Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Văn Mẫu Về Uống Nước Nhớ Nguồn Suy Nghĩ Về Đạo Lí # Top 8 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Văn Mẫu Về Uống Nước Nhớ Nguồn Suy Nghĩ Về Đạo Lí # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Văn Mẫu Về Uống Nước Nhớ Nguồn Suy Nghĩ Về Đạo Lí mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chuyển đến Văn mẫu Nghị luận xã hội về câu tục ngữ ” Uống nước nhớ … – Bài viết gồm có dàn ý bài nghị luận và tổng hợp 12 mẫu bài …

Xếp hạng: 3 · ‎112 phiếu bầu

Chuyển đến Chứng minh câu tục ngữ: Uống nước nhớ nguồn mẫu 7 – Bên cạnh đó, ta thấy ” Uống nước nhớ nguồn” còn là … ý và 7 bài văn mẫu cho đề bài: Chứng minh câu tục ngữ … học sinh hiểu hơn về ý nghĩa của câu tục ngữ này, …

Xếp hạng: 3 · ‎1.427 phiếu bầu

Dàn ý chi tiết số 3. I. Mở bài. – Dẫn dắt: đạo lí nhớ về cội nguồn, nhớ ơn những người đã giúp đỡ chúng ta là một truyền …

Xếp hạng: 4,3 · ‎126 phiếu bầu

tech12h.com › bai-hoc › bai-van-nghi-luan-lop-9-voi-c…

Sự hưởng thụ ở đây được ví như “ăn quả”, ” uống nước“. .” Nguồn” có thể được hiểu chính là những người đã tạo ra thành quả về vật chất, tinh thần cho xã hội

4 thg 9, 2019 – Nghị luận xã hội về truyền thống uống nước nhớ nguồn. September 4, 2019 Văn mẫu lớp 9, Văn Mẫu THCS 10,172 Views. Loading …

Chứng minh câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn – văn mẫu. 2 72,064 182 … Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên: * chứng … Nghị luận xã hội về câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn.

Em hãy giải thích câu tục ngữ: ” Uống nước nhớ nguồn” – Văn mẫu – Nghị luận xã hội về câu tục ngữ ” Uống nước nhớ nguồn” – Tìm đáp án, giải bài tập, để học …

Phân tích khổ 3 bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng cực hay – Văn mẫu tổng hợp. Chiến tranh đi qua để lại trong ta bao nhiêu đau thương, mất mát về cả …

Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ về đạo lí uống nước nhớ nguồn

Viết đoạn văn nghị luận về đạo lý uống nước nhớ nguồn

Suy nghĩ về đạo lí uống nước nhớ nguồn văn 9

Nghị luận Uống nước nhớ nguồn lớp 7

Dàn ý suy nghĩ về đạo lí Uống nước nhớ nguồn

Suy nghĩ của em về đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta

Dàn ý giải thích câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn

Biểu hiện của uống nước nhớ nguồn

Từ Ý Nghĩa Bài Thơ “Ánh Trăng” Của Nguyễn Duy, Suy Nghĩ Về Đạo Lí “Uống Nước Nhớ Nguồn” Của Dân Tộc

Từ ý nghĩa bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy, suy nghĩ về đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.

Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm – Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ(Hồ Chí Minh)

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?

“Việc quân, việc nước bàn xong(Đối nguyệt) (Đồng chí – Chính Hữu) Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.

Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ – lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:

Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác:

Cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới:

Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự. Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ – hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…

Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.

Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:

Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…

Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ – nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”.

Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.

Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:

Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.

Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:

“Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ ” cố hương ” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng.

Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương…

Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:

Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu.

Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn đầy bất diệt.

Theo chúng tôi

Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói lòa của ánh điện cửa gương, với những vật dụng ngày càng hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng băn khoăn, trăn trở về sự thay đổi của lòng người như thế trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Sự thật, người lính sau khi rời vùng “núi đồi” về với “thành thị”, từ biệt “bản làng” về với “phố cao”, “sáng đèn” đã không còn nhớ đến “ánh trăng giữa rừng” nữa. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ. Là ánh trăng đã khác ánh trăng của ngày xưa, là người bạn, người đồng chí những năm tháng ấy. Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng, chỉ có hoàn cảnh sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính họ đã thờ ơ, họ quên đi. Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến như tri kỉ, vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thì nó lại bị lãng quên.

Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị người đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.

Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.

Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.

Chủ đề và ngữ liệu liên hệ, so sánh trong bài văn nghị luận văn bản lớp 9 – Luyện thi tuyển sinh 10 – Thế Kỉ

Phân Tích Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn Qua Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Phân tích đạo lý uống nước nhớ nguồn qua bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy

-Trăng đã từ lâu đi vào trong lòng người qua rất nhiều tác phẩm văn học. Trăng không rực rỡ chói chang như mặt trời, nhưng trăng lại là nguồn cảm xúc để cho ta gợi lên những nỗi niềm sâu lắng.

-Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đã góp vào kho tàng văn học Việt Nam bài thơ Ánh trăng thật đặc sắc. Ba khổ cuối của đoạn thơ gợi nhắc chúng ta về truyền thống uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

b.Triển khai:

-Ở những khổ thơ đầu, tác giả kể về thuở nhỏ, lúc chiến tranh, trăng và con người chung sống thân thương, tri kỉ. Khi cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện cửa gương, với những vật dụng ngày càng hiện đại thì con người quên đi ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường.

-Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co uốn khúc. Cuộc sống hiện đại luôn có những biến động bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị cùa quá khứ gian lao mà nghĩa tình:

thình lình đèn điện tắt phòng buynh đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn.

-Nhà thơ chỉ sử dụng bốn câu, hai mươi từ, các từ thình lình, vội, đột ngột diễn tả tình thái đầy biểu cảm thể hiện sự bất ngờ, ngẫu nhiên của cuộc tri ngộ. Hoàn cảnh gặp gỡ đó khiến nhà thơ bàng hoàng. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc ánh trăng cho ánh điện. Ở đây còn là sự thức tỉnh và gợi nhớ cho ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị trong cuộc sổng. Hành động bật tung diên tả trạng thái cảm xúc thật mạnh mẽ, bất ngờ, có cái gì đó như là thảng thốt, lo âu trong hình ảnh vội bật tung cứa số.

-Vâng trăng tròn đâu phải khi đèn điện tắt mới có. Cũng như nhũng năm tháng của quá khứ, vẻ đẹp cùa đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Nhưng đột ngột vầng trăng tròn lạ là một biên cố. Chính biến cố này đã cánh tinh tâm hồn nhà thơ.

-Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường trong khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chú đề tác phẩm. Chính vì sự xuất hiện đột ngộ trong đặc biệt trong bối cảnh đặc biệt ấy, vầng trăng xuât hiện bât ngờ mà tự nhiên đã gọi lại bao nghĩa tình. Một sự việc xay ra, kéo con người về quá khứ. Noi thành phố hiện đại lắm ánh điện, cửa gương, người ta chăng mấy lúc cần, ít khi chú ý đến ánh trăng. Sự xua hiện đột ngột của vầng trăng ờ tình huống đặc biệt mới tự nhiên gây ấn tượng mạnh. Chính sự xuất hiện đột ngột trong bối cảnh ấy, vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên gợi lại bao kỉ niệm nghĩa tình: ngứa mặt lên nhìn mặt có cái gì nmg rung như là đông Ici bê như Ici sông là rùng.

-Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này, như có một cái nhìn đầy áy náy, xót xa: ngừa mặt lèn nhìn mặt. Hai chừ mặt trong vần thơ mặt trăng và mặt người cùng đôi diện đàm tủm. Nhà thơ đối diện với vầng trăng cũng là đối diện cũng chính là đối diện với lương tâm cùa mình. Đây là sự đối diện với quá khứ và hiện tại, giữa sự thủy chung và bội bạc, giữa lòng vị tha và thói ích kỉ.

-Trăng chẳng nói, chẳng trách, thế mà người lính như cảm thấy có cái gì đó rung rưng. Rung rung nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra và sắp khóc. Quá khứ ùa vè bao kỉ niệm đẹp của một đòi ngưòi ùa về, tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với done, với sông, với bể, với rừng.

-Cấu trúc câu thơ song hành, nghệ thuật so sánh với điệp tù’ là cho ta thấy ngòi bút của tác giả thật tài hoa. Sự gặp gỡ bất ngờ giữa người và trăng là sự gặp gỡ những người bạn, những tâm hồn tri âm tri ki. Nhà thơ xúc động nghẹn ngào vì gặp lại cố nhân, gặp lại một gương mặt thân yêu và cũng chính là gương mặt cùa chính tâm hồn mình. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột cùa vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí của nhà thơ về hình ảnh thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hòa hiện hình trong nỗi nhớ, trong cảm xúc rưng rưng cùa một con người đang sống giữa phố phường hiện đại. Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại một không gian tình nghĩa: đồng bể, sông, rừng. Ánh trăng soi rọi tâm hồn, khiến nhà thơ bừng tỉnh:

-Trăng – hay quá khứ nghĩa tình vẫn tràn đầv, viên mãn, thuỷ chung. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn toả sáng đầy ắp yêu thương dẫu con người đã lãng quên. Trăng im phăng phắc, một cái lặng lẽ đến đáng sợ. Trăng không hề trách móc con người quá vô tâm như một sự khoan dung, độ lượng, vầng trăng dửng dưng không có một tiếng động nhưng lương tâm con người lại đang bộn bề trăm mối. Ánh trăng hay cũng chính là quan toà lương tâm đang đánh thức một hồn người. Chỉ im lặng thôi vầng trăng đã thức tỉnh, đánh thức con người sau một cơn mê dài đây u tôi. Ánh trăng là cội nguồn quê hương, là nghĩa tình bè bạn, là hiện thân của lòng bao dung trắc ẩn. Trăng vẫn đẹp, quá khứ vẫn còn và con người vẫn còn cơ hội sửa chữa sai lầm.

