Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Mưa Xuân” # Top 9 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Mưa Xuân” # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Mưa Xuân” mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu chuyện về mưa xuân nhưng mở đầu bài thơ không phải mưa, không phải cảnh xuân, mà là sự xuất hiện trực tiếp của con người. Một người con gái:

Em là cô gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già. Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng Mẹ già chưa bán chợ làng xa

Đó là một cô gái trẻ làm nghề dệt lụa. Chắc hẳn đây là một cô gái đẹp, tấm lòng cô trong sáng, thuần khiết, được tác giả so sánh như một “vuông lụa trắng” vẫn chưa được mẹ già “bán chợ làng xa” tức là chưa có chồng. Cách nói thật lạ, thật hay! So sánh giản dị, giàu tính tượng hình mà cũng đầy tinh tế. Cô gái trẻ này chính là mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, thuần khiết, nét đẹp giản dị thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính. Nhắc đến sự quen thuộc, tôi chợt nhớ đến “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông” từng xuất hiện trong “Tương Tư”. Sở dĩ có sự liên tưởng này, bởi vì trong 4 câu thơ tiếp theo, hình ảnh Thôn Đoài lại xuất hiện, trong một chiều mưa xuân:

Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay, Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy. Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ, Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

Đến đây, sau khi tả người, Nguyễn Bính đã kể đến chuyện mưa xuân, mưa xuân vào một buổi chiều. Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Đọc câu thơ, ta có cảm giác từ “phơi phới” như làm sống động cả khổ thơ, khiến cho mùa xuân cũng trở nên thật có hồn. Cảm giác như không phải mưa xuân phơi phới mà chính là lòng “em” đang “phơi phới” sắc xuân thì. Mùa xuân như thổi sắc “phơi phới” vào hồn “em” tươi trẻ, khiến hoa xoan cũng nở rộ đẹp xinh, “phơi phới” báo hiệu mùa xuân về. Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ. Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi hay chính tấm lòng thiếu nữ đang mong ngóng nên khấp khởi? Khấp khởi vì sao? Phơi phới vì sao? Phải chăng bởi bởi cái gọi là “gió mưa là chuyện của trời. Tương tư là chuyện của tôi yêu nàng”? Qủa thật vậy:

Lòng thấy giăng tơ một mối tình Em ngừng thoi lại giữa tay xinh Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ tới anh

Ba câu trước miêu tả tâm trạng bối rối xen lẫn chờ đợi, khấp khởi nhưng cũng ngại ngùng e lệ điển hình của cô gái mới biết yêu. Không biết là do “mưa xuân phơi phới”, “hội chèo đi ngang ngõ” hay lời nói của mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại”. Không biết có phải tay xinh ngừng dệt là do lòng “giăng tơ một mối tình”? Lòng mới chỉ “giăng tơ” mà sao “hai má em bừng đỏ”? Tất cả câu hỏi đều được trả lời bằng câu thơ cuối, là do anh, tại anh, là vì nghĩ đến nha: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”. Câu chuyện mưa xuân lại được kể tiếp như nối tiếp tâm trạng bâng khuâng, khấp khởi nhớ đến anh của cô thôn nữ:

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn Em ngửa bàn tay trước mái hiên, Mưa chấm tay em từng chấm lạnh, Thế nào anh ấy chẳng sang xem

Bóng tối bao phủ lấy làng quê, nhà nhà đồng loạt lên đèn. “Em” ra trước mái hiên ngửa bàn tay ra đón lấy những hạt mưa, chính là những hạt “mưa xuân phơi phới”. Dường như khi biết yêu, tâm hồn con người cũng trở nên lãng mạn hơn! Có điều, em đưa tay ra hứng mưa mà chẳng để ý lắm đến mưa, trong lòng “giăng kín” chỉ nghĩ tới Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay”. Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”. Lòng người biết yêu thổi vào mùa xuân cũng có hồn hơn hẳn, bởi “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa:

Em xin phép mẹ, vội vàng đi Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe, Mưa bụi nên em không ướt áo, Thôn Đoài cách có một thôi đê

Từ “vội vàng” xuất hiện trong khổ thơ thật đúng lúc, thật kịp thời, rất đúng với diễn biến tâm trạng của cô gái đang yêu. Đọc đoạn thơ này, nhịp thơ cũng vì từ “vội vàng” mà nhanh hơn một nhịp; có cảm giác như thể em đang vội vàng để đến Thôn Đoài, nhưng đi xem hát đấy mà chẳng phải vì hát đâu, mà là vì anh, vì muốn gặp anh. Em đi nhanh như thế, đến nỗi cách một thôi đê mà mưa bụi cũng chẳng thể làm ướt áo em. Thế cũng đủ hiểu trong lòng em đang vội vã, khấp khởi đến thế nào. Vậy mới nói, không phải phơi phới tại mưa xuân, mà tại lòng xuân:

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm Em mải tìm anh chả thiết xem Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em

Em đi xem hát chèo, người ta hát thâu đêm, chắc hẳn phải vui lắm, hay lắm, nhộn nhịp lắm nhưng em chẳng quan tâm. Với tâm trạng của một thiếu nữ mới biết yêu, điều em quan tâm nhất chỉ có anh. Mặc kệ lời mẹ dặn “xem về kể mẹ nghe”, mải tìm kiếm anh nên em “chẳng thiết xem”. Vậy em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết. Chỉ thấy phía trước và ngay đêm nay, nơi căn nhà ấm cúng của em và Mẹ sẽ có “giường cửi lạnh”. Em không ngủ cũng không dệt nên “thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”. Thoi ngà nhớ người, hay em đang nhớ anh?

