Xem Nhiều 12/2022 #️ Bài Thơ Tiếng Hàn Về Hoa Quả / 2023 # Top 21 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bài Thơ Tiếng Hàn Về Hoa Quả / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Tiếng Hàn Về Hoa Quả / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Để thay đổi không khí trong quá trình học, Dạy tiếng Hàn SOFL giới thiệu tới bạn bài thơ tiếng Hàn về hoa quả, giúp cho bạn có thêm vốn từ phong phú khi học.

Chắc hẳn bạn vẫn chưa quên phương pháphọc từ vựng tiếng Hàn qua hình ảnhđúng không. Bài thơ về hoa quả này cũng là những sự vật gắn liền với hình ảnh. Vì thế càng dễ dàng cho việc học phải không.

Từ vựng tiếng Hàn hoa quả

Để hiệu quả chắc chắn bạn không thể bỏ qua việc trau dồi từ vựng mỗi ngày. Bạn có thể học từ vựng qua phim, qua đoạn văn mới, hay gặp một từ lạ ở trên đường… Trong bài viết này Hàn ngữ SOFL sẽ giúp bạn học từ vựng qua bài thơ về hoa quả. Đây là bài thơ khá hay và thú vị.

Ăn “táo” thì nói 사과 “오이” dưa chuột “nho” là 포도 “Quả xoài ” thì nói 망고 땅콩 củ lạc ” chuối ” là 바나나 Khoai lang nhớ ” 고구마 석류 quả lựu , bưởi là 자몽 Từ 감 ta có quả hồng 수박 dưa hấu chưa hề được ăn 레몬 ta có quả chanh 고추 quả ớt chớ đừng ăn cay 딸기 là trái dâu tây 파파야 đủ đủ ăn đầy vào nha Quả ổi đọc 구아바 Đừng quên quả nhãn đọc là 롱안 Chôm chôm nhớ 람보탄 귤 là quả quýt tết về ăn chơi 두리안 sầu riêng ơi 밀크과일 vú sữa nàng ngồi ở đây 감자 ta có khoai tây

금귤 quả quất ngọt ngây xơi nào 복숭아 nhớ đến quả đào 파일애프 “quả dứa” ai tài gọt xem 삼보체 “quả hồng xiêm” 배 là lê đó đưa tiền mới cho 살구 nhớ quá quả mơ Nếu mà ăn mận” nhớ là 서양자두 Bắp ngô ta có 옥수수 무 là củ cải quả là không sai 리치 quả vải nói hoài 잭과일 quả mít ngon mà lắm gai Khi mệt ta nhớ đến ai 코코넛 ta uống quả dừa tỉnh ngay Quả gì mà lại ngắn tay 망고스틴 măng cụt biết ngay nhớ liền Muốn béo mà không tốn tiền

Tác giả bài viết: Dạy tiếng Hàn

Học Tiếng Hàn Hiệu Quả: Vừa Đọc Truyện Vừa Học Tiếng Hàn / 2023

사제간의 작은 웃음 – CƯỜI MỘT CHÚT VỚI THẦY TRÒ Giờ sinh vật, thầy giáo hỏi: -Em hãy cho biết vua của các loài động vật là con nào? Học trò trả lời: -Dạ, đó là giám đốc sở thú ạ. 생물시간, 선생님이 물었다 : – 여러분, 동물의 왕은 누구일까요? 학생들이 대답했다 : – 동물원 사장입니다! ^-^-^Trong giờ sinh vật cô giáo hỏi: -Em hãy cho cô biết vì sao gà con mổ vỏ trứng rồi chui ra ngoài? -Thưa cô, vì nó sợ sẽ bị chiên cùng với trứng ạ. 생물시간에 선생님이 물었다 : – 왜 병아리는 계란 껍질을 깨고 밖으로 나올까요? – 선생님, 그것은 병아리가 계란과 함께 후라이가 되는것이 무서워서 입니다!#### Cậu bé nọ đi học về, gọi mẹ: -Mẹ ơi, có phải mẹ đã nói là nếu con được 10 điểm, mẹ sẽ cho con 10 cái kẹo phải không ạ? -Phải, thế hôm nay con được điểm 10 à? -Không, hôm nay con chỉ cần 1 cái kẹo thôi. 학교에서 돌아온 아이가 엄마를 불렀다 : – 엄마, 제가 10점 받으면 사탕 열개 준다고 하셨죠??? – 응, 그럼 오늘 10점 받았니? – 아니오, 오늘은 사탕 한개면 되요^^;;[단어정리] – cười : 웃다 – một chút : 조금 – thầy trò : 스승과 제자 – giờ : 시간 – sinh vật : 생물 – thầy giáo : 남자선생님 – cho biết : 알게하다 – vua : 왕 – động vật : 동물 – nào : 무엇, 어느것 – học trò : 학생 – đó là ~ : 그것은 ~ 이다 – giám đốc : 사장 – sở thú : 동물원 – ạ : (문장 끝에서) 존칭 – cô giáo : 여자선생님 – vì sao : 왜(의문사) – gà con : 병아리 – mổ : 쪼다, 깨다 – vỏ : 껍질, 외피 – trứng : 계란 – chui ra ngoài : 밖으로 빠져나가다 – sợ : 두려워하다, 겁나다 – bị : (좋지 않은 일의) 수동형 – chiên : 볶다, 튀기다 – cùng với ~ : ~와 함께 – cậu bé : 어린 아이 – nọ : 지나서, 지난 – đi học về : 학교에 갔다 돌아오다 – gọi : 부르다 – có phải ~ : ~ 이지요? – nếu ~ : 만약 ~ 한다면 – được : (좋은 일에 대한) 수동형 – điểm 10 : 10점 – 10 cái : 10개 – kẹo : 사탕 – phải không? : 그렇지요? – cần : 필요하다

