Xem Nhiều 12/2022 #️ Bình Giảng Bài Thơ “Sóng” Của Xuân Quỳnh / 2023 # Top 21 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bình Giảng Bài Thơ “Sóng” Của Xuân Quỳnh / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bình Giảng Bài Thơ “Sóng” Của Xuân Quỳnh / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thật đúng khi chúng ta có thể nhận xét rằng Xuân Quỳnh là nữ nhà thơ có phong cách sáng tác hồn hậu, thơ của Xuân Quỳnh như thật đằm thắm nhưng tha thiết và mãnh liệt. Đọc thơ Xuân Quỳnh mà như làm cho chính chúng ta như lạc vào một thế giới với đầy cung bậc cảm xúc khác nhau. Thi phẩm đặc sắc “Sóng” rút trong tập “Hoa dọc chiến hào” đường như cũng chính là một tác phẩm như vậy. Xuân Quỳnh cũng như đã muốn gửi gắm những tâm sự thầm kín nhưng rất mực sâu sắc và da diết qua những vần thơ 5 chữ này.

Ta như thấy được chính thể thơ 5 chữ rất phù hợp cho phong cách sáng tác cũng như mục đích sáng tác bài thơ này của Xuân Quỳnh. Và cũng chính với tâm hồn sôi nổi, trẻ trung, tình yêu phơi phới, sống và cống hiến hết mình mà thi sĩ Xuân Quỳnh đã trải lòng mình trên những vần thơ thật đẹp.

Ta không thể không thừa nhận được “Sóng” được xem chính là hình tượng trung tâm, xuyên suốt bài thơ, biểu tượng cho khát vọng, và đó cũng chính là những tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Người đọc như cũng thấy được chính với những biểu hiện của sóng chính là những cung bậc tình cảm của người con gái, khi dịu dàng, khi dữ dội, khi mãnh liệt không thể kiềm chế được. Có thể tấy được rằng cũng có thể nó Xuân Quỳnh đã hóa thân vào sóng để biến tình yêu của mình thành bất diệt trong trái tim.

Tác giả mở đầu bài thơ bằng sự đối lập của sóng đó chính là:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Khi mà trong số chúng ta đọc những câu thơ này lên, người đọc nhận ra sự đối lập một cách rõ nét của sóng. Sóng là vậy đấy có lúc thì thật yên lặng, không nổi sóng nhưng khi có giông bão thì lại cuồn cuộn lên dữ dội, ồn ào ghê sợ,. Ta dường như cũng đã thấy được những con sóng với muôn vàn biểu hiện, không bao giờ đứng yên. Qủa thực chính với tâm hồn người con gái khi yêu có chăng cũng như vậy, luôn chồng chất lên biết bao nhiêu những trạng thái và trăn trở khác nhau. Nếu như ta như thấy được chính với những hiện tượng của sóng khó có thể giải thích nổi thì những trạng thái khi yêu của người con gái cũng thế. Ta có thể thấy đực rằng khi thế giới này chật hẹp quá nhưng tình yêu lại quá rộng lớn, con “sóng” ấy muốn đi đến một nơi thật xa, có thể vẫy vùng, có thể bắt nhịp yêu thương mình đang cần.

Có thể nói rằng chính với một phong cách thể hiện cũng như quan niệm của Xuân Quỳnh trong tình yêu thật mới mẻ, đầy sức hút.

Ta như thấy được chính tâm trạng luôn biến động nhưng con sóng cũng như tấm lòng người con gái khi yêu vẫn luôn như thế, không biến đổi, nó càng mãnh liệt hơn:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Và những khát vọng trong tình yêu luôn mãnh liệt và tha thiết biết bao nhiêu. Ta như cũng có thể thấy được tuổi trẻ là tuổi của tình yêu và hi vọng. Tình yêu càng lớn, khát vọng càng mãnh liệt. Đó dường như cũng chính là chân lý trong tình yêu. Tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu tràn đầy hi vọng biết bao nhiêu.

Khi mà bước sang những khổ thơ tiếp theo, hình ảnh nhân vật trữ tình đã xuất hiện giãi bày những tâm sự cũng như những hoài nghi chưa giải thích được đó là:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Đến quy luật của tự nhiên “sóng” từ đâu, “gió” từ đâu con người cũng không thể giải thích được thì tình yêu đến từ bao giờ có phải chăng cũng khó lí giải hay không? Sự vô hạn của thiên nhiên khiến cho sự hữu hạn của tình yêu bất lực, không thể giải thích. Lại thêm một quan niệm mới về tình yêu của Xuân Quỳnh. Tình yêu vốn là thứ khó đoán, nó đến từ bao giờ lại càng mơ hồ hơn hết.

Câu thơ đặc sắc như cất lên “Em cũng không biết nữa” thể hiện sự hồn nhiên nhưng đáng yêu của người con gái. Và có thể nói rằng như một kiểu hờn dỗi vô cớ với chính bản thân mình.

Xuân Quỳnh dường như cũng đã tìm đến với những cung bậc của sóng để thể hiện cung bậc tha thiết và mãnh liệt nhất trong tình yêu

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Và đây như lại chính là một cấu trúc đối lập tương phản có giá trị cao trong việc thể hiện trạng thái khi yêu. Và dường như chính nỗi nhớ trong tình yêu luôn là điều cồn cào và tha thiết nhất. Dù có là “Sóng trên mặt nước” hay “sóng dưới lòng sâu” đi chăng nữa thì “bờ” vẫn luôn là điều mà sóng nhớ nhung nhất. Có lẽ rằng điều này nó cũng như “anh” vẫn luôn là nỗi nhớ thường trực trong “em”. Đặc biệt hơn ta cũng như đã thấy được những nỗi nhớ này càng da diết và cồn cào hơn ở cả ngảy trong mơ. Và quả thật những nỗi nhớ cứ thường trực, chực trào ra ngay bất cứ lúc nào.

