chìm lắng bốn phương trời

Và ta lớn tình yêu hoà bể rộng

Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống

Nay vỗ lòng ta rung đ

ộng cả trăm sông.”

Trong tập “Tiếng gà gáy”, ngoài hình ảnh miền Bắc luôn thường trực, hồn thơ Lê Anh Xuân còn luôn hoài niệm, nhớ nhung, ưu tư về miền Nam, về quê nội, về hàng dừa trước ngõ, về những

đêm mưa, những dòng sông mà tuổi thơ anh đã từng tắm mát. Nỗi nhớ thương miền Nam vô hạn đã được thể hiện ngay trong những bài thơ day dứt viết trên quê hương miền Bắc:

“Mưa vẫn đang trút nước

Gió vẫn đạp cửa phò

ng

Quê hương có mưa không?”

(Đê

m mưa)

Lòng thương miền Na

m chưa được giải phóng đã khiến anh khao khát được “Trở về quê nội” để tham gia chiến đấu (“Ôi ta thèm được cầm khẩu súng. Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè. Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng. Ta say nồng mùi lá rụng bờ tre”). Tập thơ “Hoa dừa” được anh viết trong thời gian làm việc và chiến đấu ở miền Nam. Trực tiếp cọ xát với hiện thực, trực tiếp tham dự, chứng kiến hiện thực khốc liệt mà anh dũng, cảm hứng về quê hương đất nước của Lê Anh Xuân được phát triển lên một tầm độ mới. Không còn là những tưởng tượng, nhớ nhung trong xa cách, những bài thơ giờ đây có khói lửa của cuộc chiến, có cái chết của những anh hùng, có sự gồng mình lên của toàn dân tộc. Những nghĩ suy, những ý tưởng được trải nghiệm qua thực tế trở nên sâu sắc và chín chắn hơn. Tập thơ ghi lại những chặng đường mà nhà thơ đã đi qua, đó là những miền đất (“Qua ấp Bắc”; “Nhìn về An Đức”, “Anh đứng giữa Tháp Mười”, “Mùa xuân Sài Gòn”, “Mùa xuân chiến thắng”…); những người anh hùng mà nhà thơ đã gặp, đã nghe thấy (“Gửi anh Tư”, “Gặp những anh hùng”, “Bài thơ Áo trắng”, “Em gái đưa đò”, “Lão du kích”, “Người mẹ trồng bông”…). Tập thơ bộc lộ sự ngỡ ngàng, khâm phục, tự hào trước những đổi thay kỳ diệu và sự anh dũng của miền Nam.

Là một nhà thơ – chiến sĩ, thơ Lê Anh Xuân thể hiện cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Anh tốt nghiệp Khoa Lịch sử, và có thể đó là một lý do đ

ể giải thích cảm hứng lịch sử nồng đậm trong thơ anh. Những vùng đất, những con người dù vô danh hay hữu danh đều mang tư thế và tầm vóc lịch sử. Trong thơ anh không có hình ảnh của cá nhân, tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất nhà thơ đều dành cho đất nước. Dù có “ta yêu em”, có hình ảnh anh, em, có bao cung bậc cảm xúc của tình yêu …thì tất cả đều là hiện thân của hình ảnh đất nước:

“Yêu biết mấy khi nghe em hát

Tiếng của em – tiếng quê hương bát ngát

Tiếng của đồng bào đồng chí chúng ta

Trong đau thương vẫn cất lời ca.”

(Ta yêu em)

Cái tôi nhà thơ đã hoà chung với cái ta dân tộc. Anh muốn dựng lên những dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ. Hình ảnh anh giải phóng quân hy sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất trong bài thơ cuối cùng “

Dáng đứng Việt Nam” như một tượng đài hùng vĩ hiện lên trên cái nền bát ngát của không gian Tổ quốc và thời gian thế kỷ. Anh là biểu tượng của dáng đứng Việt Nam:

“Anh tên gì hỡi anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng

im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân anh giẫm lê

n bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì

cho riêng anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc và

o thế kỷ

Anh là chiến sĩ giải phóng quân”.