Dịch vụ tư vấn du học hàn quốc, tu nghiệp sinh hàn quốc CÔNG TY CỔ PHẦN HỢP TÁC GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NHÂN LỰC QUỐC TẾ SAMURAI Địa chỉ: Số 48, lô 6, Đền Lừ II, quận Hoàng Mai, Hà Nội Hotline: 0989 687 305 Email: hamyhphp@gmail.com http://www.facebook.com/duhocnghehanquoc . https://duhocnghehanquoc.wordpress.com http://duhocnghehanquoc.blogspot.com/

Học Tiếng Hàn Qua Truyện Cổ Tích / 2023

Đang thực hiện

Học tiếng Hàn Quốc dễ như ăn kẹo

Truyện cổ tích Hàn Quốc: Người con hiếu thảo khôn ngoan

Truyện: Mi-ae LeeTranh : Seon-Beom Song

Ngày xửa ngày xưa ở một ngôi làng có hai vợ chồng nọ. Người chồng làm nghề buôn bán nên thường đi xa vắng nhà thường xuyên nên người vợ một mình chăm sóc cha chồng. Người con dâu ngày càng khó chịu và không muốn sống cùng cha chồng nữa nên mỗi bữa chỉ cho ăn một chút cơm

Một ngày kia người chồng trờ về thấy cha gầy ốm anh ta rất giận nhưng cố nhịn rồi bảo vợ, nếu cho cha ăn nhiều trong một năm chắc sẽ mập sau đó ta đem ra chợ bán sẽ nhiều tiền. Từ lúc ấy người con dâu bắt đầu chăm sóc cho cha chồng chu đáo hơn thêm vào đó người cha chồng bắt đầu chăm chỉ và tốt hơn trước. Một năm trôi qua vợ chồng người con trai luôn chăm sóc phụng dưỡng cha già.

Nội dung câu truyện: Người con hiếu thảo, khôn ngoan

옛날에 한 부부가 살았어. Ngày xửa ngày xưa có một đôi vợ chồng nọ.

남편은 나무랄 데 없는 효자였는데, anh chồng là một người con rất hiếu thảo

떠돌아다니며 장사를 하느라 집을 자주 비웠어. vì công việc buôn bán nên anh thường hay vắng nhà.

그래서 주로 아내 혼자 시부모님을 모시고 지냈단다. Vì thế chị vợ hằng ngày ở nhà chăm sóc ba mẹ chồng.

그러던 어느 날, 시어머니가 덜컥 세상을 떠났어. Một ngày nọ, mẹ chồng đột ngột qua đời.

그 동안 먹을 거며 입을 거며 영감님 뒷바라지는 Trước đây, mẹ chồng thường nấu ăn, giặt đồ cho bố chồng.

시어머니가 도맡아 해 왔는데 어쩌면 좋아. Từ đây ai sẽ làm những công việc đó cho bố chồng đây.

“아이고, 할멈이 없으니 다 귀찮구나.” “Ôi , không có bà thì ta mệt lắm đây”

더욱이 영감님이 손가락 하나 까딱 않으니까 Bố chồng không hề động đậy

며느리 일감이 부쩍 늘어났지 뭐야. nên việc cô con dâu phải làm tăng lên rất nhiều.

“아버지, 춥지 않으세요?” Cha ơi, cha bị lạnh à?

아들은 틈틈이 이부자리도 깔아 드리고, Người con trai trải mền đắp cho cha.