Người ta dường như cũng đã vẫn nói trong tình yêu con gái luôn ở thế bị động, nhút nhát, e dè nhưng trong thơ của Xuân Quỳnh thì người con gái ở thế chủ động, không che dấu tình cảm của mình, cứ để nó tràn ra. Và đây như là một cách thể hiện, một quan niệm mới mẻ đầy ấn tượng đối với người đọc.

Ta có thể thấy được những tình yêu của “em” luôn thủy chung dù cho hai người ở cách xa:

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

Và cho dù là những không gian mênh mông và thời gian dài đằng đẵng thì trái tim của “em” vẫn chỉ hướng về mỗi anh. Đó dường như một lời thế sâu sắc và bất diệt trong tình yêu của người con gái.

Và hơn hết dẫu tình yêu có dài, có sâu nặng thì tấm lòng của người con gái vẫn luôn thấp thỏm, lo ngại:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Người đọc dường như thấy được những câu thơ thoáng một nỗi buồn mênh mang và xa xăm, chuyện gì rồi cũng qua đi, năm tháng và tình yêu cũng vậy. Liệu rằng chính cả những tình yêu có thể vĩnh cửu hay không, như cũng chỉ có thể hòa mình vào thiên nhiên, vào đất trời thì mới có thể làm cho tình yêu bay cao, bay xa hơn.

Qủa thật những băn khoăn, những trăn trở trong tình yêu của người con gái đã trở nên mãnh liệt, thôi thúc thành ước vọng:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Người đọc như thấy được những nhân vật trữ tình đang loay hoay tìm cách làm tan chảy những con sóng hòa vào đại dương mênh mông để tình yêu luôn tồn tại, luôn còn mãi, vĩnh cửu. Và đó cũng vốn dĩ tình yêu không bao giờ đơn đọc một mình, nó luôn hòa với thế giới bao la ở bên ngoài. Xuân Quỳnh là nhà thơ mà như đã thực sự rất khéo léo và tài hoa, như cũng đã kết tinh được những khát vọng lớn lao của người con gái.

“Sóng” chính là một thi phẩm hay, ý nghĩa, vừa sôi nổi vừa hồn nhiên vừa mãnh liệt vừa mang ý tượng trưng cho một tình yêu bất diệt và tha thiết. Xuân Quỳnh quả thật rất xứng đáng là một nhà thơ tiêu biểu, với một phong cách hiện đại, nữ tính nhưng mãnh liệt, cháy bỏng.

Nguồn: Sổ tay văn học

Bình Giảng Bài Thơ “Sóng” / 2023

Nếu như Xuân Diệu đã từng thổn thức vì tình yêu, dâng hiến trọn đời cho tình yêu, chạy vội với thời gian để được yêu thì Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ vì yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp hình ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ tình yêu… Cũng vì lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung dị, bình thường nhất trong cuộc sống song lại chứa đựng biết bao là ẩn ý, biết bao là ẩn tình mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ. Chúng ta đã đến với Sóng của Xuân Quỳnh để thưởng thức từng vị thương, vị nhớ của một người phụ nữ đang yêu. Người ta thường ví rằng tình yêu là một bông hoa kì diệu! Vâng! Quả đúng như thế, tình yêu chưa bao giờ đi theo một hướng xác định. Cũng có lúc, người ta nhìn nhận tình yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc tình, có khi trầm bổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương. Thì đây, trong bài thơ này, tình cảm của nhân vật “Em” cũng biến thiên như thế!

“Sóng” là thơ ngụ ngôn, một thể thơ rất phù hợp để kể về một huyền thoại tình yêu đầy ăm ắp những tâm trạng khắc khoải, những cung bậc tình cảm và vì thế bài thơ dễ dàng được phổ nhạc. Sóng! – là một hình tượng ẩn dụ, là phương tiện bộc lộ tình cảm của nhân vật “Em”:

Một câu chuyện cổ tích về tình yêu được nhà thơ Xuân Quỳnh kể lại. Câu chuyện bắt đầu từ một con sóng nhỏ chẳng biết xuất phát từ đâu, sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động. Hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn. Sóng chẳng hiểu tại sao mình lại cứ “dữ dội” rồi “dịu êm”, “ồn ào” rồi “lặng lẽ”. Phải chăng sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ? Vâng! Một tình cảm đang rạo rực trong trái tim người con gái, làm sao ai có thể “định nghĩa được tình yêu”. Một buổi chiều mộng? Một lần gặp gỡ? Một phút xao động trong tâm hồn? Người con gái hay chính nhân vật “Em” trong bài đang cố tìm câu giải đáp cho tình yêu, cho sự bâng khuâng, đối lập của lòng mình. Và rồi chỉ còn một lối thoát: con sóng phải tìm ra tận bể cũng như “Em” đi tìm nguồn gốc của tình yêu.