Chờ mãi anh sang, anh chả sang, Thế mà hôm nọ hát bên làng,

Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng

Vậy là em không tìm thấy anh, buồn làm sao! Em đã trông mong nhiều như thế, trái tim em thuần khiết như thế. Bốn câu thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hoá ra không dưng mà đầu câu chuyện Mưa xuân, em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh”. Hoá ra họ đã gặp nhau ở đám “hát bên làng” hôm nọ. Anh chàng đã “năm tao bảy tiết” hò hẹn. khiến cô gái “lòng còn như vuông lụa trắng” đã tin tưởng và hôm nay thì lại thấy “cả mùa xuân cũng bẽ bàng”. Anh đã hẹn nhưng rồi anh không đến, khiến hồn Em – một cô gái ngây thơ chờ đợi, tìm kiếm đến buồn bã, bơ vơ. Em thất vọng vì tìm không gặp anh, phải lủi thủi “bẽ bàng” và có cảm giác rằng mùa xuân tươi mới kia, mới đó còn “phơi phới” giờ cũng đã trở nên thật “bẽ bàng”, em lẻ loi, tội nghiệp trở về:

Mình em lầm lũi trên đường về, Có ngắn gì đâu một dải đê Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt Lạnh lùng em tủi với canh khuya

Đám hát tan nhưng đêm chưa tàn. Nếu như ở khổ thơ trước, với tâm trạng “phơi phới”, khoảng cách đến thôn Đoài chỉ ngắn ngủi có một thôi đê, đến nỗi mưa xuân cũng không làm em ướt áo; thì giờ đây, một thôi đê cũng trở nên dài bất tận. Đám hát đã tan, và “em mải tìm anh” trong vô vọng. Anh đã không đến hay là em tìm không gặp?hay là bởi không duyên?. Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp. Chỉ biết rằng giờ đây “mình em lầm lũi trên đường về”! “Mình em tủi với canh khuya”! Có lẽ em là người sau cùng rời đám hát, nên đường về chỉ có mình em. Khi đi, em khấp khởi vui bao nhiêu thì bây giờ về là đoạn đường lê thê. “Mưa nặng hạt” và chỉ có “áo mỏng che đầu” khiến em bị “mưa nặng hạt” làm ướt áo. Thấm lạnh từ mưa và cả cái lạnh từ trong “vuông lụa trắng”, làm em tê tái bước chân trên đường về cô độc.

Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giầy Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Đúng là “Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, mưa xuân giờ đã biết vui. Biết buồn theo em. Mưa “phơi phới” giờ cũng ngại bay, hoa xoan vẫn rụng nhưng không lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa xuân đã cạn ngày”. Em buồn, Xuân buồn, bởi hội tan, gánh chèo rời đi, em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa. Hình ảnh hoa xoan bị đạp dưới chân giày cũng giống như sự ngóng trông, khắc khoải và hy vọng của em vỡ vụn theo trong chiều mưa nặng hạt ấy. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày Bao giờ em mới gặp anh đây? Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!”

Em không gặp được anh, em lủi thủi một mình, em tủi với canh khuya nhưng em không hề mất hết hy vọng. Cô gái trẻ ngây thơ, thuần khiết như “vuông lụa trắng” vẫn chờ đợi, vẫn tin tưởng đó chỉ là chưa gặp, có nghĩa là sẽ gặp, có điều không biết là bao giờ. Bởi biết đâu, hội sau em vẫn sẽ lại không may mắn, lại sẽ không gặp được anh?

Bài thơ Mưa xuân được Nguyễn Bính viết theo thể thơ tứ tuyệt trường thiên. Đó là mùa xuân ở vùng quê bắc bộ những năm nửa đầu của thế kỷ 20. Trong Mưa xuân có bức tranh làng quê ngày xuân, có hội làng, có nỗi lòng của một thôn nữ ở tuổi cập kê. Mưa xuân như một câu chuyện được thi sĩ kể bằng thơ. Đó là một câu chuyện về tình yêu, về nỗi nhớ mong, tương tư của một cô gái trẻ nơi thôn quê thuần khiết. Câu chuyện chưa kết thúc, cứ khiến người đọc vừa hy vọng, lại vừa man mác buồn.

Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ. Nếu như mùa xuân trong thơ Xuân Diệu đẹp đến vô thực, nồng cháy đến khiến ta say mê, điên cuồng muốn chiếm hữu thì mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính lại hoàn toàn khác. Với Mưa xuân , mùa xuân của Nguyễn Bính cũng đậm chất giản dị, thanh bình của làng quê Việt Nam như chính tâm hồn ông vậy!Câu chuyện về mưa xuân nhưng mở đầu bài thơ không phải mưa, không phải cảnh xuân, mà là sự xuất hiện trực tiếp của con người. Một người con gái:Đó là một cô gái trẻ làm nghề dệt lụa. Chắc hẳn đây là một cô gái đẹp, tấm lòng cô trong sáng, thuần khiết, được tác giả so sánh như một “vuông lụa trắng” vẫn chưa được mẹ già “bán chợ làng xa” tức là chưa có chồng. Cách nói thật lạ, thật hay! So sánh giản dị, giàu tính tượng hình mà cũng đầy tinh tế. Cô gái trẻ này chính là mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, thuần khiết, nét đẹp giản dị thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính.Nhắc đến sự quen thuộc, tôi chợt nhớ đến “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông” từng xuất hiện trong “Tương Tư”. Sở dĩ có sự liên tưởng này, bởi vì trong 4 câu thơ tiếp theo, hình ảnh Thôn Đoài lại xuất hiện, trong một chiều mưa xuân:Đến đây, sau khi tả người, Nguyễn Bính đã kể đến chuyện mưa xuân, mưa xuân vào một buổi chiều. Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Đọc câu thơ, ta có cảm giác từ “phơi phới” như làm sống động cả khổ thơ, khiến cho mùa xuân cũng trở nên thật có hồn. Cảm giác như không phải mưa xuân phơi phới mà chính là lòng “em” đang “phơi phới” sắc xuân thì. Mùa xuân như thổi sắc “phơi phới” vào hồn “em” tươi trẻ, khiến hoa xoan cũng nở rộ đẹp xinh, “phơi phới” báo hiệu mùa xuân về. Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ. Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi hay chính tấm lòng thiếu nữ đang mong ngóng nên khấp khởi?Khấp khởi vì sao? Phơi phới vì sao? Phải chăng bởi bởi cái gọi là “gió mưa là chuyện của trời. Tương tư là chuyện của tôi yêu nàng”? Qủa thật vậy:Ba câu trước miêu tả tâm trạng bối rối xen lẫn chờ đợi, khấp khởi nhưng cũng ngại ngùng e lệ điển hình của cô gái mới biết yêu. Không biết là do “mưa xuân phơi phới”, “hội chèo đi ngang ngõ” hay lời nói của mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại”. Không biết có phải tay xinh ngừng dệt là do lòng “giăng tơ một mối tình”? Lòng mới chỉ “giăng tơ” mà sao “hai má em bừng đỏ”? Tất cả câu hỏi đều được trả lời bằng câu thơ cuối, là do anh, tại anh, là vì nghĩ đến nha: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”.Câu chuyện mưa xuân lại được kể tiếp như nối tiếp tâm trạng bâng khuâng, khấp khởi nhớ đến anh của cô thôn nữ:Bóng tối bao phủ lấy làng quê, nhà nhà đồng loạt lên đèn. “Em” ra trước mái hiên ngửa bàn tay ra đón lấy những hạt mưa, chính là những hạt “mưa xuân phơi phới”. Dường như khi biết yêu, tâm hồn con người cũng trở nên lãng mạn hơn! Có điều, em đưa tay ra hứng mưa mà chẳng để ý lắm đến mưa, trong lòng “giăng kín” chỉ nghĩ tới Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay”. Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”.Lòng người biết yêu thổi vào mùa xuân cũng có hồn hơn hẳn, bởi “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa:Từ “vội vàng” xuất hiện trong khổ thơ thật đúng lúc, thật kịp thời, rất đúng với diễn biến tâm trạng của cô gái đang yêu. Đọc đoạn thơ này, nhịp thơ cũng vì từ “vội vàng” mà nhanh hơn một nhịp; có cảm giác như thể em đang vội vàng để đến Thôn Đoài, nhưng đi xem hát đấy mà chẳng phải vì hát đâu, mà là vì anh, vì muốn gặp anh. Em đi nhanh như thế, đến nỗi cách một thôi đê mà mưa bụi cũng chẳng thể làm ướt áo em. Thế cũng đủ hiểu trong lòng em đang vội vã, khấp khởi đến thế nào. Vậy mới nói, không phải phơi phới tại mưa xuân, mà tại lòng xuân:Em đi xem hát chèo, người ta hát thâu đêm, chắc hẳn phải vui lắm, hay lắm, nhộn nhịp lắm nhưng em chẳng quan tâm. Với tâm trạng của một thiếu nữ mới biết yêu, điều em quan tâm nhất chỉ có anh. Mặc kệ lời mẹ dặn “xem về kể mẹ nghe”, mải tìm kiếm anh nên em “chẳng thiết xem”. Vậy em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết. Chỉ thấy phía trước và ngay đêm nay, nơi căn nhà ấm cúng của em và Mẹ sẽ có “giường cửi lạnh”. Em không ngủ cũng không dệt nên “thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”. Thoi ngà nhớ người, hay em đang nhớ anh?Vậy là em không tìm thấy anh, buồn làm sao! Em đã trông mong nhiều như thế, trái tim em thuần khiết như thế. Bốn câu thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hoá ra không dưng mà đầu câu chuyện, em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh”. Hoá ra họ đã gặp nhau ở đám “hát bên làng” hôm nọ. Anh chàng đã “năm tao bảy tiết” hò hẹn. khiến cô gái “lòng còn như vuông lụa trắng” đã tin tưởng và hôm nay thì lại thấy “cả mùa xuân cũng bẽ bàng”. Anh đã hẹn nhưng rồi anh không đến, khiến hồn Em – một cô gái ngây thơ chờ đợi, tìm kiếm đến buồn bã, bơ vơ. Em thất vọng vì tìm không gặp anh, phải lủi thủi “bẽ bàng” và có cảm giác rằng mùa xuân tươi mới kia, mới đó còn “phơi phới” giờ cũng đã trở nên thật “bẽ bàng”, em lẻ loi, tội nghiệp trở về:Đám hát tan nhưng đêm chưa tàn. Nếu như ở khổ thơ trước, với tâm trạng “phơi phới”, khoảng cách đến thôn Đoài chỉ ngắn ngủi có một thôi đê, đến nỗi mưa xuân cũng không làm em ướt áo; thì giờ đây, một thôi đê cũng trở nên dài bất tận. Đám hát đã tan, và “em mải tìm anh” trong vô vọng. Anh đã không đến hay là em tìm không gặp?hay là bởi không duyên?. Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp. Chỉ biết rằng giờ đây “mình em lầm lũi trên đường về”! “Mình em tủi với canh khuya”! Có lẽ em là người sau cùng rời đám hát, nên đường về chỉ có mình chúng tôi đi, em khấp khởi vui bao nhiêu thì bây giờ về là đoạn đường lê thê. “Mưa nặng hạt” và chỉ có “áo mỏng che đầu” khiến em bị “mưa nặng hạt” làm ướt áo. Thấm lạnh từ mưa và cả cái lạnh từ trong “vuông lụa trắng”, làm em tê tái bước chân trên đường về cô độc.Đúng là “Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, mưa xuân giờ đã biết vui. Biết buồn theo em. Mưa “phơi phới” giờ cũng ngại bay, hoa xoan vẫn rụng nhưng không lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa xuân đã cạn ngày”. Em buồn, Xuân buồn, bởi hội tan, gánh chèo rời đi, em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa. Hình ảnh hoa xoan bị đạp dưới chân giày cũng giống như sự ngóng trông, khắc khoải và hy vọng của em vỡ vụn theo trong chiều mưa nặng hạt ấy. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:Em không gặp được anh, em lủi thủi một mình, em tủi với canh khuya nhưng em không hề mất hết hy vọng. Cô gái trẻ ngây thơ, thuần khiết như “vuông lụa trắng” vẫn chờ đợi, vẫn tin tưởng đó chỉ là chưa gặp, có nghĩa là sẽ gặp, có điều không biết là bao giờ. Bởi biết đâu, hội sau em vẫn sẽ lại không may mắn, lại sẽ không gặp được anh?Bài thơđược Nguyễn Bính viết theo thể thơ tứ tuyệt trường thiên. Đó là mùa xuân ở vùng quê bắc bộ những năm nửa đầu của thế kỷ 20. Trongcó bức tranh làng quê ngày xuân, có hội làng, có nỗi lòng của một thôn nữ ở tuổi cập kê.như một câu chuyện được thi sĩ kể bằng thơ. Đó là một câu chuyện về tình yêu, về nỗi nhớ mong, tương tư của một cô gái trẻ nơi thôn quê thuần khiết. Câu chuyện chưa kết thúc, cứ khiến người đọc vừa hy vọng, lại vừa man mác buồn.

