Xem Nhiều 12/2022 #️ Bình Giảng Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh / 2023 # Top 16 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bình Giảng Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bình Giảng Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

Bình giảng bài thơ Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Hương sơn phong cảnh ca” của Chu Mạnh Chinh

Bài văn mẫu

Chu Mạnh Trinh là một người tài hoa, ông thạo đủ cầm kì thi họa lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc và đặc biệt say mê cả cảnh đẹp. Thi sĩ Xuân Diệu đã xếp Chu Mạnh Trinh vào hàng ngũ những tai nhân tài tử tài tình trong nền văn học Việt Nam thời cận đại. Hương sơn phong cảnh ca là một tác phẩm được ông viết khi ông đứng ra trông coi và trùng tu lại di tích quần thể thắng cảnh Hương Sơn. Hương Sơn là một thắng cảnh thuộc huyện Mỹ Đức Hà Tây. Bài thơ được viết theo thể hát nói giàu nhạc điệu, nhạc tính viết về cảnh đẹp của Hương Sơn cảnh sắc vô cùng xinh đẹp và nên thơ

Thơ viết về Hương sơn thì có rất nhiều nhưng “hương sơn phong cảnh ca”của chu mạnh trinh được xem là một áng kiệt tác. Bài thơ được viết theo thể hát nói tô đậm lên vẻ đẹp hoang sơ kì vĩ của đất trời hương sơn. Khổ thơ đầu là phong cảnh hương sơn dần lọt vào mắt của du khách khi nhìn từ phía xa. Câu thơ đầu tiên cũng là câu thơ ngắn nhất của bài thơ: “Bầu trời cảnh bụt”

Từ xa khung cảnh hương sơn dần lọt vào mắt du khách vừa thực vừa ảo, dường như ta đã lọt vào thế giới cực lạc nơi tâm hồn có thể bay bổng cùng thiên nhiên. Đó chính là thế giới của cảnh bụt. Đây không phải là thế giới nhà sư, của các nhà phật như trong chùa bái đính hay trong thần thoại tây du kí của tôn ngộ không mà cả thế giới của bụt. Ta dường như cảm nhận được sự bình yên lắng đọng, cảm giác thuộc về thiên nhiên tràn ngập trong ta khi nhìn ngắm nơi đây từ xa trong màn sương khói nửa mơ nửa thực. Dòng thơ mở đầu chỉ vẻn vẹn có bốn câu nhưng đã xác định chủ âm của bài thơ. Từ đây nhà thơ sẽ viết lên những câu thơ mang cảm hứng ấy, vị thiền độc đáo của hương sơn. Sau cái nhìn bao quát ấy khung cảnh hương sơn dần lộ ra dưới nét bút điêu luyện của thi sĩ.

” Kìa non non nước nước mây mây”Đọc đến đây ta như cảm giác có ai đó đang thúc giục ta nhanh nhanh lên đường tìm hiểu hương sơn tìm hiểu cảnh đẹp nơi đây. Nhịp thơ nhanh cho ta thấy cảm giác hối hả có phần háo hức của tác giả khi khung cảnh hương sơn phút chốc đã dần lộ ra. Cảnh non nước đã được nhà thơ điệp trùng luyến láy khiến cho không cảnh đẹp nơi đây như đang trải dài ra cùng non nước trời mây. Cảnh trí hùng vĩ cùng non nước mây trời là vẻ đẹp riêng của bầu trời cảnh bụt. Du khách vui thú tự hỏi liệu đây có phải là đệ nhất động đầy ngạc nhiên tự hào xúc động. Những câu thơ sau là minh chứng cho khẳng định bầu trời cảnh bụt trong câu thơ đầu tiên.

“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng tráiLửng lơ khe yến có nghe kinhThoảng bên tai một tiếng chày kinhKhách tang hải giật mình trong giấc mộng”

Rừng mai và khe Yến là hai cảnh đẹp nổi tiếng của hương sơn. Chim “thỏ thẻ gọi nhai mổ trái mai vàng “chim cúng trái”. Cá lửng lơ bơi lội nơi khe yến “có nghe kinh”. Hình ảnh ẩn dụ với đường nét am thanh gợi mùi thiền. Đến chim cá là những con vật không hiểu được cũng lửng lơ nghe kinh. Phải chăng ta đã lạc vào chốn thiên đường nơi chỉ có những đạo lí những điều tốt đẹp mà mọi người dành cho nhau không có bất cứ tranh đua nào. Đây rốt cuộc là chốn bồng lai tiên cảnh nào mà chim cúng trái cá lại có thể nghe kinh và con người lạc vào đây thì lại thảng thốt tiếng chày kinh bên tai. Hương sơn kì thú đến thế nào mà cả con người, chim cá đều dường như thoát tục hòa nhập hòa tan vào trong tất cả để rồi giật mình ngỡ đang trong mộng. Những câu thơ cho ta nhiều thú vị về nhạc điệu du dương, âm hưởng trầm bổng của vần thơ. Chu Mạnh Trinh không chỉ tạo lên những vần thơ nhịp nhàng khi tả về cảnh chim cá nơi đây mà còn thể hiện hồn cảnh của phong cảnh hương sơn nam thiên đệ nhất động. Thi sĩ mân mê dẫn đường khi tiếp tục kể ra những địa danh nổi tiếng của hương sơn.