간식도 사다 드리며 자잘하게 신경을 썼어. mua quà vặt và quan tâm đến giấc ngủ của ông.

그래 봤자 아들은 주로 밖에 있었지. Nhưng dù gì đi chăng nữa người con trai cũng chủ yếu ở bên ngoài.

며느리는 혼잣손에 시아버지 모시기가 점점 더 싫어졌단다. Người con dâu dần dần đâm ra ghét việc một mình phụng dưỡng bố chổng.

며느리가 잘 챙겨 주지 않으니 Vì không được con dâu chăm sóc

영감님 몸에서는 고약한 냄새가 났어. nên cơ thể ông ngày càng bốc mùi hôi.

옷이고 몸이고 퀴퀴한 냄새가 풀풀 풍겼지 뭐야. Thân hình và áo quần của ông cụ bốc mùi khai khai.

“아이고, 아버님은 왜 저러고 사실까?” “Ôi cha làm sao có thể sống như thế này?”

며느리는 얼굴을 찌푸리며 중얼거리곤 했지. Cô con dâu nhăn mặt và lẩm bẩm một mình.

“얘야, 배고프니 밥 좀 다오.” “Trời ơi, cha đói bụng quá. Có gì cho cha ăn không?”

며느리는 못 들은 척 말대꾸도 안 하고, Cô con dâu giả vờ như không nghe thấy gì.

날이 갈수록 점점 더 불퉁스럽게 굴었단다. Và ngày càng trở nên ương bướng hơn.

‘밥을 적게 드리면 똥오줌도 덜 나올 테고, Nếu mình cho ông ta ăn ít hơn thì ông ta ít đi tiểu tiện hơn.

몸이 약해져서 빨리 돌아가시겠지?’ cơ thể sẽ yếu đi rồi ông sẽ mau chết đi “

며느리는 영감님 밥을 차츰차츰 줄여 나갔어. Vì vậy cô con dâu giảm bớt đồ ăn của bố chồng.

영감님 밥이 새 모이만 해졌어. Cuối cùng, đồ ăn dành cho bố chồng nhỏ dần lại như miếng mồi của chim vậy.

반찬이라고는 달랑 김치 한 쪽이거나 간장 한 종지뿐이었지. Thức ăn chỉ là vài miếng dưa Kimchi và thìa xì dầu.

“아이고, 배고파.” “Ôi, ta đói bụng quá.”

영감님은 갈수록 기운이 쑥쑥 빠졌어. Ngày qua ngày người cha chồng càng gầy ốm đi

그리고 얼마 못 가 끙끙 앓기 시작했지. không lâu sau ông ta bị bệnh nặng.

하루는 집에 돌아온 아들이 Một ngày nọ, con trai ông ta trở về nhà

바싹 여윈 영감님을 보고 깜짝 놀랐어. và rất ngạc nhiên khi thấy cha mình ốm yếu.

“아버지, 어디 편찮으세요?” “Cha ơi, cha bị ốm hả cha?”

“아, 아니다. 괜찮다.” “Không, không , cha vẫn khỏe mà.”

영감님은 며느리 눈치를 힐끔 살피고는 더듬거리며 대답했어. Ông ta liếc nhanh nhìn cô con dâu và lắp bắp trả lời.

아들은 아무래도 이상해서 Con trai ông ta thấy có điều gì đó là lạ.

집 밖으로 멀찍이 나와 다시 물어보았지. và hỏi lại cha mình lần nữa khi không có vợ ở đó.

그랬더니 영감님이 뜻밖의 말을 하는 거야. Sau đó anh ta thật bất ngờ khi nghe cha kể chuyện

“얘야, 배고파 못살겠다. “Con ơi, cha sắp chết vì đói.

맛난 음식은 관두고 밥이라도 배불리 먹고 싶구나.” Cha muốn được ăn ngon, cha ước được ăn nhiều cơm.”

아들은 기가 막히고 화도 치솟았지. Người con trai nghẹn lời và nổi giận linh đình nhưng

‘흠, 아내에게 호통을 치면 “Hừm, nếu ta trút giận với vợ mình thì

내가 없을 때 아버지를 더 구박할지도 몰라, cô ta sẽ làm khó dễ với cha mình hơn khi ta đi vắng.

좋은 수가 없을까?’ không có cách gì tốt sao?”

아들은 꾹 참고 곰곰이 생각했어. Anh nuốt giận và suy nghĩ kỹ lưỡng hơn.

“옳지, 그러면 되겠다!” “Đúng rồi. Ta đã có cách.”

아들은 시치미를 뚝 떼고 아내를 불렀어. Anh ta giả vờ không biết gì và gọi vợ đến.