Phân Tích Bài Thơ Mưa Xuân Của Nguyễn Bính

Nguyễn Bính là nhà thơ được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Nhắc tới ông, có người nhận xét: “Nguyễn Bính là làn mưa xuân rắc mình lên chốn hương thôn, là lá dâu xanh dập dờn bướm vàng cuối bãi. Nguyễn Bính là chiếc lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn. Nguyễn Bính là sắc nắng chiều man mác trên mỗi thân cau, là ngọn mồng tơi ngập ngừng nơi lưng giậu…”. Một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính phải kể đến bài thơ ” Mưa xuân”- một bức tranh làng quê thấm đượm nỗi lòng cô thôn nữ. Tác phẩm để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả.

“Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của một cô gái thôn quê bên chiếc khung cửi nhỏ. Cô gái hiện lên với công việc dệt lụa quanh năm, ngày ngày gắn liền với chiếc khung cửi tảo tần. Đây là một hình ảnh rất đẹp, thể hiện sự chăm chỉ chịu thương chịu khó của những cô gái làng quê nói riêng và những người nông dân nghèo nói chung. Họ tần tảo sớm hôm tận tuỵ với công việc của mình, không mảy may toan tính với người, với đời. Cô gái như một điểm nhấn trong bức tranh đẹp dịu dàng, được nhà thơ cẩn trọng tô vẽ bằng vần thơ. Ta thấy tấm lòng của người con gái ấy còn ngây thơ trong trắng như tấm lụa trắng trong, chưa vương chút bụi đời. Bên cạnh cô là chân dung của người mẹ già khuya sớm chạy chợ tảo tần. Họ sống nương tựa vào nhau, chở che cho nhau qua những tháng ngày dài.

Người mẹ “chưa bán chợ làng xa” có nghĩa là cô vẫn còn độc thân, chưa được gả bán cho ai cả. Cô gái chính là đại diện cho vẻ đẹp thập toàn thập mỹ, đầy đủ công dung ngôn hạnh của một người con gái thôn quê thật thà. Nguyễn Bính đã dành rất nhiều sự ưu ái cho nhân vật cô gái, ông ví von cô giống như một “vuông lụa trắng” thuần khiết và sang trong hơn ngọc.

Tiếp đến, nhà thơ nói về khung cảnh đất trời trong tiết xuân mưa bay. Dường như không gian mờ mờ ảo ảo bởi làn mưa nhẹ bay, lan toả khắp không gian như màn sương khói mỏng manh nhẹ nhàng. Những cánh hoa xoan tím ngắt rụng rơi đầy dưới gốc cây, lớp lớp chồng lên nhau như một sự cựa quậy lột xác. Tối đó bên thôn Đoài có hội chèo thi hát- một sự khuấy động cả về không gian, thời gian và con người. Có lẽ tiếng trống chèo rộn rã đang phá vỡ cái tĩnh lặng yên ắng của cuộc sống hai mẹ con cô gái. Cô gái háo hức, phơi phới mong chờ đến giây phút đi xem hội hát chèo.

“Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh

Hình như hai má em bừng đỏ

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn

Em ngửa bàn tay trước mái hiên

Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh

Thế nào anh ấy chả sang xem!”

Cô gái thấy lòng mình khấp khởi, mong ngóng lạ thường. Đó chính là do cô đang tương tư một mối tình, một chàng trai trong lòng. Phải chăng mưa xuân bay bay làm lòng cô phơi phới? hay tiếng trống chèo thúc giục khiến tim cô rộn rã nhanh hơn? Hay tiếng gọi tình yêu đang thôi thúc một trái tim lần đầu rung động bởi tình yêu đôi lứa? Tất cả hoà quyện lại thành một tâm trạng rất bâng khuâng, rất khấp khởi nhưng cũng rất e lệ ngại ngùng. Đôi bàn tay xinh xắn đã ngừng lại bên khung cửi, nghĩ về chàng trai khiến hai má cô gái “bừng đỏ” hết sức dễ thương và chân thật. Câu thơ cuối của khổ thơ đã trực tiếp đưa ra câu trả lời cho tất cả những gì đang diễn ra: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”. Vâng, một câu trả lời hết sức ngắn gọn, chân thành và thẳng thắn. Cô gái đối diện với lòng mình, không một chút giấu giếm hay lấp lửng.

Khi người ta đang yêu, đang mong đợi thì thời gian có lẽ là chiếc thước đo hơi dài cho nỗi nhớ. Cô gái mong đợi giây phút được gặp người trong mộng, mong sao cho trời nhanh tối để tìm đến với người thương của mình. Khi nhà nhà đã lên đèn, cô ra trước mái hiên nhà để đưa tay đón những hạt mưa xuân nhẹ nhàng. Những hạt mưa cũng giống như nỗi niềm trong lòng cô, nhẹ nhàng, phơi phới. Phải chăng khi trái tim biết rung động thì con người ta thường yêu đời, yêu mưa, yêu sự lãng mạn lung linh nhiều hơn? Dù cho những giọt mưa bay bay rơi làm tay cô gái ướt lạnh thì trái tim cô gái vẫn thấy ấm áp vô cùng khi nghĩ: ” Thế nào anh ấy chẳng sang xem”. Cô đoán chắc rằng người cô thương sẽ đến và cô sẽ được gặp anh, sự mong mỏi đó thật sự rất đáng yêu.

