Xem Nhiều 12/2022 #️ Bông Hoa Với Ba Điều Ước / 2023 # Top 13 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bông Hoa Với Ba Điều Ước / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bông Hoa Với Ba Điều Ước / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Bông hoa với ba điều ước là truyện cổ tích của người Ba Na, cho thấy niềm vui trong cuộc sống đôi khi chỉ là được làm những công việc có ích với mọi người.

1. Rít vừa được cha nuôi truyền cho nghề giỏi thì cha nuôi qua đời

Ngày xưa, ở buôn [1] nọ có một cậu bé tên là Rít. Rít mồ côi bố mẹ, được bác thợ rèn [2] trong buôn đem về nuôi. Chẳng bao lâu, cậu đã biết kéo bễ [3] giúp cha nuôi rèn cuốc, dao cho bà con trong buôn.

Cha nuôi Rít là một người thợ rèn giỏi. Bác được bà con trong buôn và người quanh vùng yêu mến. Dù ở xa mấy, họ cũng lội suối, trèo đèo, mang cuốc hư, dao hỏng đến cho bác rèn chữa hộ. Nhờ công bác mà người dân quanh vùng có dao, cuốc, thuổng dùng trong việc trồng trọt. Nương rẫy [4] đầu ắp lúa, ngô. Buôn làng vui tươi no ấm.

Bác thợ rèn thấy Rít chăm chỉ, siêng năng nên truyền tất cả mọi điều hay trong nghề cho con. Rít cặm cụi học cha.

Ít lâu sau, người cha nuôi qua đời. Nghe tin bác thợ rèn mất, mọi người đều thương tiếc. Rít lại càng buồn hơn, đi lang thang [5] trong rừng chẳng chịu làm gì.

2. Bông hoa với ba điều ước

Rít đang đi bỗng nghe tiếng gọi đằng sau. Quay lại, Rít thấy một ông già tay chống gậy, tóc bạc phơ, đôi mắt sáng như sao. Đặc biệt là trên chiếc gậy của ông cụ lại nở rất nhiều bông hoa đẹp, hương thơm ngào ngạt. Ông cụ đến gần Rít xoa đầu, vỗ vai cậu bé rồi hỏi:

– Sao cháu lại đi lang thang trong khu rừng này?

Rít buồn rầu thưa:

– Thưa ông, cha cháu là bác thợ rèn nổi tiếng nhất vùng này. Nay cha cháu mất rồi, cháu buồn quá.

– Thế cháu có muốn trở về làm thợ rèn như cha cháu không?

– Thưa ông, cháu không muốn. Nghề ấy vất vả quá!

– Nếu vậy ông cho cháu ba bông hoa với ba điều ước [6]. Cháu muốn ước điều gì thì cầm bông hoa tung lên là sẽ được điều ấy. Nhưng mỗi bông hoa chỉ được một điều ước thôi. Khi nào cháu không thích điều đó nữa thì tức khắc cháu lại được như ý muốn.

Ông lão ngắt ba bông hoa ở chiếc gậy trúc [7] đưa cho Rút rồi biến mất.

3. Rít thực hiện cả ba điều ước mà cuộc sống vẫn chẳng hơn gì

Rít cầm ba bông hoa và tiếp túc đi.

Bỗng Rít nhớ lại lời cha kể, trên đời chỉ có vua là giàu có nhất, có nhà cao cửa rộng, lại mặc quần áo sang nhất, ăn ngon nhất. Rít nhìn bông hoa và tự nhủ [8]:

– Ồ, thế thì tội gì ta không làm vua?

Rít liền tung bông hoa thứ nhất lên. Trong nháy mắt, mọi thứ đều thay đổi. Rít bệ vệ trong bộ quần áo thêu rồng và giát vàng óng ánh. Rít ở trong cung điện lộng lẫy, có kẻ hầy người hạ… Nhưng chỉ mấy ngày sau, Rít cảm thấy vướng víu trong bộ quần áo lụng thụng [9] và chán cái cảnh ăn không ngồi rồi ấy. Rít nghĩ: “Thôi, chẳng làm vua nữa. Chán lắm!”.

Bỗng chốc Rít trở lại cậu bé nghèo, đang lang thang như hồi nọ. Trên đường, Rít gặp một người đi buôn, lừa ngựa thồ [10] hàng nhiều vô kể, đồ đồng và tiền bạc chứa hàng bao to, Rít liền tung bông hoa thứ hai lên và nói:

– Ta phải được hơn thế!

Dứt lời thì mọi thứ đã chất ngổn ngang quanh mình. Rít hả hê [11] với cảnh giàu có của mình. Nhưng từ khi có của, Rít luôn cảm thấy thấp thỏm [12] trong lòng, nơm nớp [13] sợ bị mất trộm.

Rít lại nghĩ: “Thế ra có của rồi cũng chỉ những lo là lo! Thôi, ta chả thích giàu nữa!”.