“아, 세상에 신기한 일도 많지 뭐요.” “Trên thế gian này có nhiều điều kì lạ”.

“대체 무슨 일인데요?” “Chuyện gì vậy mình?”.

아내가 바싹 다가앉으며 물었어. Cô vợ đến gần và hỏi:

“북쪽 지방에 갔더니 장터에 사람들이 모여서 “Khi tôi đi đến khu vực phía Bắc

노인들을 비싼 값에 사는 게 아니겠소?” một người ở chợ mua người già với giá cao”.

“예? 노인들을 사 간다고요?” “Cái gì? Họ có mua bán người già à?”.

“암, 뽀얗게 살찐 노인만 사 갑디다.” “Chắc chắn rồi. Nhưng họ chỉ mua người già mập mạp thôi”.

“우리 아버지도 일 년만 잘 먹이면 “Trong một năm nếu chúng ta chăm sóc tốt thì cha sẽ mập mạp.

살이 포동포동 오를 테니 그때 팝시다. đến lúc đó ta bán cha đi.”

삶은 밤을 먹이면 살이 잘 오른다는 구려.” “Có lẽ hạt dẻ luộc sẽ rất tốt cho việc tăng cân”

남편의 말에 아내는 눈을 반짝거렸어. Người vợ chớp chớp mắt khi nghe chồng nói như vậy.

“그게 정말이에요?” “Ồ, vậy sao?”

며칠 뒤, 남편은 다시 장삿길에 나섰지. Vài ngày sau, chồng cô ta vắng nhà để đi buôn.

그때부터 아내는 새사람이 된 듯했어. Từ đó, cô vợ thay đổi như thể cô ta trở thành một người mới.

“아버님, 이것 좀 드셔 보세요.” “Cha ơi, mời cha ăn thử cái này ạ!”

며느리가 한 상 가득 음식을 차려 내자 Khi cô con dâu đặt tất cả các loại thức ăn trên bàn,

영감님은 무척 기뻐하며 잘 먹었어. ông ta ăn no cả bụng với niềm vui sướng.

“거참, 맛있다. 얘야, 고맙구나.” “Ôi, ngon quá. Cảm ơn con nhiều”

며느리는 삶은 밤도 꼬박꼬박 갖다 드렸단다. Ngoài ra, cô ta còn cho ông ta ăn hạt dẻ hằng ngày.

그렇게 날이 가고 달이 갈수록 Càng ngày ông ta càng mập hơn.

영감님은 통통하고 보기 좋게 살이 올랐어. ông cảm thấy thích khi mình mập lên.

날마다 잘 먹고 며느리가 잘 보살펴 주니 vì mỗi ngày cô con dâu đem dâng cho ông nhiều thức ăn.

영감님이 얼마나 기분 좋았겠어? nên ông cảm thấy sung sướng làm sao.

그러니까 신이 나서 부지런히 움직였지. Vì thế ông ta bắt đầu chăm chỉ vui vẻ làm việc hơn.

앙앙 우는 손자는 업어서 토닥토닥 달래고, Ông ta bồng đứa cháu nội đang khóc trên tay mình

밭에 나가 김도 쓱쓱 매고, và nhổ cỏ trên đồng.

거름도 퍼다가 밭에 척척 뿌리는 게 아니겠어. Rồi ông ta thu gom và rải phân khắp cả cánh đồng.

“아유, 아버님 제발 좀 쉬세요.” “Cha ơi, cha nghỉ tay đi”.

“놀면 뭐 하니, 조금이라도 보탬이 되어야지.” “Cha không làm gì ra tiền. Hãy để cha phụ giúp việc nhà”.

영감님은 믿을 수 없을 만큼 바지런해졌어. Không ngờ, ông ta làm việc chăm chỉ

며느리의 눈빛도 몰라보게 순해졌지. và đôi mắt ông ta nhanh nhẹn hơn.

며느리도 영감님도 하하 호호 웃을 일이 많아서 좋았단다. Cô con dâu và bố chồng cảm thấy hạnh phúc và luôn vui vẻ với nhau. ‘ha, ha, ha’

그럭저럭 일 년이 지났어. Một năm trôi qua.

어느 날, 남편이 장사를 마치고 돌아와 아내에게 말했지. Vào một ngày nọ, anh chồng kết thúc chuyến đi buôn và trở về nhà với vợ.

“이제 살이 뽀얗게 쪘으니 아버지를 내다 팝시다.” “Cha tôi trông đủ mập rồi đấy. Vì thế, hãy đem cha ra chợ bán.”