-Thành công của Nguyễn Duy chính là đã mượn cái giật mình của nhân vật trữ tình trong bài thơ để qua đó rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người, nhất là thế hệ của ông, không được phép lãng quên quá khứ, cần sống có trách nhiệm với quá khứ, coi quá khứ là điểm tựa cho hiện tại, lay quá khứ đê soi vào hiện tại. Thủy chung với vầng trăng cũng chính là thủy chung với quá khứ của mồi con người. Đó là tiếng lòng của một người cũng là tiếng lòng của bao người, bởi dù cho lời thơ cuối cùng khép lại thì dư âm cùa nó vẫn còn ngân lên, tạo một sức am ảnh thật lớn đối với người đọc. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch, chân thành, ở tính biểu cảm, ở tính hình tượng độc đáo và hàm súc của ngôn ngữ, hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thìa.

-Đoạn thơ với thể thơ năm chữ cùng với nhịp thơ trôi chảy, tự nhiên và nhịp nhàng theo lời kể đã thể hiện được tâm trạng suy tư của tác giả. Cùng với phép nhân hóa và so sánh, vầng trăng hiện lên như một con người có tri giác, một người bạn tri âm tri kỉ.

-Dù xã hội ngày càng văn minh, hiện đại nhưng ánh trăng trên trời cao và cả ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn thật sự cần thiết với mỗi con người bởi nó là tấm gương sáng nhất giúp chúng ta soi vào để nhận ra những gì trong lành tinh khôi nhất của cuộc đời. Đoạn thơ không chỉ là lời tự nhắc nhờ bản thân của Nguyễn Duy mà còn là thông điệp của tác giả muốn gửi gắm đến mọi người về thái độ sống ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Suy Nghĩ Về Câu Ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây

Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây – Bài làm 1

Ông cha chúng ta từ xưa đến nay vẫn thường căn dặn con cháu phải biết nhớ đến những người đã không tiếc máu xương để giành lại quyền độc lập, tự do cho đất nước Việt Nam ta như hôm nay. Nhưng đó không chỉ là các anh bộ đội, các chị thanh niên xung phong mà còn là biết bao thế hệ người Việt Nam ta đã cùng chung sức, chung lòng mới có được đất nước Việt Nam tươi đẹp, phồn vinh nnhư hôm nay. Chúng ta, những thế hệ cháu con phải biết khắc cốt, ghi tâm công lao trời biển đó của ông cha ta và không ngừng phát huy những thành quả mà những người đi trước đã nhọc nhằn mang lại. Đây chính là lời khuyên mà câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ” muốn gửi đến mọi người chúng ta và muôn dời con cháu mai sau.

Được hưởng một nền độc lập, tự do như hôm nay nhiều bạn HS đã quên mất một điều rằng cuộc sống hôm nay được đổi bằng máu xương, mồ hôi và nước mắt của bao lớp người đi trước. Câu tục ngữ là một lời khuyên với chúng ta: khi ăn một quả thơm ngon ta phải nhớ đến người đã trồng ra cây đó. Trồng được một quả ngọt phải đổ bao nhiêu mồ hôi và phải dãi dầu mưa nắng. Như ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ lại muốn khuyên chúng ta khi được hưởng m,ột thành quả nào đó thì phải nhớ ơn những người đã tạo ra thành quả đó. ăn quả” ở đây là hình ảnh nói về những người hưởng thành quả, còn trồng cây” là hình ảnh nói về những người làm ra thành quả cho người khác hưởng thụ. Nếu ta hiểu cuộc sống ấm no tốt đẹp này hôm nay là thành quả mà ta hưởng thụ vậy ai là người đã làm ra thành quả của ngày hôm nay? Trước hết đó là cha, mẹ người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng từ khi ta còn bé cho đến ngày lớn khôn. Họ là người luôn dõi theo từng bước đi của chúng ta, an ủi, động viên, dìu dắt chúng ta trở thành những người có ích cho xã hội. Đó là thầy, cô giáo – người đã cho chúng ta ánh sáng tri thức – một hành trang qúi giá nhất để chúng ta vững bước vào đời. Đó là những anh bộ dội, những chị thanh niên xung phong đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cùng một phần xương máu của mình để góp phần tạo nên cuộc sống tươi đẹp hôm nay. Đó là những nhà khoa học đã dốc sức lao động trí óc để tạo nên những của cải, vật chất làm giàu cho xã hội, cho chúng ta được hưởng thụ và còn biết bao nhiêu người khác nữa đang âm thầm cống hiến mà không cần được tôn vinh. Những con người đó dù ở vị trí nào vẫn luôn luôn cố gắng hết mình, phấn đấu hết mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước…

