Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nét Buồn, Những Nét Đau… # Top 10 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nét Buồn, Những Nét Đau… # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nét Buồn, Những Nét Đau… mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]m

Từ cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Tây Tiến. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Bài văn mẫu

Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu khẳng định tài năng của nhà thơ Quang Dũng. Bàn về bài thơ có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau nhưng đó là cái đau bi tráng chứ không phải là cái buồn đau bi lụy”. Với ý kiến này chúng ta có thể hiểu một cách trọn vẹn về bài thơ Tây Tiến.

Mạch cảm xúc của bài thơ chính là nỗi nhớ, nỗi nhớ như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ đưa nhà thơ trở về với những kỉ niệm đẹp. Trong hành trình của nỗi nhớ có phảng phất những nỗi đau, nỗi buồn. Những nỗi đau, nỗi buồn được nhà thơ tái hiện chân thật bằng cảm xúc chân thành. Tây Tiến vẽ lên một chặng đường dài đầy khó khăn và gian khổ giữa rừng núi hiểm trở. Ngay phần đầu của bài thơ, chúng ta đã nhìn thấy được sự mệt mỏi của đoàn quân: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Sương nhiều và lạnh buốt đến nỗi như vùi lấp từng bước đi của đoàn quân. Thế rồi hình ảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cũng phần nào đó cho thấy những giấc ngủ tranh thủ của người lính hay nhắc tới sự hi sinh trên đường hành quân của họ. Không chỉ vậy, hành trình chiến đấu còn có sự hiểm trở, hoang sơ, dữ dội của dốc núi cheo leo:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Cái oai linh của của nơi rừng thiêng nước độc, cảnh thú dữ rình rập cũng tác động đến con người phần nào đó: “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “.Thế rồi khi bệnh tật, sự thiếu thốn khiến cho người lính có một ngoại hình thật đặc biệt: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/Quân xanh màu lá dữ oai hùm ” và cũng vì vậy mà cái chết cũng luôn rình rập quanh họ: ” Rải rác biên cương mồ viễn xứ /Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “.

Tuy nhiên nỗi đau, nỗi buồn ở đây không toát lên sự bi lụy, yếu đuối, nhỏ bé của con người mà đó là cách nhìn thẳng vào thực tế của họ. Tận cùng bên trong của những nỗi buồn, nỗi đau đó là vẻ đẹp bi tráng đáng tự hào và ngưỡng mộ. Bi tráng vừa có tính chất bi ai có nghĩa là buồn nhưng cũng vừa có tính chất hùng tráng hay nói cách khác thì bi tráng vừa thể hiện nét bi thương vừa không làm mất đi vẻ gân guốc, mạnh mẽ. Trước những khó khăn trên hành trình, những người lính trẻ vẫn dành cho mình những giây phút bình yên để mà ngắm nhìn khung cảnh lãng mạn nơi rừng núi Tây Bắc hoang sơ và linh thiêng. Đó là những giây phút ngắm nhìn thiên nhiên ở Mường Lát trong đêm đêm hơi với hương hoa đặc biệt khiến cho tâm hồn người lính trở nên dịu dàng hơn sau những sự dữ dằn của cuộc hành trình: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi “.

Đặc biệt hơn cả trong việc thể hiện nghị lực vượt lên trên nỗi đau là ở cách Quang Dũng miêu tả sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Nói đến cái chết nhưng không còn quá đau buồn mà là nổi bật lên là sự hào hùng:

” Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Những nấm mồ nằm rải rác nơi biên cương xa xôi, lạnh lẽo không thể khiến cho người đọc cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng. Những từ Hán Việt mà nhà thơ đã sử dụng trong các câu thơ trên như là “biên cương “,”viễn xứ ” đã làm giảm cái nỗi đau thương và tuyệt vọng ấy. Không những thế, sự quyết tâm và khát vọng chiến đấu đến cùng của người lính”Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã làm mờ hẳn đi sự đau thương, sự sợ hãi. Vì độc lập, vì tự do của dân tộc mình người lính sẵn sàng hi sinh tất cả trong đó có cả tuổi thanh xuân của mình. Cách nói của họ thể hiện niềm tự hào, tự hào vì được hiến dâng cho đất nước. Trong chiến tranh có rất nhiều người đã hi sinh ngay đến cả một manh chiếu để liệm thân cũng không có, những người lính Tây Tiến cũng vậy. Nhưng qua cái nhìn của nhà thơ Quang Dũng sự ra đi của người lính Tây Tiến lại được bọc trong tấm áo bào sang trọng:”Áo bào thay chiếu anh về đất /Sông Mã gầm lên khúc độc hành ” . Hình ảnh chiếc áo bào gợi liên tưởng đến đến sự rực rỡ, đẹp đẽ, lộng lẫy và sang trọng. Sự bi thương, đau buồn trong cái chết của người lính không còn quá đậm nét mà trở nên nhẹ nhàng hơn nhờ cách nói giảm “anh về đất đất” . Về đất là trở về với đất mẹ thân thương trở về với những điều bình dị nhất và gần gũi nhất. Chính vì vậy, không có gì phải tiếc nuối và sợ hãi cả. Tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là âm thanh đặc biệt. Trong bài thơ nghe tiếng sông Mã gầm lên, chúng ta lại hình dung một khúc ca bi tráng tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Có lẽ sức nặng, nội lực của câu thơ tập trung ở động từ “gầm”. Âm hưởng của câu thơ đau xót, nghẹn ngào hơn bao giờ hết. Nó như một tiếng nấc trước sự hi sinh của người lính nhưng đó là tiếng nấc, tiếng khóc của sự tự hào của sự mạnh mẽ. Trong thực tế chúng ta có thể thấy rằng người lính Tây Tiến ra đi trong sự lặng lẽ âm thầm không kèn, không trống nhưng qua cách miêu tả và cảm nhận của nhà thơ thì âm thanh dòng sông Mã đã trở thành khúc nhạc hào hùng tiễn đưa linh hồn của họ về với đất mẹ thân yêu.

Với những từ ngữ chính xác, tinh tế, hình ảnh chọn lọc đẹp đẽ kết hợp với hồn thơ vốn dĩ đã lãng mạn và hào hoa của Quang Dũng thiên nhiên và đặc biệt là người lính Tây tiến hiện lên chân thực với những sự gian nan của thực tế cuộc sống nhưng không hề đáng thương, yếu đuối mà vẫn giữ cho mình vẻ hùng dũng. Từ đó thể hiện được niềm tin và sức mạnh của thế hệ trẻ trước cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Phải là một người yêu quý và trân trọng Tây Tiến sâu nặng thì mới có thể viết được những vần thơ như thế.

Qua việc tìm hiểu cả bài thơ, chúng ta đã hiểu về những nỗi đau và nỗi buồn mang màu sắc bi tráng của người lính Tây Tiến qua hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và hào hoa mang tên Quang Dũng. Những vần thơ của Tây Tiến khiến người đọc càng cảm thấy tự hào về một thế hệ đi trước đầy nhiệt huyết và dũng cảm, xứng đáng là một bài thơ tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam.

Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nỗi Buồn, Những Nét Đau

– Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt và tiêu hao lực lượng Pháp ở miền Tây Bắc bộ.

– Năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, viết bài thơ Tây Tiến, một trong những tác phẩm nổi tiếng mà Trần Lê Văn đã nhận xét: “Bài thơ Tây Tiến…”

2. Thân bài

a) Bài thơ Tây Tiến có phảng phất nhũng nét buồn, những nét đau:

a1. Nét buồn:

– Tây Tiến phác hoạ một cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở. Mở đầu bài thơ, ẩn hiện sau lớp sương mù dày đặc của núi rừng là hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi:

Sài Khao sưong lấp đoàn quân mỏi,

Anh bạn dãi dầu không bước nữa.

– Biết bao gian nan thử thách đón chờ đoàn quân Tây Tiến, bất cứ nơi nào, lúc nào cũng có thể làm cho người ta chùn bước.