“Em xin phép mẹ, vội vàng đi

Mưa bụi nên em không ướt áo

Thôn Ðoài cách có một thôi đê

Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm

Em mải tìm anh chả thiết xem

Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”

Cuối cùng thì thời khắc cô mong ngóng cũng đã đến, cô gái xin phép mẹ để đi sang thôn Đoài. Thái độ “vội vàng” khẩn trương như một minh chứng chứng minh cho tâm trạng vội vã của những trái tim đang yêu. Nhịp thơ trở nên nhanh hơn, dồn dập hơn theo bước chân của cô gái. Trái tim lúc này là tấm bản đồ dẫn đường nhanh nhất, chuẩn xác nhất đưa cô chạm đến với yêu thương và nhung nhớ. Câu chuyện vẫn là một bản tình ca dài khi cô đến nhưng không tìm thấy hình bóng người thương đâu cả. Cô gái cứ mải miết đưa ánh mắt kiếm tìm hình bóng chàng trai, “chẳng thiết xem” những điệu hát câu hò nữa. Chưa biết có tìm thấy người cô thương hay không, nhưng có một điều chắc chắn rằng đêm nay khung cửi sẽ trở nên lạnh giá, thoi ngà đơn độc nhớ ngón tay nhỏ xinh của cô rất nhiều. Vật nhớ em, em nhớ anh, còn anh đang ở nơi nào?

“Chờ mãi anh sang anh chả sang

Thế mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!

Mình em lầm lụi trên đường về

Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”.

Vậy là cuối cùng thì chàng trai cũng không tới, cô gái không thể gặp được người cô thương. Suốt cả một ngày dài mong ngóng trông chờ, để đến lúc này cô mang trong lòng sự thất vọng khi không thấy hình bóng người yêu đâu cả. Trước đó, họ đã từng gặp nhau và chàng trai hẹn hò ước nguyện. Cô gái tin vào lời hứa đó, xem như lời hẹn ước cho tới buổi gặp hôm nay. Vậy nhưng người lại không đến, khiến lòng cô “bẽ bàng” buồn tủi. Cô trở về lầm lũi một mình trên con đường quen thuộc mà lòng vẫn chưa nguôi nỗi buồn. Con đường lúc đi là sự khấp khởi mừng vui, khi trở về lại não nề và dài vô tận. Lúc đi mưa bay bay không khiến em ướt áo, lúc cô gái về mưa lại nặng hạt nhiều hơn. Mưa thương cô hay cô thương chính bản thân mình nhiều hơn? Tâm trạng của người con gái lạnh buốt như trời đêm, não nề như những hạt mưa xuân tí tách lăn dài.

“Em giận hờn anh cho đến sáng

“- Thưa u họ hát…” rồi em thấy

Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”.

Khi cô gái mang tâm trạng buồn bã thì những hạt mưa xuân lúc này cũng chẳng buồn bay nữa. Cánh hoa xoan tím ngắt cũng héo úa tàn phai, “nát dưới chân giày” như nỗi long buồn đau của cô gái vậy. Hội đã tan, mùa Xuân cũng cạn ngày rồi, nghĩa là cô đâu còn cơ hội để tìm gặp lại người cô thương nữa. Bao mong ngóng trông chờ bây giờ cũng giống như những hạt mưa chảy dài biến mất. Cô tự nhủ với lòng mình hay cũng chính là những tâm tư muốn gửi gắm cho chàng trai:

“Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ chèo Ðặng đi ngang ngõ

Ðể mẹ em rằng hát tối nay?”

Cô buồn bã khi ngày xuân đã qua sắp hết, cô không được thấy hình bóng người con trai trong lòng mình. Nhưng với tâm hồn trắng trong, sự thơ ngây của trái tim vuông lụa trắng ấy, cô vẫn mang hy vọng vào mùa xuân tới, cô lại có cơ hội được gặp anh. Thế nhưng cô không chắc chắn rằng đến khi nào thì sẽ được gặp lại, và nếu không còn duyên gặp lại thì cô sẽ ra sao? Điệp ngữ “bao giờ” được lặp lại như một sự ngóng trông vô vọng, sự tiếc nuối và mong đợi vào chữ duyên đôi lứa.

Tóm lại, bằng một hồn thơ chân chất bình dị, Nguyễn Bính đã khắc hoạ một bức tranh quê hương đầy màu sắc và tình cảm. Cô gái với tấm lòng trắng trong là đại diện cho tình yêu thuần kiết, mong chờ. “Mưa xuân” như một cơn gió mang theo những hạt mưa, trĩu nặng một nỗi buồn khó tả cứ khắc khoải mãi trong lòng độc giả.

Văn Nghị Luận Phân Tích Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

I. MỘT VÀI LƯU Ý ĐỀ HIỂU THÊM VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6/10/1942 tại làng La Khê huyện Hoài Đức thành phố Hà Đông, nay thuộc Hà Nội và mất ngày 29/8/1988 trong một tai nạn giao thông. Bà sớm tham gia hoạt động văn nghệ, ngay từ 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào làm diễn viên múa của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương. Từ 1963, Xuân Quỳnh là biên tập viên báo Văn nghệ và sau 1980, chuyển sang làm biên tập tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III.

2. Xuân Quỳnh làm thơ khi còn là diễn viên ca múa. Các sáng tác trong thời kì này được tập hợp dưới tiêu đề Chồi biếc, phản ánh khát vọng hồn nhiên tươi trẻ đánh dấu một cách nhìn mới trên văn đàn, in chung với cẩm Lai thành tập thơ mang tên Tơ tằm – Chồi biếc. Bà tham gia các chuyến đi phục vụ tuyến lửa Vĩnh Linh, Quảng Bình và đường Trường Sơn mà kết quả của chuyến đi gian khổ này là các tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974) với những cảm xúc chân thành về sức mạnh của chiến tranh nhân dân và vẻ đẹp của những con người trong tuyến lửa. Cuộc sống đời thường qua những nét thân quen gần gũi với mọi người, với những suy ngẫm về đất nước sau chiến tranh phản ánh qua các tập thơ Lời ru trên mặt đất (1978 ), Tự hát (1984), Sân ga chiều em di (1984), Hoa cỏ may (1989).