“Này suối Giai Oan, này chùa Cửa VõngNày am Phật Tích, này động Tuyết QuynhHương sơn có rất nhiều danh lam thắng cảnh nhưng Chu Mạnh Trinh chỉ nêu lên bốn danh lam suối Giai Oan, chùa cửa võng, phật tích động tuyết quynh , nhà thơ chỉ kể mà không tả dường như cố ý muốn gây sự tò mò cho người đọc , mời mọi người hãy đến đây để cùng thưởng ngoạn vẻ đẹp hương sơn và tìm hiểu vùng đất thiền bằng việc tác giả nêu ra những danh lam đậm chất “bụt” Ta như đang được hòa cùng nhà thơ vào cảnh bụt đem lại nhiều tư tưởng hướng thiện trong ta khiến ta không khỏi mong muốn được đến thăm hương sơn một lần.

Tiếp tục ý thơ, tác giả lại đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi miêu tà cảnh vật hương sơn lộ ra mỗi lúc một gần, ngày một chi tiết hơn.

“Nhác trông lên ai khéo họa hìnhĐá ngũ sắc long lanh như gấm dệtThăm thẳm một hang lồng bóng nguyệtGập ghềnh mấy lối uốn thang mây”

Nghệ thuật so sánh đá ngũ sắc với gấm dệt nhằm thể hiện niềm tự hào của nhà thơ về đất nước và con người Việt Nam. các từ “thăm thẳm”, “gập ghềnh” diễn tả sự cheo leo của các hang động và đây dường như các chướng ngại vật mà thiên nhiên cố tình tạo ra để con người phải vượt qua thì mới chiêm ngưỡng được hết thảy tất cả mọi cảnh vật kì thú nơi đây. Phép đảo ngũ đã làm nổi bật cái độ sâu thẳm của các hang động, cái gập ghềnh của các sườn núi và những thang mây cao vút. Với những câu thơ này du khách dường như đã đặt những bước chân cuối cùng đến Hương sơn

Tiếng chày kinh động, tiếng chuông Hương sơn đánh thức người khách tang hải trong giấc mộng thì đến đây cuộc hành hương mới đi vào hồi kết thúc.

“Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật,Cửa từ bi công đức, xiết là baoCàng trông phong cảnh càng yêu”

Đoạn kết bài thơ là nơi tập trung thể hiện tư tưởng à cảm hứng tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ. Đồng thời cũng nhắc nhở mọi người có cùng trách nhiệm làm đẹp cho giang sơn đất nước. Bài thơ sử dụng từ tạo hình, giọng thơ nhẹ nhành sử dụng nhiều kiểu câu khác nhau , ngữ điệu tự do phù hợp với tư tưởng phóng khoáng. Bài ca là một sự phong phú về giá trị nhân bản cao đẹp trong thế giới tâm hồn của thi nhân. Tình yêu mến cảnh đẹp gắn với tình yêu quê hương đất nước của tác giả.

Bài thơ của Chu Mạnh Trinh đã làm làm phong phú thể ca trù hát nói của dân tộc . Có đi lễ hội chùa Hương ta mới thấy hết cái hay của bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca.

Với ngòi bút tài hoa tác giả đã miêu tả cảnh sắc Hương Sơn rất đẹp, vẻ đẹp thiên nhiên với suối, hang đông, trời mây non nước, đượm mùi thiền mà thoát tục. Yêu hương sơn đến độ say sưa của một tâm hồn thi sĩ tài hoa, tác giả đã phát hiện ra vẻ đẹp thanh thoát độc đáo ở nơi đây. Sống hòa hợp , chân thành hơn sau khi đến đây là chia sẻ của rất nhiều du khách.

Chính cái thiền cái đất trời bụt trong hương sơn đã tạo cho nó một cái gì đó khác lạ mà huyền bí đến lạ thường mà mỗi du khách sau khi đến đây đều mong một lần nữa được đặt chân lên mảnh đất thiền này. Bởi cảnh đẹp nơi đây là vô tận là mênh mông non nước , cũng vì thế mà tác giả không hề nói chi tiết về các danh thắng mà chỉ nêu tên có lẽ vì vẻ đẹp và kiến trúc nơi đây không chỉ nói một hai câu là xong mà là cả một chặng đường dài mới có thể tìm hiểu được thiên nhiên phong phú nơi đây.

Phân Tích Bài Thơ Hương Sơn Phong Cảnh Ca Của Chu Mạnh Trinh / 2023

Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh – Bài làm 1

Cảnh sắc luôn là thứ khiến cho tâm hồn con người ta xao động, ngay cả người bình thường,đứng trước cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp cũng phải mềm lòng. Cho nên, đứng trước một cảnh tượng như thế những thi sĩ không thể không kiềm lòng mình lại. Sự nhạy cảm của một tâm hồn tràn ngập thơ ca,cũng khiến cho không ít thi gia bối rối và phải đặt ngay ngòi bút xuống, để cho cảnh sắc đó ngấm vào cơ thể rồi mới lay ngòi bút xuống trang giấy. Cũng bởi chới với trước vẻ đẹp của thiên nhiên Hương Sơn, mà tác giả Chu Mạnh Trinh quả thật không sai khi đã dùng những mỹ từ để ca ngợi vẻ đẹp nơi đây.