* Đó là cái hiểm trở của con đường hành quân:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm tham,

* Đó là oai linh của rừng thiêng:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét,

* Đó là cảnh thú dữ rình rập:

Đêm đêm Mưòng Hịch cọp trêu người,

a2. Nét đau:

– Bệnh tật do lam sơn chướng khí:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

“Hồi ấy ở rừng, sốt rét hoành hành dữ. Đánh trận, tử vong ít, sốt rét, tửvong nhiều” (Trần Lê Văn). Cho nên đoàn binh không mọc tóc và quân xanh màu lá vì màu da của chiến sĩ xanh lướt và tóc bị rụng do sốt rét rùng hành hạ.

– Đó là sự đánh đổi quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp cho Tổ quốc trường tồn:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

– Đó là sự hi sinh:

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Nếu không có được một lòng yêu nước thiết tha, một ý chí kiên cường, người chiến sĩ Tây Tiến có thể ngả lòng, bỏ cuộc. Nhưng trái lại, họ đối mặt, đương đầu với mọi gian khổ, thử thách, bệnh tật, chết chóc và vượt lên tất cả với một hào khí ngất trời:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

b) Nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, không phải bi luỵ:

b1. Nét đẹp:

– Sau một cuộc hành quân thật mệt mỏi là hình ảnh:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

– Núi đèo cao ngất hiểm trở, nhưng đến đỉnh cao, người chiến sĩ say sưa phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn cảnh vật mờ ảo dưới làn mưa rùng đầy quyến rũ:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

– Núi rừng thật dữ dằn, chiều chiều oai linh thác gầm thét, đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người, nhưng những sản vật của vùng cao đã mang lại bao hương vị ngọt ngào, nồng ấm.

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Và những đêm liên hoan vui vầy:

Doanh trại bùng lên hội đuốc hoa,

Kìa em xiêm áo tự bao giờ.

– Giữa những ngày hành quân gian khổ ấy, tâm trí của những chàng trai trong đoàn binh Tây Tiến luôn dành cho hoa, hoa về, hội đuốc hoa, hoa đong đưa. Và xúc cảm trước những hình ảnh lãng mạn, tuyệt đẹp:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có thấy hồn lau nẻo bến bờ. Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Cũng có lúc, người chiến sĩ Tây Tiến thả hồn thơ mộng:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

b2. Nét hùng:

– Nét hùng tráng là khí vị chung của bài thơ, một khí vị hào hùng, quả cảm. Người đọc thấy cái đẹp chân thật, xúc động trước hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi vì núi rừng gieo neo, vì bụi bám đường xa, vì mệt nhọc, đói khát, cho nên:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

– Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ và dữ dội với nhiều đường nét, hình khối, màu sắc chuyển đổi bất ngờ, đoàn quân Tây Tiến có vẻ nhỏ bé, đối lập với thiên nhiên. Nhưng chính sự đối lập đó đã làm tăng thêm khí phách hào hùng, dáng nét hiên ngang bất khuất không gì ngăn cản nổi của đoàn quân:

Heo hút cồn mây sủng ngửi trời,

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.

– Nét hào hùng còn thể hiện rõ ở khí thế chiến đấu của họ. Ngay trong lúc bệnh tật, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn anh dũng chiến đấu:

“Như trận Dốc Đẹ (trên đường từ phố Vàng sang Mường Bi), có những chiến sĩ sốt rét run cầm cập vẫn nằm nguyên ở vị trí chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, vần đá từ trên cao xuống, tiêu diệt nhiều tên địch. Bọn giặc sống sót phải rút lui xuống Suối Rút”.

(Trần Lê Văn)

– Biết bao thanh niên đã dấn thân, đúng như hai chữ Tây Tiến, người chiến sĩ đã hăng hái mà tiến, vui vẻ mà tiến về miền Tây, dù có trông thấy nhũng nấm mo viễn xứ nằm rải rác biên cương và biết rằng rất có thể phút này bản thân họ còn tồn tại, phút sau sẽ thành hư vô.

