Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Thơ “Quảng Nam” Trị Giá 700 Triệu Của Hoài Linh Được Phổ Nhạc # Top 4 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Thơ “Quảng Nam” Trị Giá 700 Triệu Của Hoài Linh Được Phổ Nhạc # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ “Quảng Nam” Trị Giá 700 Triệu Của Hoài Linh Được Phổ Nhạc mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài thơ “Quảng Nam” của Hoài Linh được nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương phổ nhạc với nhiều xúc động.

Tối 13/9, trao đổi với PV, nhạc sĩ Hà Chương cho biết anh nảy sinh ý tưởng phổ nhạc cho bài thơ Quảng Nam của danh hài Hoài Linh sau khi xem chương trình âm nhạc Cảm ơn tổ chức tại Trung tâm Ca nhạc nhẹ TP.HCM.

“Tôi vô cùng xúc động khi nghe những lời thơ chân tình của anh Hoài Linh. Sau khi chương trình kết thúc, tôi đã ngay lập tức lên mạng, tìm lại nội dung bài thơ và thức cả đêm để nghĩ giai điệu cho bài hát”, anh chia sẻ.

Bài thơ có giá 700 triệu đồng của Hoài Linh được nhạc sĩ Hà Chương phổ nhạc.

“Trong bài hát, ngoài những đoạn thơ sử dụng tác phẩm của anh Hoài Linh, tôi có thêm thắt một số câu hát để thể hiện trọn vẹn ý nghĩa. Tôi cố gắng làm một cách chỉn chu khi ca khúc lên sóng”, nhạc sĩ Hà Chương nói.Nhạc sĩ Hà Chương tiết lộ anh tự mình hoàn thành tất cả các khâu trong bài hát như hòa âm, phối khí, đánh đàn bầu. Sau khi hoàn thành ca khúc, anh đổi tên thành Quảng Nam – Đất nặng nghĩa tình.

Theo lời kể của nam nhạc sĩ, anh không sinh ra ở Quảng Nam, Đà Nẵng nhưng mảnh đất này như quê hương thứ hai. Hà Chương có 10 năm gắn bó với hai địa danh này.

“Khi ở xa, tôi vẫn luôn dõi theo Quảng Nam, Đà Nẵng. Tôi mong dịch Covid-19 sớm qua để cuộc sống yên bình trở lại trên dải đất này”, anh bộc bạch.

Nhạc sĩ Hà Chương sinh năm 1982 tại Quảng Ngãi. Nam nhạc sĩ đã vượt lên nghịch cảnh để chơi nhiều loại nhạc cụ như guitar, đàn bầu và tham gia sáng tác.

Năm 2004, Hà Chương đỗ thủ khoa hệ trung cấp Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam chuyên ngành đàn bầu. Anh được khán giả biết đến khi lọt vào top 3 chung kết Vietnam’s Got Talent 2014.

Người Đà Nẵng ONLINE  xin trích đăng nguyên văn bài thơ Quảng Nam của nghệ sĩ hài Hoài Linh:

Tôi không sinh ra trên mảnh đất quê cha

Lại sống bôn ba nơi quê người đất khách

Nhưng dòng máu Quảng đang chảy trong huyết mạch

Giọng nói tiếng cười vẫn đậm chất quê hương

Quảng Nam quê tôi những địa danh những cung đường

Tôi đã đến và qua lời bà kể lại

Lời ru của mẹ tôi vẫn còn đọng mãi

Về những anh tài của xứ Quảng địa linh 

Những người con Quảng Nam chân chất nặng tình

Đã chứng minh qua biết bao thế hệ 

Với khí chất ấy dù khó khăn chẳng ngại

Những biến thiên dù gian khó vẫn vượt qua

Trong bão trong giông trong gió giật mưa sa

Người con xứ Quảng vẫn kiên cường chống chọi

Những ánh đuốc tiền nhân trong đêm mờ chiếu rọi

Soi đường cho cháu con giữ nguồn sáng trong tâm

Truyền cho cháu con giữ chữ nghĩa chữ ân

Truyền bao dung truyền tấm lòng luôn rộng mở

Có lo lắng có nghĩ suy dập dồn trong hơi thở

Những cơn nắng cháy người những trận lũ lụt thất kinh

Những bão những giông những cây cối oằn mình

Nhưng vẫn hiên ngang vững vàng như người con xứ Quảng

Những cánh tay siết chặt nhau lúc khó khăn hoạn nạn

Những nước mắt nụ cười những lúc phế lúc hưng

Hỏi vì răng lúc ngặt nghèo người Quảng lại chung lưng

Bởi thổ nhưỡng quê tôi núi ôm như vòng tay của mẹ

Truyền hơi thở ấm nồng để ấp ủ đàn con

Những dòng sông như những dòng sữa ngọt thơm

Chia sẻ muôn nơi để nuôi dưỡng người con đất Quảng

Biển cả mênh mông nhưng lòng cha lai láng

Vuốt ve con mình bằng những cơn sóng dịu êm

Nhưng tập cho con bước qua lúc gập ghềnh

Lúc sóng lớn nhồi mạn thuyền chao đảo

Quê tôi đó những tấm lòng luôn thơm thảo

 Những người con trên khắp mọi nẻo đường

Dẫu có nghèo vẫn đau đáu quê hương

 Hướng về Quảng Nam với cả nghĩa tình sâu nặng

 Góp sức chung tay để cùng lo cho đặng

Dịch họa thiên tai bệnh tật được đẩy lùi

 Để mảnh đất Quảng Nam mãi mãi nở nụ cười

Để người con Quảng Nam tự hào về nhân nghĩa”.

Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến

loading…

– Bút danh: Quang Dũng.

– Sinh năm 1921và mất năm 1988.

– Quê: Phưọng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.

– Xuất thân trong một gia đình nho học.

– Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh soạn nhạc.

b. Tác phẩm:

– Mục đích sáng tác: ghi lại những kỉ niệm một thời của những người lính Tây Tiến.

*Bố cục: chia làm ba đoạn:

– Cảm hứng chính của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tránggắn bó với nhau để làm nên linh hồn, sắc điệu của bài thơ.

II. Đọc hiểu văn bản a. Nỗi nhớ Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

– Hai câu thơ mở đầu đã cụ thể cho cảm xúc của toàn bài thơ Sông Mã đại diện cho vùng đất miền Tây. Hai hình tượng song song kết động nỗi nhớ. Đó là miền Tây Bắc Bắc Bộ và người lính Tây Tiến.

b. Hình ảnh người lính Tây Tiến:

*Giữa khung cảnh hùng vĩ, dữ dội.

-Câu thơ 3. 4 gợi tên đất, tên làng. Đó là Sài Khao, Mường Lát:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

– Hành quân chiến đấu đầy gian khổ, thử thách và hi sinh:

“Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời …………… mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm……… cọp trêu người Nhớ ôi ! Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*Người lính Tây Tiến giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng:

“Doanh trại… bừng …hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

*Tâm hồn lãng mạn:

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.

* Sự hy sinh thầm lặng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh …………anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

*Hình ảnh:

– Đó là nét vẻ hào hoa, lãng mạn đầy thơ mộng của những chàng trai Hà Nội.

3. Khẳng định lí tưởng chiến đấu và tinh thần đồng đội.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

– Mặt khác, đoạn thơ kết bài thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính. Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày về.

III. Tổng kết:

– Xem phần ghi nhớ SGK.

Nhận xét

Mở Bài Bài Thơ Bếp Lửa

Các em cùng tìm hiểu cách viết Mở bài bài thơ Bếp lửa, một bài thơ thấm đẫm tình cảm gia đình của nhà thơ Bằng Việt để qua đó trau dồi, nâng cao hơn nữa kĩ năng viết mở bài cho bài văn của mình thêm hoàn thiện, ngắn gọn và mang tính thuyết phục hơn.

Một số cách mở bài bài thơ Bếp lửa hay, đặc sắc.