Cùng với những sự nhạy cảm của bản thân và một con mắt tinh tế,mọi thứ ở Hương Sơn đã trở thành một đề tài cho giới văn nghệ sĩ tìm tới. Không chỉ xuất hiện trong các bài thơ mà còn xuất hiện trong những câu hát,người ta thấy Hương Sơn hiện ra như cảnh ở chốn tiên giới. Đây quả thực là một món quà mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chốn nhân gian. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc con người càng làm cho bài thơ thêm đẹp đẽ. Đối với Chu Mạnh Trinh thì Hương Sơn chính là chốn thoát ra khỏi vẻ đẹp trần tục ở nhân gian. Chính vì vậy, ngay từ khi mở đầu , chỉ với 4 từ mà tác giả đã lột tả được đa số cái thần thái nơi đây:

” Bầu trời cảnh bụt”

Cảnh ở đây là cảnh bụt, vừa miêu tả một chốn bồng lai tiên cảnh lại miêu tả được sự yên tịnh linh thiêng. Dù dùng bao nhiêu từ cũng không thể miêu tả hết cái vẻ đẹp ấy. Không diễn giải dài dòng, chỉ với 2 từ ” cảnh Bụt” mà gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc bao nhiêu thứ. Bầu trời mở rộng, không khí hư không, mọi thứ trở nên mở rộng hết cỡ, và có cái gì đó rất riêng.Ngòi bút của Chu Mạnh Trinh như bắt được nhịp chuyển động theo cảm hứng ấy và làm sống dậy từng nét thanh tú của danh lam, vừa đem lại vi thiền cho thắng cảnh.

Kìa non non, nước nước, mây mây,

Cảnh núi non trùng điệp cảnh mây trời lồng lộng cảnh sông nước hữu tình,càng làm cho không gian của Hương Sơn mở rộng ra , làm cho chúng ta cảm nhận như tác giả đang đứng từ trên một điểm cao để có cái nhìn bao quát nhất về phong cảnh hương Sơn. Những nơi được xem là danh thắng đều là chốn sơn thủy hữu tình, có núi non, có rừng suối, với những chim bay, cá lượn. Hương Sơn cũng thế! Nhưng Hương Sơn là cảnh bụt. Những thức xung quanh hương Sơn cũng bị thấm nhuần trở nên có linh hồn, có suy nghĩ.

Thỏ thể rừng mai chim cúng trái,

Lửng lơ khe Yến có nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chày kình,

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Bằng nghệ thuật nhân hóa những sinh vật ở đây có hồn, có suy nghĩ có tâm niệm, nhưng không chỉ là có tâm niệm không thôi, chúng cũng bị ảnh hưởng bởi vẻ linh thiêng nơi đây. ” chim cúng trái, yến nghe kinh” ,những nhân vật ở đây giống như những tín đồ của chốn này. Du khách tới đây không chỉ để thưởng thức phong cảnh mà còn để hòa mình vào không khí nơi đây.Những âm thanh” thỏ thẻ”, hình ảnh ” dáng cá lửng lơ” và kết thúc là tiếng chày kình tạo nên không khí chỉ có ở Hương Sơn.

Bước chân của tác giả không dừng lại đó, bằng việc liệt kê các địa danh ở đây,Hương Sơn lại càng nổi bật với cảnh vật phong phú:

Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Vũng

Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh

Cảnh sắc thật giàu có, đủ cả suối, chùa, am, động… tất cả cứ như bày đặt ra theo bước du khách dẫn du khách từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Chu Mạnh Trinh tạo ra bức tranh Hương Sơn với những nét vừa mĩ lệ vừa hư huyền,những màu vừa lộng lẫy vừa cách điệu, với những mảnh vừa động vừa tĩnh

Nhác trông lên ai khéo họa hình,

Đá ngũ sắc Long lanh như gấm dệt.

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt.

Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.

Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật,

Cửa từ bi công đức, xiết là bao

Những bước chân cuối của du khách khi đến với Hương Sơn cũng đến chỗ dừng chân. Nhưng hình ảnh đấy hiện ra vẫn đẹp đẽ mĩ lệ. Những từ ngữ được tác giả sử dụng như đính thêm những hạt pha lên trong suốt trên nền màu sắc rực rỡ,càng làm thêm vẻ tráng lệ của Hương Sơn.Những cảm xúc của tác giả khiến chúng ta cũng như vừa bước ra khỏi thể giới thần tiên. Tác giả như dẫn dắt chúng ta đi từ một nơi trần tục tới một nơi thần tiên thanh tịnh. Cho nên, cũng không kiềm lòng trước cảnh sắc ấy cho nên mới thốt lên : “Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật,

Cửa từ bi công đức, xiết là bao

Hương Sơn phong cảnh ca” là một bức tranh phong cảnh những được vẽ bằng ngôn từ, là một sợi dây kết nối giữa con người và thiên nhiên. Vẻ đẹp thiên nhiên càng được khắc họa với những nét vẽ vừa tráng lệ lại vừa yểu điệu uyển chuyển. Qua đó, cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và cũng như sự tinh tế ,con mắt tinh tường của tác giả trước vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng.

Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh – Bài làm 2

Có lẽ danh lam thắng cảnh nào cũng sẵn sàng ban tặng cho con người muôn vàn tứ thơ. Nhưng không phải danh thắng nào cũng được đền bù xứng đáng. Có biết bao cảnh trí thần tiên chẳng cần đợi thơ ca tôn vinh – tự nó đã làm một bài thơ tuyệt mĩ. Ở những trường hợp như thế phải chăng thơ ca đã trở nên bất lực? Nhưng cũng có những thắng cảnh vốn đã mĩ lệ, lại được soi mình vào thơ thì càng quyến rũ bội phần. Khi ấy, cảnh thì dâng hiến cho thơ hào phóng, còn thờ dường như cũng trả xong món nự của mình. Trường hợp phong cảnh Hương Tích với Chu Mạnh Trinh chẳng phải là như thế sao? Hương Sơn được vào hàng “Nam thiên đệ nhất động”. Còn Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh cũng đáng là một áng thơ long lanh như gấm dệt. Có thể gọi là “Hương Sơn đệ nhất thi” được chứ sao? Thơ ca và thắng cảnh đâu phải lúc nào cũng được đẹp duyên như thế!

Phải nói ngay rằng âm nhạc đã góp phần tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của bài thơ này. Bình thường, bài thơ chân chính nào cũng có một nền nhạc riêng của nó, cho dù nó được viết lối tự do hay theo cách luật. Nhưng khi một thi sĩ lại chủ động viết theo thể hát nói, thì rõ ràng nhạc điệu (gồm cả của âm nhạc lân của ngôn ngữ) càng muốn giành lấy địa vị tiên phong. Có thế thấy khá rõ lời thơ chập chờn, chấp chới bay trong nhịp điệu, còn nhạc điệu như đang đìu từng lời thơ bay lượn trong cái thế giới trong lành, thanh tịnh của chốn Hương Sơn. Tất cả cứ lâng lâng chơi vơi, cứ khoan hòa dìu dặt như cái nhịp chèo, nhịp bước của du khách càng ngày càng nhập sâu vào lòng cảnh trí thanh vắng, mơ màng, vừa trần gian, vừa thoát tục. Nếu như đang nghe lời thơ được hát ngâm theo thế thức ca trù, với lối ngàn rung, buông bắt, với tiếng đàn, tiếng phách, tiếng trống điểm nhịp rất riêng thì tất cả giọng ngất ngây, khoan khoái của một tâm hồn đang ân thưởng cái “Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay” càng có dịp tràn ra đầy đủ. Vâng, chọn hát nói để phô bày những cảm xúc Hương Sơn của mình, dường như hồn thơ của Chu Mạnh Trinh đã gửi mình đúng chỗ. Vậy là thơ và nhạc đã được Hương Tích xe duyên nên thi phẩm này. Chẳng phải đây cũng là một nét duyên nữa của Hương Sơn phong cảnh ca đó ư?

Nếu người nghệ sĩ cảm nhận danh thắng Hương Sơn cũng như Bồng Lai hay Thiên Thai, Từ Thức…, thì xem như chưa bắt được cái “thần” cùa chốn này. Những nơi kia là cảnh tiên, là chốn mộng mơ tình tứ, hứa hẹn những mối phong tình lãng mạn. Còn Hương Sơn khác! Hương Sơn là cảnh bụt, là nơi du khách tìm đến văn cảnh nhưng cũng để hành hương. Con người đến đây để thưởng ngoạn một danh lam, nhưng cũng là một dịp dọn lòng khỏi những tục lụy để mà thanh lọc tâm hồn, thanh thản tâm linh. Vì thế, thắng cảnh Hương Sơn thơ mộng mà linh thiêng, quyến rũ mà thanh tịnh, mĩ lệ nhưng bàng bạc vị thiền. Thi nhân có nhận ra điều đó, mới là thấm canh Hương Sơn. Hồn thơ phải dồi dào sự đắm say nhưng cũng không thể thiếu thành kính. Có như thế mới đồng điệu được với Hương Sơn. Và may thay, Hương Sơn phong cảnh ca của Trúc Vân Chu Mạnh Trinh đã thu được vào từng lời thơ cái hồn riêng của cảnh.

Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ ngắn với bốn tiếng

Bầu trời cảnh bụt

Toàn bài đều viết bằng những câu dài với 7 hoặc 8 tiếng. Duy có câu mở đầu này là ngắn đặc biệt. Cái hình thức kia đâu phải ngẫu nhiên. Câu thơ vẽ không gian, nhưng vang lên như một vỡ lẽ kì thú của chốn nước non này: Đây là thế giới của cảnh bụt. Câu thơ bốn tiếng khác nào như mỡ ra một cổng trời, một miền non nước, một thế giới, mà ở trên trán v,m cổng ấy khắc bốn chữ giới thiệu du khách về cái xứ sở sắp bước vào. Kia là thuộc về cảnh bụt. Nó không phải là đất Phật như Tây Trúc, nhưng canh sắc ở đây đều thuộc về bụt, đều ngấm vị thiền.

Và bốn tiếng ấy dường như cũng đã xác định chủ âm của bài thơ. Bắt đầu từ đây ngòi bút của Chu Mạnh Trinh sẽ chuyển động theo cảm hứng ấyvà làm sống dậy từng nét thanh tú của danh lam, vừa đem lại vi thiền cho thắng cảnh. Toàn bộ bài thơ được kết cấu theo các lớp cảnh cứ dần dần mở ra cùng với bước chân của du khách, thì ở lớp cảnh nào thi hứng của Chu Mạnh Trinh, cũng được khơi từ hai nguồn ấy. Đây là cái nhìn lướt bao quát:

Kìa non non, nước nước, mây mây,

Cảnh non nước đã được điệp trùng, luyến láy theo cái lối đặc trưng của ca trù, khiến cho cảnh non nước, mây trời vừa có được vẻ quấn quýt lại vừa trái dài như vô tận. Giọng điệu thơ có cái vẻ náo nức, ngất ngây của người dược thỏa lòng ao ước, lại cũng nghiêm trang chứ không hẳn là đong đưa tình tứ. Câu chữ như thế thật tài hoa và cũng thật tự nhiên!

Phần lớn những nơi được xem là danh thắng đều là chốn sơn thủy hữu tình, có núi non, có rừng suối, với những chim bay, cá lượn. Hương Sơn cũng thế! Nhưng Hương Sơn là cảnh bụt, cho nên:

Thỏ thể rừng mai chim cúng trái,

Lửng lơ khe Yến có nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chày kình,

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Chim ở đây dường như đã quên mình là chim, cá ở đây đã quên mình là cá. Tự bao giờ chúng đã thành những tín đồ. Có phái bầu không khí bao trùm lên Hương Sơn là không khí thiền – vị thiền tan vào rừng mơ, vị thiền đã hòa vào suối Yến mà chim cá ở đây nhiễm vào minh Phật tinh? Hay sống trong cảnh bụt, ngay đến chim, cá cũng thanh lọc, cùng được khơi dậy cái cốt cách bụt kia chăng? Du khách từ cái thế giới đầy biến động vào đây dường như cũng bừng ngộ, nghĩa là cũng nhập vào làm một với cảnh bụt chốn này. Tiếng chim “thỏ thẻ”, dáng cá “lửng lư” và giờ đây là “tiếng chày kình”… Những âm thanh, dáng diệu ấy tạo nên cái bầu không khí rất Hương Sơn. Chim cúng trái, cá nghe kinh, con người đi vào cảnh thảng thốt với tiếng chày kình… Tất cả đều cời bò hệ lụy trần gian, đang hòa nhập vào không khí linh thiêng. Tại khoảnh khắc ấy cả chim, cả cá, cả người đều dường như đang thoát tục. Làm sao Chu Mạnh Trinh có thể viết được như thế? Cái sinh khí Hương Sơn vô hình là thế, vậy mà thi nhàn đã thấy nó hiện hình trong tất cả, hòa nhập vào tất cả, hòa tan trong tất cả! Có lẽ chỉ với những hình ảnh như thế thôi, cái thần thái của Hương Sơn đã nhập vào thơ rồi!

Thế rồi, thi sĩ cứ say sưa thưởng ngoạn cảnh Hương Sơn như một tạo tác nguy nga, mĩ lệ của tạo hóa bày ra sống động dưới trời Nam bằng lối kể điểm danh những địa đanh nổi tiếng của Hương Sơn:

Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Vũng

Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh

Những từ “này” để trỏ liên tiếp gợi sự phong phú, gợi thê liên hoàn, lại gợi được cả cái cảm xúc được ân thưởng thỏa thuê. Cảnh sắc thật giàu có, đủ cả suối, chùa, am, động… tất cả cứ như bày đặt ra theo bước du khách. Chu Mạnh Trinh lại kết hợp cả lối tạo hình với những nét vừa mĩ lệ vừa hư huyền, với những màu vừa lộng lẫy vừa cách điệu, với những mảnh vừa trầm tĩnh vừa biến ảo. Trong dăm ba câu mà ta thấy được con mắt tạo hình của thi sĩ lúc ngây ngất ngước lên, khi mải mê nhìn xuống, vừa nắm bát cái bóng nguyệt lồng trong thăm thẳm tầng hang, đã đuổi theo những thang mây lượn cùng vách núi:

Nhác trông lên ai khéo họa hình,

Đá ngũ sắc Long lanh như gấm dệt.

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt.

Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.

Với những câu thơ này, du khách đường như đã đặt những bước chân cuối cùng vào chốn Hương Sơn.