Tâm hồn con người là một cõi mênh mông vô tận. Làm sao ta có thể đi xuyên suốt hết cái cõi vô tận ấy. Và ngay chính trong lúc cõi lòng đang bùng lên ngọn lửa yêu thương thì cô gái trẻ lại càng trăn trở, bâng khuâng, khắc khoải, dằn vặt với chính lòng mình. Phải vượt khỏi cái giới hạn chật hẹp này, phải lao mình vào chân trời bao la, những miền vô tận để hiểu rõ lòng mình. Con sóng đã rời bờ ra đi, đi thật xa, cố tìm hiểu và soi mình với những con sóng khác để biết được sự huyền diệu của tình yêu, mà hiện tại đối với sóng vẫn còn là một bí mật. Tình yêu là gì ư? Một nhà thơ Pháp đã từng khẳng định: “tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi”. Và thế rồi con sóng vẫn đi tìm mãi, tìm mãi:

Tình yêu cũng như con sóng, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Xuân Diệu đã từng nói:

Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ. Tuổi trẻ là trái tim dào dạt, đa cảm và rạo rực niềm yêu thương chất sống. Chính vì thế, mà cái khát vọng tình yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ, nó cứ thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lý yêu đương, cũng như con sóng “ngày xưa và ngày sau vẫn thế”.Tuy nhiên, câu thơ “bồi hồi trong ngực trẻ” là một câu thơ chưa chín.Thật ra ngực trẻ hay ngực già… đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu. Song, sóng và em cứ tìm mãi mà chẳng hiểu mình, chẳng thể hiểu được tình yêu. Sóng chính là điển hình của sự nhận thức về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa được tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió – Vâng! Gió bắt đầu từ đâu? Tình yêu bắt đầu từ đâu? -“Em”cũng không biết nữa. Đọc những câu thơ này, ta chợt hình dung cái lắc đầu nhè nhẹ như một sự bất lực của cô gái. Trong khi người con gái cố đi tìm cội nguồn tình yêu thì tình yêu trở thành trò chơi ú tim, không tài nào nắm bắt được. Và thế là, muôn đời tình yêu vẫn là sự bí hiểm. Tình yêu của “Em” giờ đây trở thành nỗi nhớ da diết, giày vò. Nó choáng đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian. Phạm Đình An đã nhận xét: “Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ yêu buổi đầu giản đơn hò hẹn, non nớt, ngọt ngào, mà là tình yêu hạnh phúc, tình yêu gắn bó với cuộc sống chung với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều chứng minh của thử thách, mang đậm dấu ấn trách nhiệm”. Chính vì thế mà tình yêu của người “Em”. Ở đây có thể nói không còn bồng bột mà khá chín chắn, có sự can thiệp của lý trí, có ý thức về mặt tình cảm. Ấy thế mà trong lòng người con gái vẫn trỗi dậy mãnh liệt một nỗi nhớ muôn hình, muôn sắc:

Nỗi nhớ của “Em”, của tình yêu dữ dội được khởi đầu từ những cái cao cả lớn lao, không tủn ngủn và tầm thường chút nào! Nỗi nhớ ấy da diết, cuốn lấy tâm hồn người con gái! Với Xuân Quỳnh là thế: mọi con sóng đều có bờ, mục đích là vỗ vào bờ, nên khi sóng xa bờ thì phải nhớ bờ, ngày đêm không ngủ được. Cũng như sóng, nỗi nhớ về “Anh” vẫn dào lên mãnh liệt:

Tình yêu đến, tình yêu mang theo một nỗi nhớ vô bờ đến với “Em”, choáng ngợp tâm hồn “Em”. Tình yêu đã trở nên đậm đà đến thế, và nỗi nhớ lại càng da diết miên man. “Có không gian nào dài hơn chiều dài nỗi nhớ, có một khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình yêu…”. Vâng! Làm sao đo được nỗi nhớ, làm sao đo được tình yêu! “Em” vẫn nhớ đến “Anh”, chỉ nhớ về phương anh mà thôi:

Tình yêu thật huyền diệu! Điều đáng nói là “Em” biết chủ động, biết gửi trao nỗi nhớ về hướng xác định: Phương anh! – Phương của tình yêu: “rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh…”. Tình yêu của người phụ nữ thật mãnh liệt nhưng cũng thật trong sáng, dung dị, một tình yêu thuỷ chung và trọn vẹn. Song, để toàn vẹn mối tình ấy, con sóng phải vượt qua muôn ngàn cách trở:

Con sóng muốn tới bờ, phải vượt qua bao giông tố, bão bùng. Em muốn hướng về anh, phải vượt qua bao cạm bẫy cuộc đời. Suy cho cùng, tình yêu phải cần thử thách tôi luyện mới thấy rõ giá trị thực sự của nó. Tình yêu muốn tồn tại cũng phải có sự ra đi và trở lại, phải có sự dồi lên, lắng xuống để cuối cùng trở về với tình yêu hồn nhiên thuở đầu. Chính tình yêu của anh đã giúp cho em vượt qua tất cả, đón nhận một tình yêu vĩnh cửu – tình yêu lớn lao và cao thượng, không mang màu sắc vị kỉ, riêng rẽ mà là hoà trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng sẽ tồn tại mãi mãi:

Tình yêu sẽ trưởng thành đằm thắm hơn và sẽ vĩnh hằng trong cái đẹp của tạo hoá. Bài thơ kết thúc rồi mà nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng của tình yêu vẫn còn vướng đọng đâu đây. Bài thơ thành công không chỉ trong việc miêu tả hình tượng “Sóng” mà còn bộc lộ một tình yêu thật sôi nổi, nỗi khao khát tình yêu của một nhà thơ nữ. Đây chính là nét mới mẻ trong thơ ca hiện đại Việt nam. Trong rất nhiều loài hoa thì bông hoa Xuân Quỳnh toả ra một hương thơm riêng, một cách cảm nhận riêng về sóng – biển trong tình yêu. Tình yêu như con sóng mênh mang, vô tận, song cái đích cuối cùng cũng là một tình yêu thứ nhất, vĩnh hằng mãi mãi.

Bình Giảng Bài Thơ Từ Ấy / 2023

Đề bài:(Bình giảng bài thơ Từ Ấy ): “Nhận định về phong cách thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: Tố Hữu là nhà thơ của tình cảm lớn, lẽ sống lớn, niềm vui lớn. Điều đó được thể hiện như thế nào qua bài thơ “Từ ấy””

Những năm 30 của thế kỉ XX, khi những nhà thơ lãng mạn đang quẩn quanh với cảm giác cô đơn, sự tù túng, sự nhỏ bé cạn hẹp của cái tôi cá nhân mà chưa có cách vượt thoát thì Tố Hữu, một học trò trường Quốc học như đã tiếp nhận được không khí thời đại, sớm”băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”.