Xuân Quỳnh nổi lên như một gương mặt thơ nữ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước với một chất thơ trữ tình mới mẻ tươi mát. Thơ của bà là tiếng nói hồn nhiên trung thực, giàu lòng nhân ái với những khát khao về một hạnh phúc đời thường, đồng thời cũng là tiếng lòng của những người phụ nữ luôn có khát vọng gia đình bình yên. Phong cách Xuân Quỳnh thể hiện rõ nhất trong mảng đề tài viết về tình yêu mà ở đó phẩm chất thuỷ chung luôn là yêu cầu đầu tiên, là sự chung vai gánh vác những, vất vả lo toan của cuộc sống đời thường, là niềm vui được chia sẻ song cũng là tình yêu mãnh liệt, sôi nổi, dạt dào tình cảm yêu thương. Qua đó cái tôi trữ tình hiện ra đằm thắm, đầy dam mê khát vọng.

3. Sóng là bài thơ xuất sắc của Xuân Quỳnh, được sáng tác năm 1967, khi bà đi thực tế về vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) và đã được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Bài thơ cho thấy một tâm hồn khát khao kiếm tìm hạnh phúc ẩn chứa trong một tiếng lòng đầy trắc ẩn, suy tư song cũng rất chân thành tha thiết.

II. PHÂN TÍCH

1. Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh được viết trước 1975, sau một mối tình không thành. Mốc thời gian sáng tác của bài thơ Sóng cho thấy khát vọng yêu đương trong hoàn cảnh chiến tranh, khao khát cuộc sống bình yên. Xuân Quỳnh là người biết yêu thương vô cùng nhưng cũng biết căm thù cháy bỏng.

Hình tượng cơ bản của bài thơ là hình tượng sóng và hình tượng em.

Hình tượng sóng là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Điều đó thể hiện qua sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, sóng là sự hoá thân của hình tượng em chủ thể trữ tình, sóng là sự phân thân của chủ thể trữ tình em để tạo ra sự nhập vai vừa kể vừa đối đáp.

Mối quan hệ giữa hai hình tượng sóng và em được thể hiện trong bài thơ vừa được tách ra để tạo hiệu quả chiếu ứng, đối sánh, vừa được kết hợp với nhau để tạo ra sự cộng hưởng, lan toả. Tính đặc sắc và độc đáo của hình tượng sóng mà Xuân Quỳnh và nhiều nhà thơ khác lựa chọn là bởi sóng là một hiện tượng thiên nhiên hùng vĩ mang tính vĩnh cửu, bởi sóng có những cách thức biểu hiện khác thường, lúc dữ dội, lúc yên bình, phù hợp để diễn tả tâm trạng con người đang yêu, bởi sóng có âm vang như là tiếng nói của tạo hoá với con người. Trong văn chương những từ ghép có sự kết hợp giữa từ sóng với các từ khác để chỉ tâm trạng, tình cảm như sóng tình, sóng thu ba, sóng lòng của con người cũng thường được nhiều nhà văn nhà thơ sử dụng.

Âm điệu chung của bài thơ là âm điệu của những con sóng biển đêm ngày xôn xao trên biển rộng, trong gió lộng, là âm điệu của nỗi lòng người con gái đang ngập tràn khao khát yêu đương, là sự kết hợp của sự rung động giữa tình và cảnh, giữa sóng lòng và sóng biển… tạo ra sự hoà hợp thể hiện khát vọng tình yêu vĩnh hằng của con người.

2. Khổ thơ mở đầu bài Sóng cho thấy trạng thái tâm lí đặc biệt của một tâm hồn khao khát yêu đương không thoả mãn với cái tầm thường nhỏ hẹp, đồng thời cũng cho thấy các trạng thái khác thường, vừa đối lập vừa khẳng định của tâm hồn người con gái đang yêu, khao khát yêu đương nhưng chủ động trong tình yêu chứ không thụ động hay nhẫn nhục chịu đựng.

Trong khổ thơ “Ôi con sóng ngày xưa / Và ngày sau vẫn thế / Nỗi khát vọng tình yêu! Bồi hồi trong ngực trẻ”, tác giả đã đưa ra một sự so sánh giữa sóng biển của đất trời và tình yêu của con người. Điểm chung giữa sóng biển và tình yêu là những hiện tượng vĩnh hằng muôn thuở, là những hiện tượng tự nhiên, hồn nhiên song rất khó giải thích, đầy những bất ngờ, khó hiểu. Tình yêu cũng tựa hồ như sóng biển, đến / đi, ồn ào / lặng lẽ, dịu êm / dữ dội, vừa hiện rõ trước mắt vừa bí ẩn khác thường.

Khổ thơ “Sóng bắt đầu từ gió / Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau” như là cách thức lí giải tình yêu của Xuân Quỳnh. Qua cách lí giải thông minh và đầy nữ tính đó tình yêu hiện ra tự nhiên và vô tư. Tình yêu là quá trình chuyển hoá tình cảm giữa người con trai và người con gái, là sự tự nguyện và không đơn phương.

Một biểu hiện quan trọng thể hiện tình yêu, thể hiện phẩm chất yêu, đó là sự nhớ nhung khi xa cách. Nỗi nhớ ấy được tác giả thể hiện trong khổ thơ sau đây: “Con sóng dưới lòng sâu / Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được” là nỗi nhớ trong tình yêu khi xa cách, nỗi nhớ dai dẳng, thường xuyên, thường trực. Nỗi nhớ đó thể hiện cả trong không gian lẫn trong thời gian, cả khi thức lẫn khi ngủ, cồn cào, không quên, không yên. Nỗi nhớ ấy giông như những con sóng triền miên, lúc ở ngầm dưới sâu, lúc nổi trên mặt nước, nhưng lúc nào cũng dạt dào vô tận.