Tuy nhiên, thú Hương Sơn chưa phải đã hết.

Nếu như tiếng chày kình động tiếng chuông Hương Sơn mới đánh thức người khách tang hải trong cái giấc mộng lớn của cuộc đời, thì đến đây cuộc hành hương mới kết thúc. Ấy là cái khoảnh khắc thi nhân quên mình là thi sĩ để mà sống trong phút giây cái nỗi niềm Phật tử:

Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật,

Cửa từ bi công đức, xiết là bao

Kẻ vãn cảnh đã cởi bỏ lốt tục lấm bụi trần ai để tâm hồn chan hòa với chốn này. Vẻ đẹp của thắng cảnh, vị thiền của danh lam đã hòa nhập kẻ vãn cảnh với người hành hương trong cái trạng thái tâm linh thanh cao và yên tịnh ấy. Sức quyến rũ cuối cùng của Hương Sơn dường như ở đấy!

Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh – Dàn ý chi tiết

I. Mở bài

Hương Sơn là dãy núi ớ huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây. Trên núi là quần thể những suối, chùa, am, động, trong đó có chùa Hương thờ Phật Bà Quan Thế Âm. Tương truyền, khi chúa Trịnh Sâm đến nơi đây đã khắc vào vách đá cửa động Hương Tích dòng chữ “Nam thiên đệ nhất động”, nghĩa là động đẹp nhất trời Nam. Với vẻ đẹp của một danh lam thắng cảnh, động Hương Sơn đã trở thành nguồn thi hứng cho biết bao thi nhân. Dương Lâm có Chơi chùa Hương, Tản Đà có Động Hương Sơn, Nguyễn Nhược Pháp có Chùa Hương… Riêng Chu Mạnh Trinh (1862 – 1905) có tới ba bài: Hương Sơn phong cảnh ca, Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình. Cả ba bài thơ đều được sáng tác khi ông tham gia vẽ kiểu và trùng tu lại chùa Thiên Trù. Trong ba tác phẩm viết về Hương Sơn của ông, bài Hương Sơn phong cảnh ca có giá trị nhất.

II. Thân bài

1. Thể loại, bố cục:

– Nếu Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình được viết theo thể lục bát thì bài Hương Sơn phong cánh ca được viết theo thể hát nói.

– Thông thường một bài hát nói gồm 11 câu chia làm 3 khổ, riêng bài thơ này có tới 19 câu, gọi là dôi khổ. Theo cuốn Nhà thơ Chu Mạnh Trinh của Lê Văn Ba, bài thơ còn có mở đầu là hai cặp câu lục bát:

Lên chùa chân bước khoan khoan Khi nam mô Phật, khi tang tang tình. Thuyền nan một lá xinh xinh, Non non, nước nước, mình mình, ta ta…

– Bài thơ được kết cấu theo thế hát nói song người đọc cùng dễ dàng nhận ra diễn biến tâm trạng của thi nhân thể hiện trong tác phẩm, đi từ ấn tượng chung về cảnh Hương Sơn đến tả thực cảnh đẹp và cuối cùng là những suy nghĩ về giang sơn đất nước.

2. Khổ đầu (4 câu):

Bầu trời cánh Bụt. Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. Kìa non non, nước nước, mây mây, “Đệ nhất động” hỏi là đây có phải?

– Bầu trời cánh Bụt, bốn từ đã gợi cho người đọc cảm giác đến một nơi thần tiên thoát tục, không gian mênh mông thanh khiết.

– Hương Sơn đẹp còn bởi khung cảnh hùng vĩ của núi non trùng điệp. Nhịp 2/2 và điệp từ non non, nước nước, mây mây, như bày ra một quần thể núi non sông nước hang động trập trùng, vốn là nét độc đáo của nơi này.

– Giọng điệu câu thơ thể hiện vẻ ngạc nhiên thích thú, niềm sung sướng thỏa mãn khi được đến một nơi nổi tiếng:

Thủ Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. “Đệ nhất động” hỏi lờ đây có phải?

Câu hỏi và cách nhắc lại lời người xưa để khẳng định một lần nữa vẻ đẹp của Hương Sơn.

– Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã mang đến cho người đọc niềm thú vị trước một nơi vừa thanh cao mang màu sắc tôn giáo, vừa là một thắng cảnh đẹp của đất nước. Người ngắm cảnh không chỉ là tín đồ hành hương mà còn là du khách yêu cảnh thiên nhiên, yêu đất nước, một thi nhân dào dạt cảm xúc. Bốn câu thơ đầu giới thiệu về cảnh và người vừa tự nhiên vừa khéo léo.

3. Khổ giữa (12 câu):

– Ở khổ giữa, nhà thơ tả thực cảnh theo hành trình bước chân du khách. Bắt đầu từ bến Đục, con đò dọc đưa khách xuôi theo khe Yến. Hai bên bờ suối là rừng mai trải dài. Trong thiên kí sự của cô bé mười lăm tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã tả cảnh khe Yến rừng mai thật hữu tình:

Thuyền đi, bến Đục qua. Mỗi lúc gặp người ra, Thẹn thùng em không nói: Nam mô A di đà Réo rắt suối đưa quanh, Ven bờ, ngọn núi xanh, Dịp cầu xa nhỏ nhỏ: Cảnh đẹp gần như tranh.