5 cách Mở bài bài thơ Bếp lửa

Trong cuộc đời này ai cũng trải qua những năm tháng tuổi thơ ngây ngô, hồn nhiên và trong sáng, tuổi thơ ấy gắn liền với bao kỉ niệm vui buồn, chính những kỉ niệm tuổi thơ là hành trang không thể thiếu khi ta trưởng thành bước trên đường đời. Bằng Việt khi viết bài thơ “Bếp lửa” cũng đang là một cậu sinh viên, ở độ tuổi mới trưởng thành người cháu nhớ về những kỉ niệm ấu thơ bên bà, mỗi ngày cùng bà nhóm bếp lửa. Những năm tháng tuổi thơ sống bên bà đã cho Bằng Việt cảm nhận được tình yêu thương vô bờ, sự hy sinh cao cả của bà, hơn thế là tình cảm bà cháu thiêng liêng, sâu đậm.

Bài thơ “Bếp lửa” – một trong những sáng tác đầu tay của nhà thơ Bằng Việt được ra đời khi tác giả đang là sinh viên tại nước ngoài, ở độ tuổi trưởng thành lại phải xa quê hương, Bằng Việt dường như không thể kìm nén được sự nhớ thương về người bà nơi quê nhà. Bài thơ được viết nên bằng những hồi tưởng về kỉ niệm thơ ấu của cháu bên bà, những dòng suy ngẫm về tình cảm của bà và tình bà cháu thiêng liêng, sâu nặng, hình ảnh bếp lửa trong bài thơ trở thành một điểm tựa khơi gợi những kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ về tình bà cháu và gia đình, xa hơn đó là những suy nghĩ về tình yêu quê hương, đất nước của một người con xa quê.

Bài thơ ‘Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt là một bài thơ hay viết về tình cảm bà cháu nhưng lại được chan hòa với tình yêu quê hương đất nước. Có thể nói trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt có bóng dáng của biết bao tâm hồn tuổi thơ như chúng ta, tuổi thơ của tác giả gắn với hình ảnh người bà kính yêu, tần tảo, hy sinh, gắn với hình ảnh bếp lửa nồng đượm. Bài thơ không chỉ cho chúng ta cảm nhận được những cảm xúc chân thành của tác giả đối với người bà và ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng mà còn nhắc nhở về vai trò của tình cảm gia đình trong cuộc sống.

Trong cuộc sống của chúng ta không thể thiếu đi tình cảm gia đình, đó có thể là tình bà cháu, cha con, anh em ruột thịt, có trưởng thành và bước ra ngoài cuộc sống hay rời xa quê hương ta mới càng thấu rõ sự thiêng liêng, trân quý của tình cảm gia đình. Bằng Việt viết bài thơ “Bếp lửa” trong hoàn cảnh xa nhà, xa quê hương đã cho người đọc được cảm nhận những dòng hồi tưởng xúc động, những suy ngẫm đầy triết lí về người bà và tình cảm của hai bà cháu. Đọc thơ của Bằng Việt ta như được sống lại với những năm tháng tuổi thơ với biết bao kỉ niệm đáng nhớ, có người bà tần tảo sớm hôm, có bếp lửa bập bùng sớm tối.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Học Rút Ra Từ Bài Thơ Lượm

Lượm ơi, còn không?

1. Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

Bài thơ Lượm được nhà thơ Tố Hữu sáng tác năm 1949, đây là giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Thời điểm đó, quân ta đóng ở đồn Mang Cá một cứ điểm quan trọng của Huế. Trong một trận tấn công vào đồn giặc, Lượm hi sinh. Tác giả biết tin, vô cùng xúc động và đã sáng tác nên bài thơ này (1949).

2. Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ

Bài thơ là sự kết hợp giữa lối kể chuyện kết hợp với miêu tả nhằm khắc họa nên hình ảnh sinh động về chú bé Lượm – chú bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi, hăng hái và dũng cảm.

Bài thơ Lượm, thuộc thể thể thơ bốn chữ, sử dụng nhiều từ láy có giá trị gợi hình và giàu âm điệu đã góp phần tạo nên thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật.