May mắn cho người con xứ Huế khao khát tìm kiếm lẽ sống ấy, “anh Lưu, anh Diểu dạy con đi,” chỉ cho con đường tương lai, cũng là khai sinh một con đường thơ cho người chiến sĩ Cộng sản trẻ tuổi. Sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt, đánh dấu một mốc son chói lọi trong đời cách mạng, đời thơ Tố Hữu, Từ ấy là bài thơ thể hiện rõ nét hình tượng tác giả người chiến sĩ cộng sản khi bắt gặp lý tưởng cộng sản và những chuyển biến, thay đổi trong nhận thức và tình cảm của người thanh niên cách mạng ấy…

Tố Hữu (1920-2002) ở làng Phù Lai, Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế trong một gia đình nhà nho nghèo. Song thân củaTố Hữu rất say mê với việc sưu tầm ca dao, tục ngữ.Tố Hữu sinh ra ở mảnh đất rất giàu về truyền thống văn hoá (những làn điệu dân ca, điệu mái nhì, mái đẩy – Nhạc cung đình). Tất cả có ảnh hưởng không nhỏ tới tâm hồn thơ của Tố Hữu.

Năm 17 tuổi, Tố Hữu đã giác ngộ cách mạng. Năm 1938, khi Tố Hữu 18 tuổi đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản.Từ đó sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng. Đó cũng là chặng đường phát triển không ngừng về tư tưởng của Tố Hữu.

Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu gần như cùng lúc với con đường hoạt động cách mạng. Nội dung thơ Tố Hữu bám sát chặng đường cách mạng để phản ánh. Vì vậy thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của người công dân, chiến sĩ, cán bộ cách mạng đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, với Bác Hồ. Nghệ thuật thơ Tố Hữu thể hiện ở phong cách trữ tình chính trị, đậm đà tính dân tộc. Cảm hứng của thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi. Tố Hữu là hiện tượng đặc biệt của thơ ca cách mạng: Ông vừa hoạt động Cách mạng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong trung ương Đảng và Chính phủ, vừa làm thơ.

Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu viết vào tháng 7/1938 nằm trong phần Máu lửa” của tập thơ Từ ấy. Tập thơ Từ ấy là tập thơ đầu của Tố Hữu. Bài thơ bộc lộ niềm say mê náo nức khi đón nhận lý tưởng Đảng của Tố Hữu. Đồng thời thể hiện lời tâm nguyện của nhà thơ khi đã được giác ngộ Cách mạng.

Tố Hữu là nhà thơ của tình cảm lớn: Thi sĩ không viết về những tình cảm riêng tư nhỏ bé của con người trong mối quan hệ đời thường mà say mê ca ngợi những tình cảm công dân, tình Cảm Cách mạng như tình đồng bào đồng chí, tình yêu quê hương, đất nước, kính yêu lãnh tụ, tinh thần quốc tế và sản. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tội nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc.

Lẽ sống lớn trong thơ Tố Hữu là gắn bó với cuộc đấu tranh chung của đất nước nhân dân “vì thiêng liêng giá trị con người/ Vì muôn đời hoa lá xanh tươi”. Niềm vui trong thơ Tố Hữu cũng không nhỏ bé, tầm thường mà là niềm vui lớn; sôi nổi, hân hoan nhất và cũng rực rỡ tươi sáng nhất là những vần thơ về chiến thắng (Huế tháng tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Toàn thắng về ta).

Với tư cách là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm và biểu đạt bằng phương pháp đặc thù, đó là hình tượng nghệ thuật.

Hình tượng nghệ thuật, trước hết, là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tượng tưởng, sáng tạo trong tác phẩm. Nhưng văn bản văn học bao giờ cũng là lời của người kể chuyện hay của nhân vật trữ tình nên hình tượng trong tác phẩm còn là hình tượng của tác giả. Ở “Từ ấy” là cảm giác bừng ngộ đầy hạnh phúc của người thanh niên, trong lớp lẽ sống, bắt gặp lý tưởng Cộng sản.

Bắt gặp lý tưởng Cộng sản, người thanh niên trí thức ấy như tiếp nhận được nguồn sáng xua đi đám mây u ám của cái tôi cá nhân tiểu tư sản:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

“Từ ấy”, một phiếm định về thời gian, chỉ thời khắc thiêng liêng bắt gặp lý tưởng cộng sản đã trở thành mốc son, trở thành bước ngoặt trong cuộc đời nhà thơ. Cách nói mang tính chiêm nghiệm, hồi tưởng nhưng không gợi cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối thường có mà mạnh mẽ, khẳng định. “Từ ấy” là lúc ánh sáng của lý tưởng cộng sản soi rọi, như chiếc đũa thần kì ban phép lạ, làm bừng tỉnh, giúp con người đốn ngộ chân lí của cuộc sống. Trước “Từ ấy”, Tố Hữu đã từng bế tắc và tăm tối:

Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời

Vẩn vơ mãi theo vòng quanh quẩn

Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời

Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước

Chọn một dòng hay để nước trôi

Từ bóng đêm của cuộc đời cũ, Tố Hữu đã đón nhận ánh sáng lý tưởng Đảng. Lý tưởng Đảng đã chiếu rọi và làm bừng sáng về mặt trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm cho con người. Vì thế hai tiếng “Từ ấy ” không chỉ là tiếng lòng riêng của Tố Hữu mà nó ngân nga với mọi cuộc đời chung. Phải thấu hiểu được nỗi băn khoăn trong quá trình tìm đường và nhận đường của người thanh niên Nguyễn Kim Thành trước đó mới có thể cảm nhận được phần nào niềm vui lớn lao mãnh liệt khi được giác ngộ.