Cách cắt nghĩa của Xuân Quỳnh cho thấy một quy luật phổ biến trong tình yêu nam nữ, đó là từ trực cảm đến lí trí. Người ta yêu nhau trước hết nhờ sự cảm nhận bằng trực giác, bằng linh tính, bằng một sự cảm nhận đặc biệt về nhau mà thiếu đi sự cảm nhận trực giác ấy, tình yêu chỉ còn là sự tính toán hơn thua, được mất. Trong tình yêu người ta đến với nhau tự nguyện, không ai bắt buộc ai, người ta chiếm lĩnh tâm hồn và tình cảm của nhau bằng một điểm gì đấy không thể nói ra được, bằng một sự rung động sâu lắng nào đấy trong tâm can không diễn tả thành lời được, bởi khi đã nói ra được bằng lời, nghĩa là bằng sự sắp xếp ngôn từ theo tư duy lí tính thì tình yêu mất đi vẻ đẹp thiêng liêng bí ẩn của nó. Sự quyến rũ của tình yêu chính là ở sự rung động bí ẩn, là sự cảm nhận trực giác vừa nhạy bén vừa mong manh này. Vì thế không ít người đã coi tình yêu mang tính chất “thiên định”, là sự sắp xếp của tạo hoá.

Qua khổ thơ trên của bài Sóng, Xuân Quỳnh đã cho thấy những vẻ đẹp mới của tình yêu nam nữ, trong đó nổi bật lên khát vọng được yêu được sống trọn vẹn trong hạnh phúc tình yêu.

3. Hình tượng sóng và em song hành với nhau tạo nên một hiệu quả nghệ thuật giúp cho bài thơ có thêm chiều sâu suy tư. Điều đó được thể hiện qua cả hai hình tượng bổ sung cho nhau, nhằm diễn tả sâu sắc hơn sự ám ảnh của tình yêu kèm theo nỗi nhớ khôn nguôi của người tình thuỷ chung đang ngày đêm mong ngóng, rạo rực đợi chờ. Nỗi nhớ người yêu cũng giông như con sóng nhớ bờ, song không chỉ dừng ở đấy, người con gái còn nhớ tới người mình yêu ngay cả trong trạng thái giác mơ, cả trong mộng mị. Cả hai hình tượng sóng và em kết hợp với nhau để cùng diễn tả khát vọng tình yêu sôi nổi, tiếng lòng mãnh liệt của người con gái đang yêu, tạo ra tính chất táo bạo khác thường cho thấy tình cảm thiết tha hướng tới một hạnh phúc giản dị song vô cùng cao quý, đó là được có anh, được ở bên anh, cũng như con sóng cần có bờ để tìm về như một chỗ dựa thì em luôn cần có anh như một điểm tựa tinh thần cho mọi hoàn cảnh, cho mọi ước mơ.

Hình tượng sóng vừa được khắc hoạ cụ thể vừa mang tính biểu tượng. Sóng được miêu tả cụ thể qua các trạng thái mâu thuẫn trái ngược nhau, như bản thân hiện tượng sóng biển trong tự nhiên. Hình tượng sóng dường như được nhàn hoá trở thành biểu tượng với cảm xúc mang tính người, biết nói, biết giãi bày. Sóng như có tính cách riêng với những trạng thái bên trong phong phú trở thành hình thức diễn tả sự biến đổi nội tâm của người con gái trong trạng thái say đắm với tình yêu. Tính cụ thể và tính biểu tượng hoà quyện vào nhau, bổ sung cho nhau, góp phần khám phá chiều sâu nội tâm của chủ thể trữ tình.

Hình tượng sóng được miêu tả khác nhau qua các khổ thơ khác nhau và liên tục của bài thơ. Sóng được thể hiện qua những nét phát hiện, tạo nên tính chất đa dạng khác thường. Qua đó sự liên tưởng cũng như khả năng gợi mở suy tư về biển, về sóng, về gió; về tình người và tình đời được mở ra và liên kết lại, ở những cấp độ nhất định tạo ra sức hấp dẫn của hình tượng, qua khả năng liên kết các khổ thơ, tạo ra mạch thơ quán xuyến của hình tượng sóng.

4. Sóng là hình ảnh biểu tượng cho tâm hồn người con gái, em là cái tôi trữ tình của nhà thơ. Sóng và em tạo ra kết cấu song hành cho bài thơ. Kết cấu đó tạo ra sự tương đồng, hoà quyện giữa hai hình tượng trữ tình. Sóng và em tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc hoà nhập để tái hiện các phương diện khác nhau có thể mâu thuẫn trong tâm hồn người con gái đang cháy bỏng khát vọng yêu thương, tạo ra chiều sâu nhận thức cho bài thơ.

Trong bài Sóng, Xuân Quỳnh vừa thổ lộ trực tiếp vừa mượn hình tượng sóng để nói về tình yêu, vừa tự hỏi tự chất vấn mình, vừa tự mình giải đáp những vấn đề đặt ra và cảm nhận được từ tình yêu ấy. Điều mong muôn và cảm nhận sâu sắc nhất của nhà thơ là mọi con sóng đều đến được với bến bờ của nó. Dù muôn vời cách trở cũng như tình yêu của người con gái sẽ có ngày kết quả. Đồng thời bài thơ cũng gợi lên sự hữu hạn của kiếp người trong vô hạn của đất trời, nghĩa là mọi sự nỗ lực sớm hay muộn cũng dẫn tới những kết quả nhất định.

Qua khổ thơ cuối cùng của bài thơ: “Làm sao tan dược ra/ Thành trăm con sóng sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu / Để ngàn năm còn vỗ”, Xuân Quỳnh muốn gửi gắm khát vọng được sống hết mình trong tình yêu đôi lứa, muôn được mãi mãi sông trong tình yêu trẻ trung vĩnh viễn, ở đó tất cả đều chân thành, hồn nhiên và thấm đẫm men say, muốn từ chân trời nhỏ hẹp vươn tới tình yêu bao la rộng lớn, theo hành trình luôn rộng mở, hành trình không giới hạn và không bị khép kín.