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Cái tiếng gầm rung chuyển của dòng sông Mã ngự trị cả một vùng thiên nhiên đang ngưỡng vọng sự hào tráng, khí phách anh hùng của những chàng trai Tây Tiến gây ấn tượng thật sâu sắc cho người đọc.

Tóm lại, hai nét bi và tráng hoà lẫn nhau, tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng nổi bật vẫn là nét hùng tráng.

3. Kết bài

– Ba mươi bốn câu thơ Tây Tiến đầy hình ảnh sáng tạo thể hiện nỗi nhớ thiết tha của hồn thơ tinh tế, tài thơ tuyệt diệu của Quang Dũng. Đặc biệt, nghệ thuật thơ vừa phản ánh những nét bi hùng của cuộc chiến đấu chống Pháp, vừa thể hiện tâm tình riêng tư của những người thanh niên yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

– Điều này cũng giải thích tại sao bài thơ Tây Tiến ra đời từ nửa thế kỉ trước, mà hôm nay ta vẫn rung động khi đọc những dòng thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rùng núi nhớ chơi vơi.

Đôi Nét Về Bài Thơ Trăng Khuyết

Anh ngỏ lời yêu em Vào một đêm trăng khuyết Bởi tình yêu tha thiết Biết tròn trước đêm rằm

Em vui lúc trăng tròn Chạnh lòng khi trăng khuyết Anh ơi anh có biết Trăng hay tình lứa đôi

Sao anh lại ngỏ lời Vào một đêm trăng khuyết Để bây giờ thầm tiếc Một vầng trăng không tròn

Nhiều người tìm đến bài thơ “Trăng khuyết” của Phi Tuyết Ba như là một niềm an ủi bởi gặp tình yêu không thành. Câu chuyện trăng khuyết vấn vít cùng chuyện khuyết vẹn của tình yêu thì có gì lạ đâu. Nguyễn Du cách đây hơn 200 năm đã viết:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Thế nên, sức hấp dẫn của bài thơ này hẳn là đặc biệt lắm. Nếu không, làm sao người ta đọc, người ta hát nó nhiều đến thế được.

Lại vẫn là tình yêu. Tình yêu không có một kết thúc trọn vẹn. Và giữa trăm ngàn nguyên cớ chia tay, người con gái vin vào một cái cớ tưởng như chẳng có gì, ấy là vầng trăng khuyết.

Anh ngỏ lời yêu em

Vào một đêm trăng khuyết

Bởi tình yêu tha thiết

Biết tròn trước đêm rằm

Chỉ có trái tim nhạy cảm và đa cảm thì mới có những câu thơ thật trong sáng, đáng yêu. Lời tỏ tình đầu tiên lại rơi vào một đêm trăng khuyết. Người con trai có lẽ chẳng bao giờ để ý tới chuyện này đâu. Nhưng là một cô gái, chuyện tự nhiên trời đất thôi cũng trở thành tâm sự của lòng mình. Điều đó là dễ hiểu.

Hạnh phúc vì đón nhận tình yêu, cô muốn bộc bạch những ngổn ngang trăm mối, lại vẫn chuyện vầng trăng tròn khuyết, và hình như, cài vào bao nhập nhằng, hư ảo khuyết- tròn ấy là những dự cảm, âu lo không thể nào nói hết được:

Em vui lúc trăng tròn Chạnh lòng khi trăng khuyết Anh ơi anh có biết Trăng hay tình lứa đôi

Vầng trăng lúc này không chỉ là một thực tế của vũ trụ nữa. Vầng trăng là chứng nhân cho lời tỏ tình đêm trước. Thật xót xa, đó lại là một đêm trăng không tròn:

Sao anh lại ngỏ lời Vào một đêm trăng khuyết Để bây giờ thầm tiếc Một vầng trăng không tròn

Cô muốn trách móc. Mà câu thơ buông ra lửng lơ, chẳng biết trách ai. Trách anh? Không! Trách đêm trăng khuyết? Có lẽ chỉ trách sự vô tình, không may mắn. Dẫu rằng vầng trăng cứ khuyết tròn theo quy luật muôn đời vẫn thế nhưng cái tròn trặn của vầng trăng, cái tròn trặn của tình yêu thì không vĩnh hằng, mãi mãi.