Nhà thơ đã gọi lý tưởng cộng sản bằng những hình ảnh ẩn dụ rực rỡ và ấm nóng. Nắng hạ – thứ ánh nắng chói chang, rực rỡ, nồng nàn, có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn thi sĩ. Với Tố Hữu, lý tưởng cộng sản còn là “mặt trời chân lí” – một nguồn sáng vô biên, bất diệt mang lại sức sống, nguồn ấm nóng dạt dào. Chân lí là những gì đúng đắn nhất đã được mọi người thừa nhận. “Mặt trời chân lí” là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lý tưởng cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản đã soi sáng tâm hồn, là mặt trời toả ánh sáng đúng đắn nhất, mạnh mẽ nhất. Từ “bừng” chỉ ánh sáng phát ra bất ngờ, đột ngột. “Chói” chỉ nguồn ánh sáng có sức xuyên thấu mạnh mẽ. Tố Hữu đã từng ca ngợi lý tưởng Đảng, ca ngợi Bác Hồ:

Người rực rỡ như mặt trời cách mạng

Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.

“Mặt trời chân lí” cũng là “Mặt trời cách mạng” Tố Hữu đã đón nhận lý tưởng Đảng, lý tưởng cách mạng bằng trí tuệ. Người thanh niên ấy đã nhận ra đâu là tốt đẹp, là nghĩa của đời phải vươn tới. Nói cách khác, nhà thờ hiểu được bản chất cuộc đời, đâu là đúng, đâu là sai. Trong khi biết bao nhiêu con người cùng trang lứa chưa dễ gì nhận ra lý tưởng Đảng, Tố Hữu đã chủ động đón nhận. Điều đó chứng tỏ, Tố Hữu phải là con người tỉnh táo, sáng suốt. Lý tưởng Đảng đã xua tan nhận thức mờ tối, mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới.

Tố Hữu không chỉ đón nhận lý tưởng Đảng bằng trí tuệ mà bằng cả tình cảm rạo rực, say mê, sôi nổi nhất. Hồn người đã trở thành vườn hoa, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Một mảnh vườn hoa lá chắc hẳn phải là mảnh vườn xanh tươi, tràn trề nhựa sống, có lá có hoa lại ngọt ngào hương sắc, Có chim hót rộn ràng.

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Mảnh vườn ấy được so sánh như tâm hồn nhà thơ. Phải chăng tâm hồn ấy tràn ngập niềm vui, niềm say mê, náo nức trẻ trung sôi nổi với cảm hứng lãng mạn tràn đầy trong buổi đầu tiếp nhận lý tưởng Cộng sản. Tố Hữu sung sướng đón nhận lý tưởng cộng sản cũng như cỏ cây đón nhận ánh sáng mặt trời. Lý tưởng cộng sản đã mang lại sức sống và niềm tin yêu cuộc đời cho con người. Đó cũng là giọng điệu chung của thơ Tố Hữu. Sau này khi viết về lý tưởng cộng sản, Tố Hữu cũng say sưa như thế:

Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi

Nhẹ nhàng như con chim cà lơi

Say đồng hương nắng vui ca hát

Trên chín tầng mây bát ngát trời

Vì thứ ánh sáng kì diệu ấy của lý tưởng cộng sản mà Tố Hữu luôn mang trong mình một chân lí bất diệt:

Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Có thể nói đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ Tố Hữu. Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ “Mặt trời chân lý”, hình ảnh so sánh “Vườn hoa lá”, cũng được tác giả lựa chọn, sử dụng từ ngữ rất chính xác, hình tượng và gợi cảm: Bừng; Chói; Đậm; Rộn… Để diễn tả thật hay niềm say mê lý tưởng mà Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng (Aragông-Pháp).

3.2. Niềm vui lớn dẫn đến sự chuyển biến về lẽ sống

Như một sự tự nhiên, yêu nước, bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lê nin, người thanh niên trí thức sau phút giây bừng ngộ về lẽ sống, hạnh phúc vì như được hồi sinh trong tâm hồn, là thức nhận về hành động của mình:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải tới trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Cả khổ thơ là một ý thức tự nguyện mới mẻ của người thanh niên xuất thân từ gia đình thuộc tầng lớp trung lưu. Đó không hẳn chỉ là lí trí bởi người đọc nhận thấy sự chân thành trong cách nói. Giọng thơ sôi nổi trong các điệp từ đầu câu, trong sự tiếp nối của dòng ý thức, trong cách bộc lộ trực tiếp, tạo nên sự hồn nhiên thành thực của người thanh niên say mê lý tưởng. Dưới ánh sáng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa nhà thơ thấy tâm hồn mình gắn bó với nhân dân lao khổ. Các động từ-vị ngữ như buộc; Trang trải”; “Gần gũi”… Diễn tả tình bạn gắn bó thiết tha của người chiến sĩ cách mạng với quần chúng cần lao. Các từ ngữ Mọi người; Trăm nơi; Bao hồn khổ… Chỉ số đông nhân dân cần lao mà nhà thơ hướng tới để xây dựng”Khối đời” khối liên minh Công-nông ngày thêm mạnh, thêm gần gũi, chặt chẽ.

Ba chữ “tôi” xuất hiện trong khổ thơ 3 thể hiện một tình cảm chân thành, tiếng nói trái tim của người cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân luôn luôn đối lập với chủ nghĩa Cộng sản, cái tôi nhỏ bé hoàn toàn đối lập với mọi người. Đó là những biểu hiện cụ thể của lối sống giai cấp tư sản và tiểu tư sản trước cách mạng. Khi thực sự được giác ngộ lý tưởng cách mạng của giai cấp vô sản.