Vậy vì sao ăn quả” phải nhớ kẻ trồng cây”? vì tất cả những người trồng cây đã không tiếc mồ hôi, công sức, trí tuệ thậm chí cả xương máu, cả cuộc đời để đem lại quả ngọt” cho đời. Đã bao giờ ta tự hỏi: Tại sao ta lại có mặt trên cuộc đời này? Đó bởi công ơn của cha mẹ đã mang nặng, đẻ đau đã sinh ra ta từ một hòn máu đỏ. Giây phút chúng ta cất tiếng khóc chào đời cũng chính là giây phút hạnh phúc ngập tràn trong lòng cha mẹ. Rồi Người chăm bẵm, dạy dỗ chúng ta khôn lớn thành người. Tiếng gọi Mẹ, Ba và những bước đi chập chững đầu tiên của con trẻ chính là những nấc thang tột cùng hạnh phúc của mẹ cha. Họ luôn ở bên cạnh chúng ta có được cuộc sống bình yên, hạnh phúc như ngày hôm nay. Rồi những người công nhân, kĩ sư, bác sĩ đã không tiếc công sức, mồ hôi, trí tuệ lao động xây dựng cuộc sống. Họ là những người dám hi sinh tất cả cuộc đời mình để cống hiến cho đất nước.điều đó cũng rất phù hợp với tình người. Bởi vậy, chúng ta phải nhớ ơn họ vì đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được truyền dạy từ bao thế hệ nay: Uống nước nhớ nguồn”, Chim có tổ, người có tông”.

Các câu ca dao, tục ngữ trên chính là những lời khuyên mà ông bà chúng ta muốn truyền dạy lại cho con cháu. Đó là những nét đẹp về văn hoá của dân tộc chúng ta mà thế hệ con cháu chúng ta dù sống trong hoàn cảnh nào cũng phải luôn nhớ tới.

Hiểu vấn đề như thế, vậy chúng ta phải hành động thế nào? Cuộc sống của chúng ta phải đền ơn, đáp nghĩa rất nhiều. Trong kháng chiến, chúng ta có phong trào Trần Quốc Toản giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ. Phong trào này được nhanh chóng lan rộng ra trên khắp mọi nơi. Các bạn nhỏ sau giờ học đều toả ra các xóm, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ,, các gia đình có công với Cách mạng bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng mang nặng nghĩa tình, góp phần động viên, an ủi rất lớn đối với họ. Xã hội luôn nhớ đến công ơn mà những người chồng, người cha, người con của họ đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. Trong xã hội bây giờ, cuộc sống tuy có đổi khác nhưng Đảng, Nhà nước đã có những chế đọ, chính sách đói với những gia đình thương binh, liệt sĩ. Phong trào nhanh chóng được lan rộng ra khắp mọi nơi, các bạn nhỏ hằng ngày, sau giờ học, đều toả ra những lối xóm để giúp đỡ những gia đình thương binh liêt sĩ neo đơn bằng những đóng góp và những việc làm cụ thể mang nặng tình nghĩa. Những việc làm tuy nhỏ bé nhưng góp phần an ủi động viên rất lớn đối với những gia đình thương binh, liệt sĩ. Xã hội vẫn luôn nhớ đến công ơn mà người con, người cha, người chồng của họ đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. Trong xã hội bây giờ, cuộc sống tuy đổi khác, nhưng Đảng và nhà nước ta vẫn luôn nhớ đến công ơn của họ bằng cách xây dựng những ngôi nhà tình nghĩa, có chế độ chính sách riêng đối với những gia đình thương binh, liệt sĩ. Đối với cha mẹ, cũng có những người con hết mực thương yêu, kính trọng cha mẹ vì họ hiểu chính cha mẹ đã cho họ cuộc sống tươi đẹp như hôm nay:”Công cha nặng lắm cha ơi! Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”.

Bên cạng đó trong xã hội của chúng ta vẫn còn tồn tại những kẻ vô ơn. Ngoài xã hội, cũng có những kẻ quên quá khứ tình nghĩa, Vong ân bội nghĩa”, Ăn cháo đá bát” chỉ biêt coi trọng đồng tiền, giàu sang, phú quý, chạy theo dang vọng mà quên rằng: ai là người sinh ra họ, đã nuôi dưỡng và dạy dỗ họ nên người. Đối với cha mẹ, họ ỷ lại vào công việc, mà không quan tâm chăm sóc mẹ mình. Ỷ lai đồng tiền, họ bỏ mắc ba mẹ ở trại dưỡng lão, không thèm hỏi han quan tâm đến cha mẹ của mình. Đối với loại người đó, xã hội chúng ta cần lên án và phê phán. Qua đó, nâng tầm nhận thức để chúng ta luôn luôn nhớ ơn những người đi trước, những người đã hi sinh xương máu cho đất nước.

Câu tục ngữ trên mộc mạc, đơn giản nhưng đã dạy cho chúng ta những bài học quý giá: không có thành quả nào tự nhiên mà có được mà tất cả đều được tạo ra từ thành quả lao động, bằng mô hôi, xương máu của những người đi trước để có được thành quả như ngày hôm nay. Chúng ta thế hệ mầm non của tương lai của đất nước nguyện sẽ chăm chỉ học tập để có thể xây dựng bảo vệ và giữ gìn những thành quả mà ông cha ta đã tạo ra và luôn luôn nhác nhở nhau:” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây “.

Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây – Bài làm 2

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã để lại cho chúng ta vô số những bài học quý báu về đạo làm người. Trong đó đạo lý ” ăn quả nhớ cây trồng cây ” được xem là lời nhắc nhở cũng như dạy bảo cho con cháu mình phải sống sao cho ân nghĩa thủy chung, biết trên biết dưới. Truyền thống tốt đẹp đó vẫn tồn tại và phồn vinh cho tới tận bây giờ.

Đây chính là lời căn dặn của ông cha ta về văn hóa ứng xử về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc. Mỗi khi chúng ta ăn những sản vật là những trái chín mọng nước, thơm lành và tưới mát thì hãy nhớ tới công lao của những người nông dân mà họ đã bỏ mồ hôi, nước mắt và thậm chí là máu của mình để chăm chỉ vun xới cho chúng được trưởng thành thành từ những cây non. Ông cha ta thật hay, thật tuyệt vời, họ luôn lấy những hình ảnh gần gũi, thân thiện nhất của cuộc sống chúng ta, đưa nó vào so sánh với vẫn đề đạo lý, cha ông ta dạy có ý rằng: Những ngươi mà đang được nhận thành quả lao động đó phải luôn nhớ và biết ơn những người đã tạo ra nó.

Vì sao chúng ta lại phải nhớ tới những người đã tạo ra những “trái ngọt” cho đời. Bởi như chúng ta đã biết những thành quả mà chúng ta đang hưởng thụ và tận hưởng chính là thành quả do chính công sức của cả một tập thể làm nên, chứ không phải tự nhiên mà có được. Tất cả những gì do con người làm ra đó là thành quả của mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của biết bao lớp người đã đổ xuống đổ tạo nên. Bạn nhớ rằng: những bát cơm mà chúng ta ăn hằng ngày là do mô hôi, công sức của các bác nông dân làm việc miệt mài, “một nắng hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, quần áo mà bạn, gia đinh mình mặc hàng ngày chính là do công sức, lao động cần cù, miệt mài của những người thợ, những chú công

Những thành quả về văn hóa, di sản của dân tộc đã được ông cha ta giữ gìn và phát triển cho tới ngày hôm nay, đó là do công sức, bàn tay, khối óc của những nghệ nhân lao động sáng tạo không ngừng…Còn chúng ta, con cháu những thế hệ sau phải biết nhớ và biết ơn những người đã có công gìn giữ cho tới tận ngày nay, chúng ta không thể nào lãng quên, vô tâm không cần biết đến người đã tạo ra chúng ư?.

Đặc biệt, giai đoạn nước ta gặp khủng hoảng nhất chính là thời kì bị các thế lực phong kiến đô hộ. Một thời gian dài đằng đẳng sống trong cảnh đêm dài nô lệ. Biết bao thế hệ đã ngã xuống lớp khác đứng lên quyết tâm đánh đuổi kẻ thù…để cho ta có được cuộc sống độc lập, tự do như hôm nay. Chính vì vậy, ta không thể nào được quên những hi sinh to lớn và cao cả ấy.

Đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là đạo lý làm người, là bổn phận và nhiệm vụ của chúng ta đối với những người đi trước, với đời. Tuy nhiên, cái quan trọng là hành động đừng nói suông. Để đáp ơn lại công ơn cho những người đã ngã xuống vì độc lập tự do cho nhân dân và đất nước, nhà nước đã có những phong trào đền ơn đáp nghĩa, xây dựng những ngôi nhà tình nghĩa cho các bà mẹ anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ. đạo lý đền ơn đáp nghĩa này đã trở thành phong trào, chính sách lan rộng cả nước.

Hoạt động này không chỉ là sự đền đáp công ơn đơn thuần, chung chung nữa mà nó đã trở thành bài học giáo dục thiết thực của ông cha ta về đạo lí làm người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải ý thức bảo tồn và phát huy những thành quả đạt được ấy ngày càng tốt đẹp hơn.

Nếu con người có quy luật: sinh lão bênh tử, thì đạo lý ấy cũng theo một quy luật mà chúng ta không thể bỏ qua được “người ăn quả” của hôm nay vừa là “người trồng cây” cho ngày mai. Bố mẹ, cha mẹ chính là người tạo cho ta quả ngọt. Vì vậy chúng ta cần phải thực hiện bổn phận làm con trong gia đình, học sinh ở trong nhà trường. Làm được như vậy tức là ta đã thể hiện được lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với những người đã hy sinh, thương yêu lo lắng cho ta. Đây là một việc làm không thể thiếu được ở thế hệ trẻ hôm nay.

Qua câu tục ngữ nay, chúng ta hiểu rõ hơn về đạo lý làm ngượi Lòng biết ơn chính là tình cảm cao quý và cần phải có trong mỗi con người. Vì vậy, chúng ta cần phải luôn trau dồi phẩm chất cao quý đó, nhất là đối với cha mẹ, thầy cô… với những ai đã tạo ra thành quả cho ta hưởng thụ. Lòng biết ơn mãi mãi là bài học quí báu và câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” có giá trị và tác dụng vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta.

Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây – Bài làm 3

Trong cuộc sống, đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nó thể hiện sự văn minh, lịch sự, nếp sống, tính cách, và phần nào có thể đánh giá được phẩm chất, giá trị bản thân con người. Và có rất nhiều mặt để đánh giá đạo đức, phẩm chất của con người. Một trong số đó là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà người khác đã giúp đỡ mình. Đó cũng là một chân lí thiết thực trong đời thường. Chính vì vậy ông cha ta có câu: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây hay Uống nước nhớ nguồn.

Cả hai câu tục ngữ trên đều mang một triết lí nhân văn sâu sa. Đó là cần phải biết ơn những người đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho chúng ta.Câu đầu tiên mượn hình ảnh ăn quả và trồng cây ý muốn nói, khi được hưởng thụ những trái ngọt, trái thơm, cần nhớ tới công sức, mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó. Điều đó được ẩn dụ nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, cho phải đối với những người đã giúp đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm. Hành động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người. Tất cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công sức của biết bao lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người nông dân làm ra, một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày ta đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật, những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa mà thế hệ trước đã làm nên nhằm mục đích phục vụ thế hệ sau. Tất cả, tất cả cũng chỉ là những công sức lớn lao, sự tâm huyết của mỗi người dồn lại đã tạo nên một thành quả thật đáng khâm phục để ngày nay chúng ta cần biết ơn, phục hồi, tu dưỡng, phát triển những di sản đó. Những lòng biết ơn, kính trọng không phải chỉ là lời nói mà còn cần hành động để có thể thể hiện được hết ân nghĩa của ta. Đó chính là bài học thiết thực về đạo lí mà mỗi con người cần phải có.

Đến câu tục ngữ thứ hai Uống nước nhớ nguồn. Cũng giống câu tục ngữ thứ nhất. Câu tục ngữ này đều mang ý ẩn dụ dưới hình thức cụ thể, sinh động. Nước chính là thứ chúng ta hưởng thụ còn nguồn chính là người tạo ra cái để chúng ta hưởng thụ đó. Câu tục ngữ này chỉ vẻn vẹn có bốn chữ mà ý tứ sâu xa ẩn dưới cấu trúc mô hình điều kiện, hệ quả. Nói đến nước trong nguồn là nói đến sự mát mẻ, thanh tao. Và nguồn nước sẽ mãi không bao giờ vơi cạn. Chữ nhớ trong câu là một từ quan trọng, tâm điểm của câu tục ngữ. Ý nghĩa câu tục ngữ này thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Lòng nhớ ơn luôn mang một tình cảm cao đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhân văn. Nó giáo dục chúng ta cần biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những anh hùng vĩ đại đã hi sinh, lấy thân mình, mồ hôi xương máu để bảo vệ nền độc lập cho đất nước, giữ vững bình yên vùng trời Tổ quốc cho chúng ta có những năm tháng sống vui sống khoẻ và có ích cho xã hội, phần để thực hiện đúng trách nhiệm, bổn phận của chúng ta, phần vì không hổ thẹn với những người ngã xuống giành lấy sự độc lập. Có ai hiểu được rằng, một sự biết ơn được thể hiện như một đoá hoa mai ửng hé trong nắng vàng, một lòng kính trọng bộc lộ như một ánh sao đêm sáng rọi trên trời cao. Đó là những cử chỉ cao đẹp, những hành động dù chỉ là nhỏ nhất cũng đều mang một tấm lòng cao thượng. Những người có nhân nghĩa là những người biết ơn đồng thời cũng biết giúp đỡ người khác mà không chút tính toan do dự. Chính những hành động đó đã khơi dậy tấm lòng của biết bao nhiêu con người, rồi thế giới này sẽ mãi là một thế giới giàu cảm xúc.

Tóm lại hai câu tục ngữ trên giúp ta hiểu được về đạo lí làm người. Lòng tôn kính, sự biết ơn không thể thiếu trong mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta luôn phải trau dồi những phẩm chất cao quý đó, hãy biết rèn luyện, phấn đấu bằng những hành động nhỏ nhất vì nó không tự có trong mỗi chúng ta. Chúng ta cần phải biết ơn những người đã có công dẫn dắt ta trong cuộc sống nhất là đối với những người trực tiếp giúp đỡ chỉ bảo ta như cha mẹ, thầy cô. Bài học đó sẽ mãi là một kinh nghiệm sống ẩn chứa trong hai câu tục ngữ trên và nó có vai trò, tác dụng rất lớn đối với cuộc sống trên hành tinh này.

Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây – Bài làm 4

Đạo đức chính là một trong những giá trị cao đẹp và lớn lao mà mỗi con người cần phải có. Có rất nhiều cách thể hiện đạo đức từ trong lối sống hay những suy nghĩ cao đẹp cũng đã phần nào thể hiện được đạo đức của một con người. Các bậc tiền nhân xưa cũng đã thật tài tình khi thông qua các câu tục ngữ để mang đến lời khuyên răn, răn dạy con cháu phải sống cho đúng đạo lý. Và việc ghi nhớ công ăn của những người đi trước cũng chính là một trong những điều đáng nhớ và đáng học hỏi của chúng ta. Câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ” chính là câu tục ngữ mang được lời dạy tốt đẹp đó.

Câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ” là một trong những câu tục ngữ ngắn gọn và cũng rất đặc sắc, nó dường như cũng đã mượn hình ảnh ăn quả và trồng cây để nói lên những điều sâu sắc hơn. Câu tục ngữ như đã nói lên đó chính là việc chính ta được ăn những trái thơm ngon. Và ta cũng phải đặc biệt nhớ rằng khi chúng ta cũng đã được tận hưởng và cũng đã được hưởng thụ những trái ngọt, trái thơm kia thì phải biết rằng những trái chín thơm này không phải tự nhiên mà có được. Chúng ta cũng phải cần nhớ tới công sức, cũng như quý trọng những giọt mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó.

Qua câu tục ngữ này dường như ta cũng đã thấy được rằng, tất cả những việc hưởng quả ngon, chín thì phải nhớ ơn người đã trồng cây để cho ra những quả đó. Thông qua đây thì đã tài ẩn dụ nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, và hơn nữa cũng phải cư xử sao cho phải đối với những người đã giúp đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm của chính mình. Tất cả điều này cũng đã cho chúng ta thấy được hành động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, đồng thời cũng chính là một lối ứng xử đúng đắn mà ta có được. Thực sự ta như thấy được chính lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đồng thời ta cũng nên hiểu được rằng, đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, và cũng thật là thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người.

Chúng ta nên nhớ rằng tất cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có được. Những thành quả đó chỉ có được khi nó được gây dựng lên nhờ chính những công sức của biết bao lớp người. Ta như thấy được cũng chính từ những bát cơm dẻo tinh trên tay ta ăn hàng ngày thì đó cũng do bàn tay người nông dân làm ra. Thực sực để có thể làm ra một hạt lúa vàng thì cũng đã phải có tới chín giọt mồ hôi mà. Một điều mà từ trước đến nay ta coi như hiển nhiên đó chính là đến tấm áo ta mặc. Ta dường như cũng đã thấy được rằng mỗi chiếc giày ta đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người công nhân cũng đã phải khó nhọc và trải qua biết bao nhiêu công đoạn. Hơn thế nữa người thợ dường như cũng đã cùng với sự miệt mài, cần cù trong đó thì mới có thể tạo ra đôi giày cho chúng ta như hiện nay. Thế rồi ta cũng nên biết được rằng, chính những di sản văn hoá nghệ thuật, hay đó cũng chính là những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho con cháu. Và không thể không nhắc đến những người đã hi sinh thầm lặng ngày đêm biết bao những khó khăn, cơ cực để cho bầu trời tự do thêm xanh và lá cờ như thêm thắm đỏ.

Tất cả chúng ta cũng cần phải biết được rằng, chính những lòng biết ơn, kính trọng không phải chỉ là lời nói mà còn cần hành động cụ thể và rõ ràng. Tất cả các hành động này dường như phải thể hiện được hết ân nghĩa của ta. Đó chính là bài học thiết thực về đạo lí mà mỗi con người cần phải có trong mỗi chúng ta. Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” như cũng đã gợi nhắc chúng ta sống sao cho thật đúng đắn và cũng thật có tình nghĩa. Tất cả sự vật, hiện tượng xung quanh ta hiện nay có được đó chính là những công sức, những giọt mồ hôi, thậm chí có cả sự hi sinh. Vậy, thế hệ đi trước đã cống hiến cho đất nước như vậy rồi chẳng có lý do gì để ta quên công lao của họ cả. Công lao của họ như hiện hữu ngay trong chính cuộc sống của chúng ta nên quả thật sự biết ơn thực sự cần có trong mỗi con người chúng ta hiện nay.

Tóm lại ta như thấy được câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ” dường như cũng đã giúp ta hiểu được về đạo lí làm người. Thực sự đó chính là lòng tôn kính, sự biết ơn là một phẩm chất đạo đức không thể thiếu trong mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay càng phải ghi nhớ những công ơn to lớn của các thế hệ đi trước đó.

Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây – Bài làm 5

Từ ngàn đời xưa tới nay, ông cha ta thường dặn dò con cháu chúng ta luôn phải biết ơn, trân trọng những người đã tạo ra thành quả ngọt bùi cho chúng ta hưởng thụ. Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là một câu tục ngữ vô cùng ý nghĩa thể hiện quan niệm sống vô cùng nhân đạo, ý nghĩa nhân văn của người xưa muốn gửi tới con cháu mình.