Tôi thích cái “đổ lỗi” này. Nó khiến cho tình yêu, dù không trọn vẹn, dù đứt gánh nhưng vẫn đẹp và nhân văn. Đọc bài thơ, cứ mong lời ngỏ yêu kia diễn ra vào một trăng tròn vành vạnh. Để cô gái, để chàng trai, để vầng trăng không phải thầm tiếc cho sự dang dở của một mối tình.

Bài thơ làm người ta chạnh lòng, buồn nỗi buồn man mác. Ba khổ thơ là sự hồi tưởng liền mạch về tình yêu, từ buổi đầu đến ngày kết thúc. Dẫu tình yêu vơi vẹn đi nhưng trên hết, ta bắt gặp tâm hồn của một cô gái rất thiết tha và nhân hậu khi nghĩ về mối tình lỡ dở của mình, nghĩ về lời tỏ tình vào một đêm có vầng trăng khuyết nửa. Là lời tâm sự nên câu chữ bài thơ cũng miên man theo dòng cảm xúc và rất mực tự nhiên. Mà những gì chân thành, tự nhiên thì rất dễ hấp dẫn được nhiều người.

An Thành Đông @ 21:36 12/12/2014 Số lượt xem: 321

Giới Thiệu Một Vài Nét Về Huy Cận Và Bài Thơ Tràng Giang

Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ Tràng giang

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

I. Vài nét về tác giả Huy Cận– Tên thật là Cù Huy Cận, sinh năm 1919 ở lặng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận xuất thân từ một gia đình nho học.– Lúc nhỏ, Huy Cận học ở quê. Học trung học ở Huế. Học Cao đẳng Canh nông ở Hà Nội.– Thời gian này, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh.– Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Huy Cận giữ nhiều trọng trách: Thứ trường rồi bộ trưởng…– Huy Cận được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt I-1996.

1. Trước Cách mạng tháng Tám 1945– Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Huy Cận nổ tiếng trong làng Thơ mới.– Tiếng thơ Huy Cận thời kì này phần lớn là sầu thương.– Nguyên nhân nỗi sầu là do ông cảm nhận cái bé nhỏ và hữu hạn của kiếp người. Đồng thời, nỗi buồn của ông còn mang cả dấu ấn của thời đại bị nô lệ.– Những sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945.* Lửa thiêng (1940): thơ.* Kinh cầu tự (1942): văn xuôi.* Vũ trụ ca (1940-1942): thơ.

2. Chặng đường sau Cách mạng tháng Tám– Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1958, Huy Cận ít sáng tác. Có lẽ vì Huy Cận chưa kịp bắt nhịp với cuộc sống mới.– Sau chuyến đi thực tế năm 1958 ở vùng mỏ cẩm Phả, Huy Cận mới thật sự hòa mình vào cuộc sống mới. Từ đó, cảm xúc thơ của Huy Cận mới bộc lộ hết sự chân thành và hồ hởi.

III. Dàn ý phân tích

Khổ 1Cảnh vật trên dòng sông và sự trầm tư, suy tưởng của tác giả.– Hình ảnh con thuyền và cành củi khô trong cái dòng nước mênh mang đã khiến nhà thơ liên tưởng đến kiếp người nhò nhoi, nổi trôi, lạc loài, cô độc trong dòng đời. Hình ảnh “thuyền về nước lại, sầu trăm ngả” gợi sự chia ly.– Trong mạch cảm xúc chủ đạo này, thuyền và nước trong thơ ca và cả trong đời thực làm sao mà xa cách cho được. Thế mà bây giờ lại hờ hững với nhau.Con thuyền xuôi mái nước song songThuyền về nước lại sầu trăm ngả.“nước lại sầu” : sông đã buồn và bây giờ cả dòng nước cũng sầu…– Từ Hán Việt “Tràng giang” như báo hiệu cho tứ thơ cổ điển, mang phong vị Đường thi. Trung tâm của khổ thơ này là “Củi một cành khô lạc mấy dòng”.– Từ “dạt” được sử dụng rất đắt. Bởi “dạt” cho ta thấy nét thân phận bị đẩy đưa ngoài ý muốn, nên nỗi buồn của nhà thơ là nỗi buồn “điệp điệp”, chồng chất.