Tố Hữu biểu hiện và khẳng định quan niệm mới về lẽ sống. Đó là sự gắn bó giữa cái tôi riêng và cái ta chung: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người”, Sự gắn bó đó hoàn toàn có tính tự nguyện vượt qua giới hạn của cái tôi để chan hoà với mọi người. Đó là biểu hiện tình thương với những người nghèo khổ. Hai tiếng “hồn khổ” giúp người đọc liên tưởng tới quần chúng lao khổ.

Giác ngộ lý tưởng cộng sản ở Tố Hữu nghĩa là giác ngộ lập trường giai cấp, từ bỏ cái tôi cá nhân của giai cấp tiểu tư sản để hoà nhập với khối đời chung của nhân dân lao khổ. Dù sao quan niệm mới mẻ của Tố Hữu đã chứng tỏ nhà thơ đã thoát khỏi cái tôi cô đơn bế tắc, gắn bó với giai cấp cần lao, tìm thấy niềm vui và sức mạnh ngay trong cuộc đời. Đặc biệt, Tố Hữu khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa thơ nói riêng và văn học nói chung với cuộc sống. Nhất là cuộc sống của nhân dân lao khổ.

Sống cùng thời đại nhà thơ có nhiều thanh niên chán nản đã quay lưng lại với cuộc đời để thu mình trong cái tôi cô đơn. Như Chế Lan Viên:

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.

Lẽ sống của người chiến sĩ cộng sản, của một thi sĩ lớn luôn hướng về phía đất nước nhân dân và thấm thía sức mạnh của nhân dân với đất nước như mối liên hệ bền chặt giữa nghệ sĩ với cuộc đời, nghệ thuật với cuộc sống. Đó cũng là lẽ sống của biết bao chiến sĩ cùng thời, Xuân Diệu đã từng tâm sự:

Tôi cùng xương thịt với nhân dân

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi nước mắt

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu cần lao

3.3. Mốc thời gian để khẳng định tình cảm lớn của nhà thơ Tố Hữu.

Trước bước ngoặt quan trọng của cuộc đời, người chiến sĩ Cộng sản trẻ tuổi như nhìn lại một chặng đường đã đi qua, thấu suốt đời sống tình cảm, chiêm nghiệm về vốn sống và thấy:

Là em của vạn kiếp phôi pha

không áo cơm cù bất cù bơ

Khổ thơ cuối với cách diễn tả trùng điệp, các từ “con”, “em” xuất hiện liên tục,giọng thơ càng trở nên sôi nổi thiết tha. Đây là thể hiện sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu. Nhà thơ khẳng định mình là con người gần gũi thân thiết, là thành viên của đại gia đình lao khổ. Các từ “đã là”. “là con”, “là em”, “là anh” diễn tả tình cảm đầm ấm, thiết gắn bó và gần gũi biết bao cùng với vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ: Cho thấy người chiến sĩ cách mạng sống trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc, chở che để khơi dậy sức mạnh nhân dân đứng lên đấu tranh cho hạnh phúc, cho độc lập, tự do của dân tộc.

Cái tôi trữ tình ở đoạn thơ hiện lên với trạng thái đa nhân cách, đem lại cho người đọc cùng lúc nhiều ấn tượng. Trên hết là sự ngưỡng mộ con người trẻ tuổi khi bắt gặp và nhận ra lý tưởng, con đường đi của đời mình và đặt ra những bước chân vững chắc trên con đường với những con người cùng khổ. Nhà thơ đồng cảm, yêu thương, san sẻ cùng với những con người ấy bằng cả trái tim bằng cả những tình cảm ruột thịt của bản thân. Và càng yêu thương, càng căm giận những điều bất công, tác giả càng hăng hái hoạt động cách mạng, hoạt động nghệ thuật.

và cũng vì lẽ đó mà Tố Hữu đã trở thành “nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại” (Chỉ Lan Viên). Bài thơ có kết thúc ngỏ như mở ra ở người đọc những cảm xúc về tình thần nhân loại, dành chỗ cho hành động.

Bài thơ là niềm vui giác ngộ lý tưởng thể hiện nhận thức mới mẻ về lẽ sống và những chuyển biến về tình cảm sau khi nhà thơ bắt gặp lý tưởng cách mạng. Từ ấy còn là lời tuyên bố về lẽ sống và lý tưởng nghệ thuật của tác giả.

Sau này nhớ lại thuở Từ ấy, Tố Hữu viết: “Từ ấy là tâm hồn trong trái của tuổi người tin đồn mươi, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh Từ độ không chỉ là tình cảm của riêng Tố Hữu với Đảng mà là tâm trạng của một thế hệ thanh niên các mạng được Đảng giác ngộ và dìu dắt để gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc những năm đất nước còn dưới ách thực dân phong kiến.

Nhà thơ đã xây dựng những hình ảnh thơ tươi sáng, giàu sức sống như hình ảnh mặt trời chân lí, nắng hạ, vườn hoa lá. Bên cạnh đó, thi sĩ đã sử dụng nhuần nhuyễn những biện pháp tu từ truyền thống như ẩn dụ, so sánh, điện từ ngữ, ngôn ngữ thơ giản dị giàu tính nhạc .Giáo sư Đặng Thai Mai gọi tập thơ Từ ấy là “bó hoa lửa lộng lẫy nồng nàn nở ra từ cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc”.