Câu tục ngữ là một lời khuyên nhủ vô cùng đúng đắn của ông bà ta với con cháu hôm nay. Nếu như xét về nghĩa đen thì khi chúng ta ăn một quả ngọt thơm ngon chúng ta cần phải tìm hiểu xem cây ấy do ai trồng ra, quả ngọt này từ đâu mà có để thể hiện sự tri ân biết ơn của mình với người vun trồng chăm sóc quả ngọt đó.

Vì vậy, khi chúng ta ăn một quả thơm ngon thì cần phải nhớ ơn người trong ra cái cây đó, chăm sóc nó để ta được hưởng thành quả hôm nay.

Nhưng ý nghĩa sâu sắc của của câu nói này chính là muốn nhắc nhở con người chúng ta cần sống biết nguồn cội biết nhớ ơn những người có công lao với ta. Trước tiên với cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, sau đó là quê hương, tổ quốc những người đi trước đã hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương tổ quốc cho chúng ta hưởng cuộc sống hạnh phúc ấm no.

Hình ảnh ăn quả là hình ảnh nó lên sự hưởng thụ những thành quả công lao của người khác. Trồng cây chính là nói lên công sức mồ hôi lao động của người khác, những người tạo ra thành quả cho người khác người thụ.

Những người ăn quả khi được hưởng thụ thì cần phải biết ơn người trồng cây đó là đạo lý ngàn đời, vì tất cả những thành quả ta hưởng không bỗng dưng mà có, phải có người đổ mồ hôi công sức thì mới có được.

Để có được thành tựu to lớn đó nhiều người phải bỏ nhiều tâm huyết, công sức, xương máu của mình ra để bảo vệ, thì mới tạo ra hoa thơm trái ngọt cho chúng ta con cháu mai sau hưởng thụ. Chúng ta sinh ra trên đời đều cho cha mẹ sinh thành dưỡng dục. Cha mẹ đã hy sinh rất nhiều tâm huyết công sức để nuôi dưỡng chúng ta nên người, là những người che chở cho chúng ta từ khi còn trong nôi từ những giọt máu nên hình nên vóc, rồi trưởng thành.

Chính vì vậy biết ơn cha mẹ là điều chúng ta phải làm, công ơn cha mẹ dành cho chúng ta là vô bờ bến không lời nào tả hết. Sau nữa, chúng ta có tri thức, học rộng hiểu nhiều trở thành ông nọ bà kia trong xã hội nhờ công lao dạy dỗ của thầy cô giáo những người làm nghề trồng người, truyền thụ cho ta kiến thức, đạo đức của một con người dạy ta biết điều hay lẽ phải.

Thầy cô giáo chính là cha mẹ thứ hai của chúng ta, mở ra cho chúng ta những chân trời tri thức bao la để chúng ta có thể ước mơ và thỏa sức vẫy vùng chấp cánh cho những ước mơ bay cao bay xa của chúng ta.

Ngoài ra, chúng ta phải biết ơn những người đã đi trước những người đã hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc thân thương của chúng ta, để con cháu hôm nay được hưởng thái bình, được sống vui vẻ tung tăng cắp sách tới trường vui cùng chúng bạn.

Để có những điều này rất nhiều thế hệ đi trước đã phải hy sinh thân mình trong bom đạn để bảo vệ Tổ Quốc thân yêu.

Rồi trên những công trường nông trường công nhân kỹ sư, những người trồng lúa, trồng ngô họ đã làm việc hết mình để tạo ra những sản phẩm vật chất cho quê hương, cho con người sử dụng. Hàng năm, nước ta đều có những ngày lễ tri ân truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” như ngày lễ của các thầy cô giáo 20/11, ngày thương binh liệt sỹ 27/07, rồi ngày thầy thuốc Việt Nam 27/02, ngày báo chí cách mạng 21/06, ngày quân đội nhân dân Việt Nam 22/12…

Tất cả những ngày lễ đó là những ngày để người dân, các con cháu hôm nay tri ân lại công lao của những người hoạt động trong lĩnh vực đó, những người có nhiều thành tích cống hiến cho cuộc đời ngày càng phát triển giàu mạnh, tươi đẹp.

Chúng ta luôn biết ơn, tri ân công lao to lớn của họ, vì đây là truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta để lại, thể hiện tấm lòng của thế hệ hôm nay với người đi trước, những người đã và đang cống hiến âm thầm cho Tổ Quốc này.

Phận làm con, là học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải có thái độ yêu thương, kính trọng với cha mẹ, thầy cô của mình. Cần học tập tốt, ngoan ngoãn lễ phép để báo hiếu cha mẹ, thể hiện thái độ “Tôn sư trọng đạo” với thầy cô giáo.

Câu tục ngữ ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” thật sự là bài học quý giá to lớn với tất cả các học sinh chúng ta hôm nay. Nó là một lời khuyên vô cùng đúng đắn một bài học làm người mà ta cần ghi nhớ.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Suy nghĩ về câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây thật hay và đạt được kết quả cao.

Bạn đang xem bài viết Bài Văn Mẫu Về Uống Nước Nhớ Nguồn Suy Nghĩ Về Đạo Lí trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!