Cũng như anh chiến sĩ trong thơ, ngoài khẩu súng và một tập nhật ký chiến trường, Lê Anh Xuân không mang theo gì cho riêng mình. Đ

ồng đội liệm anh trong cánh võng, cánh võng theo anh đi suốt chặng đường Nam Bắc vượt Trường Sơn. Ngoài anh giải phóng quân, ta còn bắt gặp rất nhiều anh hùng trong thơ Lê Anh Xuân. Đó là một mảng đề tài anh tâm huyết và dành rất nhiều tình cảm. Đến dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ I (5.1965) anh viết “Gặp những anh hùng”. Bài thơ tuy còn dàn trải nhưng cảm xúc hồ hởi, trẻ trung, tự hào, say mê yêu nước thì như muốn tràn ra khỏi con chữ:

“Tôi ngồi giữa bốn bề đỏ rực

Giữa những chiếc hoa trên ngực anh hùng

Thấy mặt mình hồng thêm sắc đỏ

Thấy ngày mai rực rỡ trời hồng”.

Sau “Gặp những anh hùng”, Lê Anh Xuân còn khắc họa các anh hùng như Nguyễn Văn Tư (“Gửi anh Tư”), anh hùng Huỳnh Việt Thanh (“

Anh đứng giữa Tháp Mười”), chị Nguyễn Thị Châu (“Bài thơ áo trắng”), “Em gái đưa đò”, “Ông lão du kích”, “Người mẹ trồng bông”, mười hai cô gái Bến Tre lấy vai đỡ cầu cho bộ đội qua sông (“Qua cầu”), “Cô xã đội”… Có thể nói, Lê Anh Xuân biết ơn và khâm phục tất cả những con người đã cống hiến sức mình cho đất nước. Anh biết chính những con người anh dũng vô song, chính tầm vóc của miền Nam, của dân tộc ta trong thời đại đánh Mỹ ấy đã nâng cánh cho hồn thơ anh. Anh làm thơ về họ như một sự tri ân, như sự ghi chép hối hả cho kịp với những chiến công để “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”, để dáng đứng của họ được tạc vào lịch sử. Vậy nên, anh làm thơ trước hết không phải để cho thơ, thơ với anh là vũ khí, là sự cổ vũ chiến đấu, là sự ghi nhận công lao của tất cả những con người Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Trên cơ sở cảm hứng lãng mạn sử thi, Lê Anh Xuân rất có ý thức phát hi

ện, khái quát những phẩm chất cao đẹp của dân tộc. Một số bài ở tập “Hoa dừa” đã mang giọng “trữ tình lớn”, thể hiện khá rõ xu hướng này trong thơ anh (“Không ở đâu như ở miền Nam”, “Gửi miền Bắc”, “Chào Hà Nội”, “Chào Thăng Long”). Bài thơ cuối đời “Dáng đứng Việt Nam” có lẽ là bài thơ tiêu biểu trong quá trình vận động tư duy nghệ thuật đó. Mặt khác, Lê Anh Xuân luôn tìm tòi những hình thức thể loại để cố gắng thể hiện khái quát nhất, xứng đáng với tầm vóc của con người Việt Nam vĩ đại trong chiến đấu. “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” là một thể nghiệm thành công của anh trong thể loại trường ca – thể loại có khát vọng ghi lại những chiến công, những con người anh hùng mang tầm dân tộc. Chất hùng ca và tình ca trong tập trường ca này đã hoà quyện và được thể hiện một cách xúc động. Tuy thuật lại câu chuyện có thật nhưng bút pháp của tác giả ở đây thiên về lãng mạn hoá; và dù chưa thật đa dạng, biến hoá trong giọng điệu thơ, dù có những đoạn kể lể dài dòng nhưng bản trường ca về người anh hùng đã lôi cuốn người đọc bởi chính cuộc đời anh, cũng như bởi cảm xúc dạt dào, tình cảm chân thành của tác giả. Chúng ta hiểu vì sao hay nhất trong bản trường ca là những đoạn ca ngợi Tổ quốc giàu đẹp, những đoạn viết về mối tình trong sáng, thuỷ chung, về tình yêu quê hương Thu Bồn của người anh hùng bất tử. Trường ca “Nguyễn Văn Trỗi” là tác phẩm chứng tỏ sự tìm tòi sáng tạo nghệ thuật không ngừng của Lê Anh Xuân ngay cả trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ. Hơn nữa, nó thể hiện tư duy có xu hướng khái quát hoá về nội dung và hình thức trong thơ anh cũng như trong nền thơ ca chống Mỹ nói chung.