Dẫu còn những nét hồn nhiên của cái nhìn về lý tưởng cách mạng, về lẽ sống, về cách mạng, dẫu còn những nhận thức đơn giản về những người lao khổ song trong thời điểm những năm 30 của thế kỉ trước, khi biết bao người bế tắc trong cảm giác lạc loài, thiếu quê hương hay quẩn quanh trong cái tôi cô đơn, nhỏ bé. Thì Tố Hữu vẫn chứng mình cho mọi người thấy những nét đẹp, những chân lí sáng lời của lí tưởng cách mạng đã giúp chàng thanh niên may mắn thấy được cuộc sống mới, cuộc đời mới trong niềm hạnh phúc của tuổi trẻ

Bình Giảng Bài Thơ Bác Ơi Của Tố Hữu / 2023

Con người có lí tưởng và lẽ sống cao cả: lí tưởng giải phóng dân tộc, lí tưởng độc lập tự do vì thế, lẽ sống của Bác là sống bằng tình thương, luôn lo cho dân nước:

Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu, Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ Cho hôm nay và cho mai sau…

Cách điệp ngữ dưới nhiều hình thức để chúng khắc sâu vào tâm khảm người đọc, người nghe. Lời điệp trong thơ Tố Hữu luôn xoáy vào các nốt nhạc chủ âm của tư tưởng và tâm hồn.

Bình giảng bài thơ Bác Ơi của Tố Hữu

Hai câu trên nói về nỗi đau, nỗi đau được chia cho “nỗi đau dân nước”, nỗi “năm châu”. Hai câu sau nói về nỗi lo, nỗi lo cũng được chia ra, lo “hôm nay” và lo “mai sau”. Nỗi đau, nỗi lo vừa là biểu hiện của lẽ sống, vừa là biểu hiện của tình thương.

Tình thương ủa Bác được diễn tả bằng hình ảnh thơ có chứa sức gợi lớn lao:

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông , mọi kiếp người”

Tình thương ấy gắn liền với tình yêu, ân nghĩa như song sinh. Bác Hồ yêu nhân dân bằng thứ tình cảm trong trẻo như không khí, trời xanh, ân nghĩa như cơm ăn, áo mặc, ấm cúng như máu mủ ruột rà.

Bác sống như trời đất của ta Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa Tự do cho mỗi đời nô lệ Sữa để em thơ, lụa tặng già. Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha

Hình ảnh ví von trong thơ Tố Hữu rất tiêu biểu cho tư duy thơ của ông. Ví von không làm cho sự vật, con người cụ thể hơn mà là khái quát hơn, cao hơn, trừu tượng hơn và bóng bảy hơn.

Niềm vui của Bác gắn với niềm vui của dân tộc với những chiến công để đi gần tới hoà bình, độc lập, tự do, gắn với niềm vui của thiên nhiên cây trái, cuộc sống tạo vật, con người.

Bác Hồ sống khiêm tốn, giản dị và hi sinh quên mình.

Nâng niu tất cả chỉ quên mình Bác để tình thương cho chúng con Một đời thanh bạch, chẳng vàng son Mong manh áo vải, hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Cách lập ý biểu cảm trong những hình ảnh thơ này là phép tương phản. Sự tương phản đều xoáy vào sự đối lập của các ý thức xã hội. Tương phản trong đoạn thơ không chỉ xây dựng trên sự liên tưởng của các hình ảnh đối lập mà còn mang hình thức tư duy, lập luận, rõ ràng. Yếu tố lôgíc nổi lên, nằm cùng dãy với yếu tố hình tượng làm câu thơ mang tính chất hùng biện mạnh mẽ.

Tương phản thứ nhất: Nâng niu tất cả/ chỉ quên mình là tương phản giữa số lượng tất cả/chỉ để thể hiện sự thống nhất trong tính cách, phẩm chất đạo đức của Bác: tình thương là cơ sở của lẽ sống, là thước đo phẩm giá, đạo đức con người.

Tương phản thứ hai: áo vải /hồn muôn trượng. Đó là tương phản về vật chất và tinh thần, biểu hiện của thanh và tục, cái cao cả và cái thấp hèn. Hình ảnh thơ trên đã biểu thị cái ưu thế tuyệt đối của tinh thần so với vật chất. Vật chất rất đơn sơ giản dị, tương phản với tâm hồn cao cả bất diệt, thể hiện một chất thơ vượt lên tồn tại vật chất, thể hiện sự khiêm tốn, giản dị trong vật chất, giá trị sống của con người Bác Hồ.

3. Tái hiện lại hình tượng Bác Hồ, Tố Hữu đã dựng lại chân dung tinh thần của Bác Hồ với quan niệm con người thiên nhiên, chân dung Bác chẳng những được tái hiện gắn bó làm một với cây cỏ, trời mây, sông núi Việt Nam, hơn thế Bác còn là hiện thân cho lẽ sống tự nhiên của trời đất Việt Nam: “Bác sống như trời đất của ta”. Tâm hồn Bác “mênh mông”, “ôm cả non sông mọi kiếp người”. Tình cảm của Bác là thứ tình cảm tự nhiên của cha mẹ với con cái, tình cảm gia đình. Bác “lo muôn mối như lòng mẹ”, “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà. Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”, “Bác vui như ánh buổi bình minh”…

Hình tượng Bác Hồ thật vĩ đại mà gần gũi với mỗi người dân Việt qua tiếng thơ Tố Hữu.

Bình Giảng Bài Thơ Duyên Của Xuân Diệu / 2023

I. Mở bài

Thuở sinh thời, Xuân Diệu đã từng công nhận đặc sản của tôi là thơ tình yêu.

Nhà thơ còn có ý định xếp thơ thành một từ điển tình yêu. Trong cuốn từ điển ấy, Thơ duyên sẽ được coi là khúc dạo của trái tim buồn lần đầu rung động.