Vẻ đẹp về mặt kết cấu của bài thơ là sự song hành, tương đồng giữa sóng và em, hai hình tượng trữ tình của bài thơ. Hiểu rộng ra có thể coi sóng mà ở đây là sóng nước, là sóng biển và em là một dạng sóng: sóng lòng, cả hai đều có đặc điểm chung là không bao giờ tĩnh tại, bao giờ cũng chuyển động và đặc biệt là sóng lòng thường chuyển động mãnh liệt theo quy luật tình yêu. Hai hình tượng tôn tạo cho nhau, bổ sung cho nhau. Sóng nước giúp sóng lòng vượt ra ngoài khuôn khổ của cái tôi bình thường, cái tôi mà ai cũng có thể nhận biết bằng vẻ ngoài để bước vào một thế giới mới xa lạ, bí ẩn và thiêng liêng của tình yêu, cũng giống như người con gái đang bước vào thời yêu đương, bao giờ cũng thấy xốn xang, xôn xao trong lòng, tựa hồ như sóng biển triền miên vỗ nhịp trên biển rộng vô bờ. Sự đồng cảm của người con gái đang yêu và những con sóng triền miên đang vỗ vào bờ ấy là điều dễ nhận thấy và đều có giá trị biểu cảm như nhau.

Xuân Quỳnh qua các khổ thơ lại cho thấy một diện mạo mới của sóng biển, tạo ra sự biến ảo kì lạ của muôn vàn con sóng đế từ đó dùng hình tượng sóng biển diễn tả sóng lòng. Sóng biển được nhân hoá, dường như cũng có tâm trạng khát khao, mong mỏi một tình yêu, giống như người con gái đang đối lòng mình với biển. Sóng và em soi chiếu cho nhau, qua sóng biển, em lại hiện hình với bao nỗi khát khao mong đợi.

Cũng như người con gái đang yêu, sóng cũng có tính cách riêng, không hài lòng, không thoả mãn, như tình yêu là sự vượt trội, là sự bứt phá khỏi những điều ràng buộc nhiều khi chỉ tự chính mình. Các trạng thái khác nhau của sóng nước diễn tả rất thành công các biểu hiện qua những sắc thái khác nhau của tình yêu đôi lứa. Các trạng thái đó thể hiện sự tinh nhạy của người phụ nữ, cho thấy các dạng thức khác nhau của khát vọng tình yêu mà cơ bản và trước hết, tình yêu là sự nhận thức mới về bản thân, là khát vọng vươn lên, vươn cao và vươn xa.

Tình yêu bao giờ cũng rất rõ ràng song cũng cực kì khó hiểu, nó vừa thiêng liêng vừa bí ẩn, và chính sự thiêng liêng bí ẩn đó lại là sức mạnh lôi cuốn con người, đòi hỏi em phải luôn luôn trăn trở, luôn tự vấn bản thân, đế mong muốn khám phá sâu hơn về điều bí ẩn thiêng liêng đã tạo ra tình yêu đôi lứa, tình yêu của sự đồng cảm, của sự cảm nhận trực giác kì lạ. Cả em và sóng đều tuân thủ quy luật muôn đời của tình yêu ấy, và sóng cũng như em đều xao xuyến, bồi hồi, đều cảm thấy hạnh phúc vì được yêu, được sống, nhưng không bao giờ đạt tới mức độ cao nhất, bởi vì trong quy luật chung khi đạt tới đỉnh cao thì bên kia đỉnh cao bao giờ cũng là vực thẳm. Em muốn vươn tới cùng cũng như sóng muôn vỗ bờ nhưng tất cả chỉ là khát vọng.

Tình yêu bao giờ cũng đi liền với nỗi nhớ, nhớ mông lung, nhớ mơ hồ, nhưng rất da diết, cồn cào. Yêu nhau là phải nhớ nhau, cũng như con sóng nhớ bờ muốn lao vào bờ, muốn chạm vào bờ. Em, hoá thân của cái tôi, cũng có khát khao như vậy, mang trong mình nỗi nhớ triền miên, như con sóng đi tìm bờ vậy. Sự nhận thức của cái tôi ở đây rất rõ ràng và hoàn toàn chủ động, và đó chính là cuộc hành trình vô tận của con người đi tìm hạnh phúc. Đi tìm tình yêu tức là đặt chân lên con đường tìm kiếm hạnh phúc, cũng như con sóng xô bờ để tự kết thúc cuộc hành trình miên man trên bể rộng của mình. Hai hình tượng gắn kết với nhau, qua đó tạo nên sức mạnh thể hiện khát vọng cho nhau. Cả hai hoà quyện vào nhau, tuy là hai nhưng thực chất chỉ là một, tuy là một nhưng phân thân thành hai. Hành trình của tình yêu là như vậy. 

Cả hai hình tượng sóng và em tạo nên kết cấu song hành, tạo nên mốì quan hệ tương đồng, góp phần thể hiện sâu sắc cảm xúc yêu đương của người con gái. Qua đó, thấy được tình, cảm mãnh liệt của người con gái và vẻ đẹp đáng trân trọng của con người đi tìm khát vọng hạnh phúc.

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương (1)

Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình. Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn.

Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn:

Bảy nổi ba chìm ưới nước non.

Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, số phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập:

Rắn nát mặc dầu tay kể nặn

Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình.

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Ở đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em, lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó. Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy? Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Ở đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một “nhãn từ” (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. Ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ. Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Tóm lại, có thể nói Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiếng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.

Đến với thơ của Bà huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại học thơ của Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà.Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình.Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà:Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn:Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, số phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập:Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình.Ở đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em, lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó.Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy?Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Ở đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một “nhãn từ” (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. Ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ.Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.Tóm lại, có thể nóilà bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiếng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.

Bạn đang xem bài viết Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Mưa Xuân” trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!