3. Phân tích bài thơ Lượm

Mở đầu bài thơ, tác giả dựng lại khung cảnh buổi gặp gỡ đáng nhớ giữa hai chú cháu:

Cuộc gặp gỡ của hai chú cháu diễn tra trong khoảng thời gian và không gian vô cùng đặc biệt. Thời gian đó là vào ngày Huế đổ máu, đó chính là ngày người dân Huế chiến đấu ác liệt để chống lại giặc Mỹ xâm lược. Địa điểm gặp đó là ở Hàng Bé. Một cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng để lại những kí ức về một chú bé liên lạc vô cùng sâu đậm.

Những câu thơ tiếp đến là sự miêu tả hình ảnh Lượm:

Nhà thơ dành tình cảm đặc biệt của mình để miêu tả nhân vật Lượm, đó là dáng vẻ loắt chắt đã nhỏ lại gầy nhưng vô cùng nhanh nhẹn và tinh nghịch. Đầu nghênh nghênh, lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia. Nhịp thơ nhanh gợi lên hình ảnh chú bé vui tươi, nhí nhảnh, yêu đời.

Sự miêu tả ngoại hình bền ngoài phần nào thể hiện được tính cach bên trong của Lượm. Ca lô không chịu đội thẳng mà đội lệch. Miệng luôn huýt sáo vang. Lượm chẳng khác nào như con chim chích bé nhỏ nhảy trên đường vàng.

Lượm kể chuyện với chú vô cùng hồn nhiên:

Những câu thơ diễn tả niềm vui, sự thích thú của Lượm khi được giao làm nhiệm vụ liên lạc. Cái vui của Lượm bắt đầu từ niềm vui của đất nước, của dân tộc.

Cháu cười híp mí

Má đỏ bồ quân

– “Thôi, chào đồng chí!”

Cháu đi xa dần…

Niềm vui của Lượm là niềm vui của lứa tuổi ấu thơ, vô cùng hiếu động đầy sức sống. Những câu thơ này là sự chia tay đối với người Chú ẩn chứa niềm vui nhưng vô cùng nghiêm túc của một người đồng chí tham gia kháng chiến.

Đoạn thơ dùng thể thơ bốn chữ, nhịp nhanh, cùng nhiều từ láy (loắt choắt, thoăn thoát, nghênh nghênh) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi) say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu.

Câu chuyện của Lượm trong chuyến đi liên lạc cuối cùng được kể qua lời của người kể với những cảm xúc đau xót, tiếc thương, tự hào được biểu hiện trực tiếp và qua cả cách nhìn, cách miêu tả.

Khi nghe tin Lượm hi sinh, tác giả đau đớn thốt lên: Ra thế Lượm ơi!…

Kỉ niệm về cuộc gặp gỡ với chú bé liên lạc còn tươi nguyên trong lòng nhà thơ thì bỗng dưng có tin chẳng lành. Câu thơ bình thường bỗng nhiên bị ngắt làm đôi. Ám hiệu ngập ngừng và dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động đến bàng hoàng.

Tác giả hình dung ra tình huống hi sinh của Lượm thật cụ thể. Cũng như bao lần đi làm nhiệm vụ, Lượm dũng cảm, nhanh nhẹn, hăng hái và đầy quyết tâm, không nề nguy hiểm:

Chiến trường đầy khói lửa nhưng Lượm vẫn xông pha làm nhiệm vụ. Bỗng loè chớp đỏ, Thôi rồi Lượm ơi! Kể lại, hình dung lại sự việc mà tưởng chừng như tác giả đang tận mắt chứng kiến cái giây phút đau đớn ấy nên không kiềm chế được, tự đáy lòng bật thốt lên tiếng kêu đau đớn.

Câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào đầy xót thương và cảm phục của tác giả của chúng ta trước cái chết bất ngờ của người chiến sĩ nhỏ. Chú bé đã hi sinh anh dũng giữa tuổi thiếu niên hồn nhiên, tươi trẻ đầy hứa hẹn. Nhà thơ không dừng lâu ở nỗi đau xót mà ông cảm nhận rằng sự hi sinh của Lượm rất đỗi thiêng liêng, cao cả. Chú như một thiên thần bé nhỏ yên nghỉ trên cánh đồng quê hương. Lượm đã hoá thân vào đất mẹ:

Bao quanh Lượm là sự sống mơn mởn đang lên. Hương lúa thơm như mùi sữa mẹ. Sự hi sinh của Lượm vô cùng nhẹ nhàng, thanh thản. Câu thơ: Hồn bay giữa đồng khẳng định tinh thần bất tử của Lượm. Lượm đã chết cho quê hương xứ sở.

Câu thơ Lượm ơi, còn không? là một câu hỏi tu từ được tách ra thành một khổ thơ riêng có tác dụng nhấn mạnh, đặc tả nỗi đau đớn xót xa và niềm bâng khuâng, nhớ tiếc khôn nguôi của tác giả.

Hai khổ thơ cuối lặp lại như một điệp khúc khắc sâu hình ảnh đẹp đẽ của Lượm trong tâm hồn mọi người:

Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Việt Bắc

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ qua đối đáp của hai nhân vật Mình – Ta đã trở thành một bài ca không bao giờ quên về những năm tháng kháng Pháp gian khổ, hào hùng mà nghĩa tình son sắt, thuỷ chung. Tất cả những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút Tố Hữu tập trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ: (đoạn nào thì dẫn vào)

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Và có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành hồn thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi. Đó là mảnh đất Việt Bắc ân tình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàm nghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũng phải bồi hồi, xao xuyến . Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thành cảm hứng cho thơ ca. Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất yêu thương nghĩa tình ấy – đó là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.

HÃY ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE CỦA THẦY ĐỂ NHẬN BÀI GIẢNG. BẤM VÀO

Tố Hữu đã từng nói : “ Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy “, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi thơ ca đã trào ra bao nỗi nhớ thương vô vàn. Việt Bắc chính là những rung động mạnh liệt ấy của Tố Hữu. Bài thơ là kết tinh, là di sản của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình – chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.

Có ai đó từng nói: “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Thật vậy hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp và trái tim chân thành của Tố Hữu dành cho mảnh đất quê hương Cách Mạng Việt Bắc đã chắp cánh cho hồn thơ ông bay lên cùng tâm hồn thời đại. Bằng tình cảm của nhà thơ trữ tình chính trị – Tố Hữu đã hái lượm những bông hoa ngôn từ trong vườn hoa từ ngữ dân tộc để sáng tác nên bài thơ Việt Bắc. Bài thơ là khúc hùng ca kháng chiến mà cũng là bản tình ca cách mạng về những năm tháng quá khứ gian lao mà nghĩa tình. Trong những vần thơ đầy cảm động của Việt Bắc, đoạn thơ sau là đoạn thơ ấn tượng hơn cả:

Sau mở bài dẫn đoạn sau vào phần đầu tiên của thân bài:

– Việt Bắc là khu căn cứ địa kháng chiến được thành lập từ năm 1940, gồm sáu tỉnh viết tắt là “Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà”. Nơi đây, cán bộ chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc đã có mười lăm năm gắn bó keo sơn, nghĩa tình (1940 – 1954).

– Sau hiệp định Giơnevơ, tháng 10.1954, Trung ương Đảng và cán bộ rời Việt Bắc. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành niềm cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Trải dài khắp bài thơ là niềm thương nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình.

Trước khi kết bài nhớ đánh giá lại nghệ thuật

Nghệ thuật: Thể thơ lục bát truyền thống ngọt ngào sâu lắng mà cũng biến hoá linh hoạt. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: … Hai đại từ nhân xưng Ta – Mình quấn quýt giao hoà; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói của nhân dân nghĩa tình…

Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương. Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay như một hòn ngọc quý.

Xem video cách viết mở bài hay

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ “Quảng Nam” Trị Giá 700 Triệu Của Hoài Linh Được Phổ Nhạc trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!