Duyên trong tựa bài thơ, trước hết được hiểu theo nghĩa thông thường là sự gặp gỡ, hòa hợp một cách tự nhiên. Đọc toàn bài thơ ta nhận thấy Xuân Diệu không chỉ bằng lòng khát khao giao cảm với cuộc đời mà còn muốn gửi gắm trong chữ duyên ấy sự hòa hợp diệu kì của vũ trụ. Thơ duyên là cái đẹp của sự gặp gỡ, giao cảm, là bài ca giữa thiên nhiên và thiên nhiên, thiên nhiên và con người, con người với con người.

2. Khổ thơ một.

– Sự hợp tác ấy trước hết được nhà thơ tả thực ở cảnh chiều thu:

Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên

Cây me ríu rít cặp chim chuyền,

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

Cảnh chiều ấy có đường nét mềm mại của nhánh duyên, có âm thanh ríu rít, có hình ảnh quấn quít của cặp chim, có màu sắc ngọt ngào của đất trời. Nhưng cái hay của buổi chiều này không phải ở từng chi tiết, từng hình ảnh mà là ở sự hòa hợp giữa tạo vật. Tất cả đường nét, hình ảnh, màu sắc, âm thanh tương giao với nhau, tạo nên một chiều mộng mơ hồ, bàng bạc trong không gian và tiếng huyền say đắm lòng người. Tiếng huyền không phải là một âm thanh cụ thể, không được nghe bằng thính giá mà âm thanh của cảm xúc. Cái dào dạt của trời thu, cái bâng khuâng của lòng người hòa nhau tạo nên cái tiếng huyền kì diệu đó.

– Các chi tiết đều được cách điệu bằng những từ ngữ gợi cảm và táo bạo, thể hiện một lối cảm quan rất riêng biệt của Xuân Diệu, như nhánh duyên, chiều mộng, tiếng huyền.

3. Khổ thơ hai và ba.

– Các từ láy: nho nhỏ, xiêu xiêu, lả lả vừa gợi đường nét mềm mại của cảnh vật, vừa gợi nỗi quyến luyến trong lòng người khi lắng nghe sự giao hòa bí ẩn của trời đất.

– Cảnh hữu tình: Có con đường, có gió, có nắng nhưng bằng định ngữ đi kèm lại có sức gợi cảm. Bởi thế, Hoài Thanh có nhận xét: Chính là hai câu tả cảnh như muốn theo lời thơ mà tan ra. Nó chỉ mất một tí rõ ràng để được thêm rất nhiều mơ mộng.

Trong niềm rung động ấy, với một năng lực giao cảm kì diệu, những con người xa lạ dường như có sự gắn kết tương giao:

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,

Lần đầu rung động nỗi thương yêu.

Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững đững chẳng theo gần.

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

4. Khổ thơ bốn.

Thời khắc trôi qua, hoàng hôn xuống dần. Cảnh hoàng hôn được tả với những thi liệu trong thơ cổ như: mây trôi, cánh chim về tổ, con cò trên ruộng… gợi nhớ câu thơ của Vương Bột (Trung Quốc):

Lạc hà dữ cô lộ tề phi

Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.

(Ráng chiều cùng cánh cò lẻ loi bay lên,

Nước thu cùng bầu trời một màu)

Như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam có lưu rằng, giữa cánh cò của Vương Bột và Xuân Diệu có sự khác nhau hơn một nghìn năm và của hai thế giới. Vì thế, khổ thơ mang âm hưởng Đường thi nhưng nội dung cảm xúc, cách biểu hiện khác xa thơ cổ. Xúc cảm của nhà thơ trước thiên nhiên là sự hòa nhập, không tách mình ra khỏi vũ trụ. Còn ở nhà Thơ mới Xuân Diệu, cảnh vật và con người, cảnh vật và cảnh vật tuy có mối tương giao nhưng không hòa tan. Cách biểu hiện trong thơ cổ thường trầm tĩnh, lặng lẽ, còn tâm trạng trong Thơ mới thường bộc lộ sự sôi nổi, ý thức rõ rệt cái tôi cá nhân. Vì thế, những từ gấp, phân vân, nghe, giăng tràn đầy nỗi xao xuyến, hối hả thúc giục, sợ hãi như chạy đua với thời gian.

5. Khổ thơ cuối.

Cảm nhận cái dịu dàng của buổi chiều thu, nhà thơ đương thời cũng nhận ra sự giao cảm của lòng người. Cái ngơ ngẩn của buổi chiều cũng là cái ngơ ngẩn của cõi lòng khi bắt gặp sự rung động đồng điệu:

Ai hay tuy lặng bước thu êm,

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

Vậy là, thiên nhiên đã trở thành chất xúc tác cho tình duyên của con người và cũng chỉ có Xuân Diệu mới dùng từ táo bạo đến thế:

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

Từ cưới đã diễn tả được đỉnh cao của sự giao cảm.

III. Kết luận

Tâm trạng bao trùm trong bài thơ là những rung động xôn xao, những xúc cảm tinh tế trước những biến thái tinh vi, mơ hồ của sự sống trong tự nhiên và lòng người. Cảnh vật thơ mộng của môi trường hòa điệu nhịp nhàng đã khơi dậy trong lòng người niềm khát khao giao cảm thầm kín mà mạnh mẽ, có tác dụng gắn kết những tâm hồn.

Như vậy, trơng bài Thơ duyên nói riêng và thơ Xuân Diệu nói chung, thiên nhiên không chỉ chi phối tâm trạng con người như trong thơ cổ mà còn có khả năng đánh thức tâm linh con người, những khát khao thầm kín để con người được sống đầy đủ, sâu sắc hơn, với tất cả giác quan, cảm xúc, cảm giác của mình.

Bạn đang xem bài viết Bình Giảng Bài Thơ “Sóng” Của Xuân Quỳnh / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!