Khổ 2 và 3Sự hoang vắng của cảnh vật và tâm trạng của nhà thơ.Cảnh vật trong khổ thơ thứ hai trở nên hoang vắng, quạnh quẽ. Mọi vật trở nên tiêu sơ, trơ trọi (đìu hiu). Mọi thứ như sắp khép lại của một buổi chợ chiều (vãn chợ chiều). Trong cái không gian ba chiều (lên, xuống, sâu), khiến thân phận bé nhỏ của con người như lọt vào cõi đời hun hút (sâu chót vót). Cảnh trong khổ thơ 3 lại càng hoang vắng, thiếu bóng dáng con người nên bến sông “không một chuyến đò ngang” thân phận kiếp người trôi dạt không biết về đâu như những cánh bèo hàng nối hàng về nơi vô định.

Khổ 4Nét đẹp kì vĩ của thiên nhiên (vũ trụ) và tâm trạng của nhà thơ.– Nếu xưa kia, Thôi Hiệu nhớ quê, trong một buổi chiều vì duyên cớ: khói sóng trên sông gợi nỗi niềm:Nhựt một hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầu(Hoàng Hạc lâu)Quê hương khuất bóng hoàng hônTrên sông khói sóng cho buồn lòng ai!(Tản Đà, dịch)– Huy Cận buồn nhiều hơn Thôi Hiệu, cái buồn của Huy Cận lại cụ thể hơn, buồn triền miên, nhớ triền miên, không cần duyên cớ: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nhưng nhà của nhân vật trữ tình ở chốn nào? Có phải đằng sau nỗi nhớ nhà của Huy Cận là nỗi nhớ quê hương, đất nước, là nỗi đau của cả thế hệ khi vừa lớn lên thì đất nước đã tràn ngập bóng đêm nô lệ? (ở một góc nhìn khác, ta không so sánh ai buồn hơn ai mà là, mỗi lời thơ có một vẻ buồn riêng, vẻ đẹp riêng và tâm trạng riêng).– Hình ảnh cánh chim trong buổi chiều tàn gợi lên niềm mong cầu tha thiết về một tổ ấm, một mái nhà, một quê hương, một cuộc sống yên vui thanh bình…– Cánh chim bé nhỏ kia là nét bút cực tả sự tương phản giữa cái vô cùng (bầu trời) với cái bé nhỏ (cánh nhỏ) của cánh chim chao nghiêng chở nặng cả một buổi chiều về miền vô định. Ta thấy trong cánh chim bé nhỏ kia, dường như có bóng dáng của chủ thể trữ tình, hay nói khác đi, cánh chim ấy với nhà thơ có chút tri âm?

IV. Tổng kết– Tràng giang là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận nói riêng và thơ ca lãng mạn 1932-1945 nói chung. Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên buồn. Cảnh chiều trong bài thơ có chiều kích không gian cao rộng, sông nước mênh mang và tất cả đều hoang vắng, tiêu sơ, thiếu vắng sự sống.– Con người trong bài thơ là con người mang nặng nỗi bơ vơ, lạc lõng đến tội nghiệp.– Bức tranh được khắc họa với bút pháp chấm phá tài tình và giọng thơ mang hơi hướng của Đường thi. Nhà thơ rất thành công trong cách chọn lựa ngôn ngữ, để diễn đạt cái vô định, bơ vơ của kiếp người. Ta có thể nhận ra rằng cả bài thơ đều thiếu vắng bóng người và thiếu cả âm thanh, thế nên nỗi buồn và cô đơn càng vang vọng bàng bạc khắp bài thơ.

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nét Buồn, Những Nét Đau… trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!