물론 아내를 떠보느라 하는 말이었어. Thực ra anh ta muốn biết vợ mình nghĩ gì.

그 말을 듣고, 아내는 두 팔을 내저었단다. Cô ta quyết liệt phản đối lời đề nghị của chồng và lắc lắc tay chồng.

“아니, 무슨 소리예요? “Anh nói gì vậy?

아버님이 집에서 얼마나 큰 몫을 하신다고요. Cha đã làm việc chăm chỉ.

다시는 그런 소리 마세요.” Đừng bao giờ nói vậy nữa”.

“알았소, 그렇게 하리다. “Được thôi, anh không nhắc lại nữa.

당신이 정 싫다면 할 수 없지.” Nếu như em không thích điều này”

아들은 자기 뜻대로 된 걸 남몰래 기뻐했지. Người con trai thầm hạnh phúc khi nghe điều đó.

부부는 영감님을 모시고 오래도록 잘 살았더래. Cuối cùng, hai vợ chồng chăm lo cho cha chu đáo và sống hạnh phúc mãi mãi.

Có thể bạn thích

TƯ VẤN DU HỌC HÀN QUỐC 24/7

HỖ TRỢ TƯ VẤN TRỰC TUYẾN VÀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THAM GIA

Tả Một Vườn Hoa Quả Mà Em Được Ghé Thăm / 2023

Bài làm

Kì nghỉ hè vừa rồi, ba mẹ dẫn chị và em đi lên nhà bà ngoại chơi. Và em được ngắm nhìn khu vườn của nhà ngoại, rất rộng, nhiều loại cây ăn quả và đặc biệt có rất nhiều cây đang có quả chín mọng. Một khu vườn hoa quả khiến em thích mê, không muốn rời chân bước đi.

Em cũng không biết khu vườn nhà ngoại rộng bao nhiêu, nhưng em đi mãi vẫn không hết. Vì nhà ngoại ở miền núi nên đất rộng. Trong khu vườn hoa quả mùa hè đó em đã đếm được nhiều loại cây ăn quả: cây mít, cây nhãn, cây vải, cây xoài, cây na…Lũ chim chóc nhảy nhót từ cành này sang cành khác và cất tiếng hót líu lo râm ran cả khu vườn. Vì đây là mùa hè nên cây nhãn và cây vải thiều đang độ quả chín. Cây nào cũng sai trĩu quả, những chùm nhãn chi chít nhau, quả bám lấy nhau trên cành cao chót vải. Cây vải thiều thấp hơn, quả to hơn nên nặng trĩu sà xuống mặt đấy. Quả to tròn, da trơn và đặc biệt không có sâu. Bà ngoại bảo không phun thuốc sâu nên em có thể hái ăn mà không sợ bị độc. Nhìn từng chùm vải thiều to, chắc nịch đang kéo căng cành cây bé xíu xuống mà em thích mê.

Ở dưới một số gốc vải có mấy tổ ong be bé, những chú ong cần mẫn rời tổ đi đâu xa để kiếm mật tới tối mới về. Bà bảo đó là ngôi nhà của chúng từ bao nhiêu năm nay.

Nhìn xa xa, ở chỗ có mấy cây na, em nhận ra na cũng đã ra quả to nhưng vẫn còn xanh. Mắt na đang khép chặt, chưa hé mở ra nên chưa ăn được. Quả na to bằng nắm tay của em, tròn tròn nằm vắt vẻo và đung đứa trên cây. Thi thoảng có tiếng lá khô rơi xuống mặt đất, ngheo xào xạc. Bỗng cơn gió từ đầu thổi về khiến những chiếc lá khô ấy theo gió cuốn về một gốc cây khác.

Ở thân hai cây nhãn, bà buộc một chiếc võng chắc chắn, trên võng còn có chiếc quạt mo. Em leo lên và đu mình trên cao, ngắm nắng tràn qua từng ngọn cây, ngắm khu vườn giữa trưa hè oi bức và nghe tiếng bước chân của bà đang chậm chạp đi trong khu vườn.

Mùa hè luôn là mùa sôi động nhất, chốc chốc lại râm ran tiếng ve sầu kêu lên nhức nhối. Những quả na, vải, nhãn vẫn cứ nằm im lìm trên cây như chờ đợi đến mùa thu hoạch. Bà chọn những chủm vải to nhất hái cho nhà em để mang về nhà làm quà quê. Bà vẫn luôn chu đáo như vậy.

Em rất thích thú và cứ muốn ở lại khu vườn trái cây của bà nội mãi mãi. Vì sẽ rất lâu nữa em mới được ba mẹ cho về đây chơi.

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Tiếng Hàn Về Hoa Quả / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!