Từ “Tiếng gà gáy”

đến “Hoa dừa”, từ truyện ký “Giữ đất” đến trường ca “Nguyễn Văn Trỗi”, cảm hứng chủ đạo của Lê Anh Xuân vẫn là tình yêu quê hương đất nước quyện chặt với tình yêu nhân dân và lý tưởng cách mạng. Trong thơ Lê Anh Xuân có lúc trong nỗi nhớ (“Nhớ dừa”), có lúc trên đường chiến đấu (“Dừa ơi”, “Đuốc lá dừa”), có lúc trong suy tưởng (“Hoa dừa”), nó cho ta thấy tình cảm sâu sắc của nhà thơ với mảnh đất mà mình đã sinh ra. Hình ảnh dòng sông và mưa quê hương gắn với hồn thơ trong trẻo đầy sức sống của Lê Anh Xuân. Đó là những kỷ niệm, là những giọt nước tắm mát tâm hồn, là những niềm hy vọng đang thắp sáng.

Lê Anh Xuân là nhà thơ tiêu biểu cho cảm hứng sử thi cách mạng. Anh đã cất tiếng ca tươi trẻ ngợi ca Tổ quốc anh hùng. Dù chưa đ

ủ thời gian để hoàn thiện thêm, để những bài thơ mang tầm triết lý cao hơn, dù sự nghiệp vẫn còn dang dở, anh vẫn chưa nói hết được những gì muốn nói, nhưng trong dòng văn học cách mạng nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, anh vẫn có một vị trí không thể thay thế. Anh đã đặt nền móng vững chắc cho một lớp nhà thơ hùng hậu sau này như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo có được những cách tân mới cho thơ. Đồng thời, cùng với hình tượng con người Việt Nam anh dũng, thông điệp của anh đã đến được với nhân loại. Theo bài báo “Thơ Việt Nam khởi sắc ở châu Á”(1), Lê Anh Xuân đã được giới thiệu trên tạp chí Shi Phyeong (Thi bình), một tạp chí chuyên về thơ và các thành tựu thi ca châu Á cấp tiến ở Hàn Quốc. Trong các từ điển và các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam anh cũng luôn có một chỗ đứng xứng đáng. Khi nhớ về Lê Anh Xuân, GS. Vũ Dương Ninh đã nói: Nếu kể đến một người học trò cụ thể mà tôi nhớ nhất, đó là trường hợp Ca Lê Hiến, tức nhà thơ – liệt sĩ Lê Anh Xuân. Lê Anh Xuân học rất giỏi, thông minh, được giữ lại làm giảng viên Bộ môn Lịch sử thế giới, chuyên về lịch sử văn hoá Hy Lạp, La Mã. Những năm 60, Anh Xuân vào Nam công tác theo nhiệm vụ được phân công và hy sinh trong đó. Đến nay, Khoa Lịch sử vẫn tự hào vì có người học trò – nhà thơ – liệt sĩ này.(2)

Tác Phẩm,“Kêu Gọi Thiếu Nhi” / 2023

(Cadn.com.vn) – Ngày 5-6-1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. 30 năm sau, vào những ngày đầu tháng 2-1941, Bác trở về nước. Trong bộn bề việc nước, Bác vẫn luôn dành cho mọi lớp người, nhất là các cháu thiếu niên và nhi đồng những tình cảm đặc biệt với niềm kỳ vọng lớn lao. Trong những bài viết của Người gửi cho các cháu, có bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” – bài thơ đầu tiên Bác viết cho thiếu nhi Việt Nam đăng trên Báo Việt Nam độc lập (Báo Việt Lập) vào ngày 21-9-1941.