Còn Chu Mạnh Trinh lại cảm nhận cảnh vật ở không khí thanh khiết không nhuốm bụi trần:

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái, Lững lờ khe Yến cá nghe kinh. Vẳng bên tai một tiếng chày kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Tang hải là từ vốn để chỉ sự đổi thay của cuộc đời, hoặc chỉ cõi đời trần tục biến đổi vô thường. Vì thế, nghe tiếng chày kình, khách tang hải giật mình trong giấc mộng có thể hiểu, người khách đến đây, trong không khí thần tiên thoát tục, bỗng thấy tâm hồn được thanh lọc, nhận ra cuộc đời đầy dâu bể đa đoan, nhận ra cuộc đời là một giấc mộng phù du. Cảnh đẹp Hương Sơn, vì thế càng giàu ý nghĩa.

– Càng vào sâu, càng lên cao khách càng ngạc nhiên trước vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh:

Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng, Này hang Phật Tích, này động Tuyết Quynh.

Điệp từ này, cách liệt kê các địa danh giúp người đọc hình dung ngay vẻ đẹp của một quần thể có cao thấp, có suối, chùa, hang, động, có thiên tạo lẫn nhân tạo. Nhà thơ không cần tả nhiều, chỉ tên gọi cũng đã tạo cho người đọc những tưởng tượng, liên tưởng phong phú, gợi cảm.

– Riêng đối với hang động ở Hương Sơn, nhà thơ không chỉ nêu tên mà dừng lại tả cụ thể, tỉ mỉ trong bốn câu:

Nhác trông lên ai khéo họa hình, Đá ngủ sác long lanh như gấm dệt Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây

Đại từ “ai” được dùng ở đây diễn tả sự kinh ngạc trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên. Theo dân gian, trong hang động có hai ngả, đường lên trời và đường xuống âm phủ. Câu thơ tả thực mà vẫn lãng mạn với màu sắc, đường nét, ánh sáng và cảm giác huyền ảo, bồng bềnh như tiên cảnh. Cách dùng từ láy long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh; cách đảo ngữ thăm thẳm một hang, gập ghềnh mấy lối; hình ảnh so sánh lồng bóng nguyệt, uốn thang mây cho thấy tài nghệ điêu luyện của nhà thơ.

– Chính trong khoảnh khắc ngưỡng mộ bàn tay của tạo hóa, nhà thơ đâ có cảm xúc và suy nghĩ về đất nước:

Chừng giang sơn còn đợi ai đây, Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt.

Giang sơn, trước hết là muốn nói đến cảnh Hương Sơn, là thiên nhiên tươi đẹp, sâu xa hơn là nói đến đất nước đang cần đến tấm lòng của con người. Câu thơ bày tỏ tình yêu nước thầm kín của nhà nho Chu Mạnh Trinh.

4. Khổ xếp (3 câu cuối):

Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, Cửa từ bi công đức biết là bao! Càng trông phong cảnh càng yêu.

– Với hệ thống từ ngữ của đạo Phật, kết thúc bài thơ tác giả đưa ta trở về không khí thần tiên thoát tục của cảnh Hương Sơn, mang lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

– Câu thơ cuối là tâm trạng của nhân vật trữ tình. Ở đây ta không chỉ tìm thấy một nhà thơ sống phóng khoáng lãng tử, thoát ly hiện thực mà còn là một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước.

III. Kết luận

– Chu Mạnh Trinh là nhà thơ lớn ở cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng tài hoa, giỏi cả cầm kì thi họa, nhất là nghệ thuật kiến trúc. Chuyện kể lại, quan án Chu làm quan mà chẳng mấy để tâm đến xét xử, chỉ thích rong chơi đến cảnh đẹp của đất nước. Con người và tài năng ấy đã in dấu khá rõ trong bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca.

Bình Luận Bài Thơ “Vội Vàng” – Nhà Phê Bình Chu Văn Sơn / 2023

Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

1. Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp.

Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

*

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” cặp kè với chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ.

2. Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách xưng hô cho từng phần. Trên, xưng “tôi” – lập thuyết, đối thoại với đồng loại. Dưới, xưng “ta” – đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

*

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên – một ước muốn không thể:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” thật là những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới thắm sắc đượm hương này.

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên.

Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, muốn buộc gió chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời – gian – tuần – hoàn, với cái chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời – gian – tuyến – tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn.

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ. Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính “lạ hoá” về thời gian và không gian:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn “buộc gió lại” ư – hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt phôi pha! Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi”! Thì ra chữ “rớm” và chữ “vị” đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị – hình thể của chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên bất tận: “than thầm tiễn biệt”. Không gian đang tiễn biệt thời gian! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi!

Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ – hiện tại – tương lai, mà chỉ có hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây… dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó hiện diện trong sự đối lập của “độ phai tàn” (thời phai) và “thời tươi”:

Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.

Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thuỷ vô chung của nó.

Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua với thời gian, là tranh thủ sống:

Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa…

Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm

Đến đây, phần luận giải của tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí!

*

Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này. Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống trào cuốn của mình:

Ta muốn ôm: Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa, nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn vô biên của nó. Cái điệp ngữ:“Ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói, câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s!

Câu thơ:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thoả thuê: chếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng, cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

– Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say.

Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!

Bình Giảng Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai / 2023

Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn Bình giảng về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai

Mở bài Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Nghĩa chàng nhớ mãi chàng ơi,

Nhớ chàng như nước hồ vơi lại đầy.

Tình yêu, nỗi nhớ là những đề tài rất phong phú trong kho tàng ca dao dân của dân tộc. Trong đó tiêu biểu là bài ca dao “khăn thương nhớ ai”. Bài ca dao này nói về nỗi thương nhớ không nguôi đến người mình yêu. Cô gái đã dùng chiếc khăn, đèn và hỏi cả ánh mắt của mình để diễn tả nỗi nhớ cứ buồn chồn không nguôi trong tâm trí mình.

Thân bài Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Mở đầu bài ca dao người con gái hỏi chiếc khăn để diễn tả nỗi nhớ của mình:

Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt

Theo quan niệm của người xưa chiếc khăn là vật giao duyên, kỉ vật của người yêu. Ở trong đoạn này câu thơ “Khăn thương nhớ ai” láy đi láy lại ba lần càng nhấn mạnh nỗi nhớ thiết tha, da diết. Chiếc khăn tuy là vật vô tri vô giác không biết tự rơi xuống đất, tự vắt nên vai, tự chùi nước mắt. Nhưng qua con mắt tinh tế và nỗi nhớ khôn xiết và tác giả đã nhân hóa chiếc khăn tự làm được mọi thứ. Câu thơ thật hay và ý nghĩa khiến người đọc rất dễ hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài thơ. Đồng thời qua đoạn thơ này ta càng hiểu được tình yêu nó nồng cháy đến như thế nào. Nói về chiếc khăn trong kho tàng ca dao nước ta cũng có rất nhiều câu như:

“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”

Những câu thơ trên diễn tả nỗi nhớ mênh mông khắp không gian thì bốn câu thơ sau là nỗi nhớ trải dài suốt thời gian:

“Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên”.

Đến đây nỗi nhớ vẫn dâng trào nhưng tác giả lại chuyển nỗi nhớ từ nhớ khăn sang đèn để thể thời gian nỗi nhớ xuyên suốt ngày đêm. Nhớ đến mức đèn vẫn sáng không muốn tắt đi. Và mắt cũng vậy nhớ thương đến mức không ngủ được. Như vậy ta thấy rằng nỗi nhớ người thương thật là mãnh liệt. Hình ảnh người thương luôn ở trong tâm trí dù là đang ở hoàn cảnh, thời gian nào dù là ngày hay đêm. Có rất nhiều câu nói về sự thao thức nhớ người yêu như:

“Đêm nằm lưng chẳng tới giường.

Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

Như vậy ta thấy được điệp khúc “thương nhớ ai” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thể nhấn mạnh nỗi nhớ người thương da diết, nhớ đến bồi hồi rồi lại không ngủ được. Đặc biệt từ “ai” thể hiện nỗi nhớ mênh mông sâu rộng không có điểm dừng đồng thời cũng không nói rõ đối tượng ở đây là ai mà chỉ xoáy sâu vào nỗi nhớ mênh mông ấy. Tuy câu ca dao không nói cụ thể đối tượng nhưng khi đọc lên ta đã biết ngay đây là nỗi nhớ người thương bởi chỉ có trong tình yêu con người ta mới bồi hồi da diết như vậy. Nhớ nhung đến không không ăn không ngủ thật là bao la. Nỗi nhớ người yêu ấy tưởng chừng không có điểm dừng nhưng rồi cô gái lại kết thúc bằng hai câu:

Đêm qua em những lo phiền,

Lo vì một nỗi không yên một bề…

Nhớ thương nhiều quá mà không có sự đáp lại cô gái lại trở nên lo phiền cho chính bản thân mình. Cô sợ rằng duyên phận sẽ không đến được với nhau. Bởi yêu thương càng nhiều thì cô càng sợ cho hạnh phúc bấp bênh. Từ “lo” được lập lại hai lần ở hai câu thơ cuối lại càng nhấn mạnh nỗi lo sợ hạnh phúc này.

Kết luận bài văn Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Như vậy qua bài ca dao Khăn thương nhớ ai ta càng thấy rõ được tình yêu nồng cháy và mãnh liệt của tuổi trẻ. Khi yêu rồi hình bóng người thương luôn hiện diện trong tâm trí mãi không thôi dù là đang làm gì đang ở đâu hay cả trong ban ngày và ban đêm. Yêu nhau là vậy đấy nhưng ai rồi cũng phải lo sợ giống cô gái trong bài ca dao yêu nhau nhưng lo sợ không đến được với nhau.

Theo chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Bình Giảng Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!