Bài thơ 20 câu được Bác viết theo thể thơ lục bát, thể thơ dân tộc, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ hiểu. Mở đầu bài thơ là sự liên tưởng độc đáo về sự thơ ngây, trong sáng của trẻ em: “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Quả thực, trẻ em như búp non xanh, nếu được nâng niu, chăm sóc thì búp non sẽ có điều kiện đâm chồi, nảy nụ, còn trẻ em thì có điều kiện phát triển trở thành người có ích cho xã hội.

Thế nhưng đau thay, trẻ em nước ta vào thời điểm đó đang phải sống trong cái cảnh lầm than nô lệ, một cổ đôi tròng thì làm sao giống được như búp non trên cành?! Vì thế mà giọng thơ đột ngột chuyển thể hiện tình cảm ngậm ngùi, thương cảm: “Chẳng may vận nước gian nan/Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”. Tất nhiên, trong cái nhục mất nước, trong cái cảnh lầm than nô lệ, cái thiệt thòi đầu tiên mà trẻ em phải gánh chịu là không được giáo dục, không được học hành; sau đó là đói cơm, rách áo.

Ai mà chẳng đau lòng, xót xa trước cảnh: “Học hành giáo dục đã không/Nhà nghèo lại phải làm công cày bừa/Sức còn  yếu, tuổi còn thơ/Mà đã khó nhọc cũng như người già/Có khi lìa mẹ lìa cha/Để làm tôi tớ người ta bên ngoài”. Lời thơ cô đọng, nhưng hiển hiện trước ta là một thực tế hiển nhiên về cái cảnh lầm than cơ cực của trẻ em trong cơn gian nan của vận nước. Vì ai nên nỗi thế này? Một câu hỏi bật ra? Những lời giải đáp đã có “sẵn”: “Vì giặc Nhật, vì giặc Tây bạo tàn/ Khiến ta mất nước nhà tan/Trẻ em cũng bị cơ hàn xót xa”.

Không chỉ vạch ra nguyên nhân mà Bác còn chỉ rõ ra rằng: Muốn xóa bỏ được cảnh cơ cực lầm than, muốn bẻ gãy gông xiềng nô lệ, muốn không còn chịu cảnh phải “lìa mẹ, lìa cha” và thoát cảnh “làm tôi tớ người ta bên ngoài”, thì trẻ em cũng như người lớn, không còn sự chọn lựa nào khác là “Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh”, đấu tranh để giành quyền sống, quyền làm người, quyền được có cơm ăn, áo mặc và quyền được học hành.

 Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm  và chúc Tết đồng bào và bộ đội. Tết Đinh Mùi. Tháng 2-1967.

Với các em thì “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/Tùy theo sức của mình” mà chung tay góp phần tăng cường sức mạnh đoàn kết,  đấu tranh đánh Nhật, đuổi Tây. Lời thơ mộc mạc chân tình ấy đã trở thành ngọn lửa truyền kỳ động viên lớp lớp thiếu nhi hăng hái tham gia Hội Nhi đồng cứu quốc, bởi “Nhi đồng cứu quốc hội ta/Ấy là lực lượng ấy là cứu tinh/Ấy là bộ phận Việt Minh/Dân mình khắc cứu dân mình mới xong” (Trẻ chăn trâu- Báo Việt Lập, 21-11-1942). Đọc những vần thơ của Bác không chỉ các em mà cả người lớn cũng thấy trách nhiệm của mình là phải làm gì để cho con em mình không phải sống trong cảnh nô lệ, mất nước, lầm than; để tất cả các em được ăn, được ngủ, được cắp sách tới trường học chữ, học làm người.

Bài thơ kết thúc bằng một lời khẳng định thấm đượm tính nhân văn, tràn đầy lòng nhân ái và tình yêu thương vô bờ bến của Người: “Bao giờ đuổi hết Nhật, Tây/Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”. Chính vì lẽ đó mà bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” đã trở thành dấu mốc quan trọng của thơ ca Việt Nam viết về thiếu nhi từ trước đến bây giờ thể hiện một tình thương yêu bao la, một trách nhiệm to lớn đối với thế hệ trẻ.

Nguyễn Thị Thọ

Thơ Thiếu Nhi Chọn Lời Bình: Lời Mẹ Ru / 2023

Bài thơ “Lời mẹ ru” đạt giải C lần thứ 10 cuộc thi Viết -Vẽ tuổi học trò của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp, lớp 7/1 trường trung học cơ sở Lê Văn Thiêm, được in trong cuốn sách” Cánh Diều mơ ước”. Chúng ta sẽ tiếp cận với bài thơ này qua lời bình của tác giả Nguyễn Văn Thanh.

Như làn hương dịu ngọt Như ngọn gió mát trong Tuổi thơ ấu của con Ngập tràn lời ru ấy Những trưa hè nắng cháy Hay đêm đông u buồn Mẹ gạt nỗi lo toan Ru giấc con yên ả Lời thiết tha dào dạt Ngân lên từ trái tim Con tìm thấy yêu thương Đong đầy trong câu hát Thời gian mang đổi khác Con đã lớn thêm nhiều Lòng vẫn mãi dấu yêu Lời mẹ ru thuở ấy

Nguyễn Thị Ngọc Diệp

Lời ru của mẹ (Minh họa: Hà Mi)

Và đây là : “Những trưa hè nắng cháy/ hay đêm đông u buồn/ mẹ gạt nỗi lo toan/ ru giấc con yên ả.” Đối với người mẹ không có khó khăn trở ngại nào có thể ngăn cản bà chăm cho giấc ngủ con mình dù đó là nóng, rét, buồn, lo. Đó là bộn bề công việc nhà nông hay trăm công ngàn chuyện trong công sở người mẹ vẫn luôn lo tròn giấc ngủ con mình với lời ru ngọt ngào từ cõi lòng sâu thẳm. Lời ru đó “thiết tha dào dạt/ ngân lên từ trái tim/ con tìm thấy yêu thương/ đong đầy trong câu hát”. Trong khổ thơ này bạn Ngọc Diệp của chúng ta đã biết vận dụng những ngôn ngữ tinh tế có sức truyền cảm và giá trị nghệ thuật cao để diễn đạt lời ru. Đó là “ngân lên” đó là “tìm thấy” và đặc biệt hai từ “đong đầy”xuất hiện từ độ chín của cảm xúc khẳng định bạn Ngọc Diệp của chúng ta dẫu tuổi đời còn rất nhỏ đã dùng vốn ngôn ngữ của mình, sáng tạo để chuyển tải vào khổ thơ thứ ba một cách hiệu quả, có sức lay thức cao với những người cảm nhận nó. Bài thơ “Lời mẹ ru” là niềm xúc cảm dâng trào, là những sợi dây đàn nằm sâu thẳm trong tâm hồn tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp bất chợt rung ngân với rất nhiều cung bậc cho mọi người cùng thưởng thức nó. Bài thơ để lại trong tôi và các em nhỏ yêu thơ một nỗi bồi hồi xúc động khó tả và không ai bảo ai cùng ngược dòng kí ức tìm về những kỉ niệm thiêng liêng thời thơ ấu”lòng vẫn mãi dấu yêu/lời mẹ ru thuở ấy”.

. . . . .

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Hiếm Về Liệt Sĩ Thiếu Nhi / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!