Rít lại trở lại cậu bé nghèo đang lang thang như hồi nọ, trong tay chỉ còn mỗi một bông hoa. Rít nhìn lên trời, những đám mây đủ màu sắc rực rỡ, lơ lửng đuổi nhau trên bầu trời. Rít cảm thấy thèm được bay bổng trên không như những đám mây kia. Rít tung nốt bông hoa cuối cùng. Bây giờ Rít ở giữa những đám mây ngũ sắc cao tít đó. Rít tha hồ ngắm cảnh trên trời dưới biển. Ngày đêm, Rít cứ bay bổng như thế. Nhìn mây trời, sóng biển rồi cũng chán! Rít nghĩ: “Bay thế này mãi cũng chẳng thú vị gì! Thôi, chẳng bay nữa, trở về thôi”. Rít lại quay trở lại mặt đất.

4. Ý nghĩa của hạnh phúc

Qua bao ngày phiêu bạt [14], Rít bỗng nhớ quê hương, nhớ túp lều với đôi bễ lò rèn của cha. Rít nhất quyết trở về.

Nghe tin Rít, con nuôi bác thợ rèn giỏi nhất trong vùng đã trở về, tất cả bà con xa gần kéo đến chúc mừng cậu bé.

Từ già đến trẻ đều khuyên nài Rít giữ nghề cũ của cha.

Lò bễ đã lâu tắt ngấm, nay lại đỏ lửa, ngày đêm vang tiếng búa đe của Rít. Tất cả những điều hay trong nghề được cha truyền cho, Rít đều mang ra dùng. Bà con khắp vùng ai ai cũng yêu mến Rít chẳng kém gì họ kính nể cha nuôi của Rít ngày xưa. Dần dần, Rít cảm thấy cuộc sống thật là ý nghĩa với nhiều niềm vui.

Bông hoa với ba điều ước – Truyện cổ tích Ba Na Nguồn: Kể chuyện 2, trang 139, NXB Giáo dục – 1982 – chúng tôi –

Chú thích trong truyện Bông hoa với ba điều ước

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên). [2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào). [3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay). [4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi. [5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích. [6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được. [7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng. [8] Tự nhủ: tự bảo với mình. [9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người. [10] Thồ: (ngựa) chở hàng. [11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao. [12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm. [13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình. [14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Thử thách trong câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Kể ra ba điều ước mà Rít đã thực hiện.

Vì sao ba điều ước không mang lại hạnh phúc cho Rít?

Cuối cùng, Rít hiều điều gì mới đáng mơ ước?

Nếu có ba điều ước, các bé sẽ ước những gì?

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên).[2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào).[3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay).[4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi.[5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích.[6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được.[7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng.[8] Tự nhủ: tự bảo với mình.[9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người.[10] Thồ: (ngựa) chở hàng.[11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao.[12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm.[13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình.[14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Người Giàu Người Nghèo Và Ba Điều Ước Của Chúa / 2023

Người giàu người nghèo và ba điều ước của Chúa – Truyện cổ hay

Chuyện kể về một anh nông dân tốt bụng cho Chúa ngủ nhờ nên đã được ban tặng 3 điều ước. Từ đó về sau anh có cuộc sống khang trang với ngôi nhà mới. Tên nhà giàu vì tham lam cũng đi xin 3 điều ước nhưng lại bị trừng phạt bởi 3 điều ước đó.

Ngày xửa ngày xưa, khi Chúa còn sống chung với con người ở dưới trần gian. Một hôm, Người chưa về tới nhà thì trời đã sập tối. Trong lúc mệt mỏi, Người đứng trước hai căn nhà đối diện nhau, một căn thì to và đẹp, còn căn kia nhỏ bé, xấu xí. Căn nhà to đẹp là của người giàu, còn căn nhỏ bé kia là của người nghèo. Người nghĩ: “Ta phải năn nỉ người giàu để ngủ qua đêm vậy!.”

Khi nghe tiếng gõ cửa, người giàu mở cửa sổ ra ngó và hỏi người lạ cần gì. Chúa đáp:

– Cho tôi xin ngủ qua đêm.

Người giàu liếc nhìn người lữ hành từ đầu tới chân. Vì Chúa ăn mặc giản dị và không có nhiều tiền rủng rẻng trong túi, người giàu lắc đầu nói:

– Nhà tôi chất đầy lương thực, nên không còn chỗ cho người ngủ nhờ. Nếu ai gõ cửa xin ngủ nhờ cũng cho thì tôi cũng chỉ còn cách chống gậy đi ăn xin. Đi tìm chỗ khác mà ngủ nhờ!

Người giàu đóng cửa sổ để mặc cho người lạ đứng ngoài. Chúa đành quay sang nhà đối diện. Vừa mới gõ cửa thì người nghèo đã kéo then mở cửa và mời người lữ hành vào nhà. Anh ta nói:

Chúa cảm thấy nhẹ nhõm, hài lòng và bước vào nhà. Vợ chủ nhà đon đả ra chào khách và nói, ông cứ tự nhiên coi như ở nhà mình, vợ chồng tuy nghèo, nhưng sẵn lòng mời khách những gì có trong nhà. Rồi chủ nhà đặt nồi nấu khoai tây, vợ đi vắt sữa dê để cả chủ lẫn khách có sữa uống. Thức ăn dọn lên bàn, khách ngồi chung với chủ nhà ăn tối, tuy bữa ăn đạm bạc nhưng khách ăn rất ngon miệng, vì chủ nhà rất niềm nở với khách. Ăn xong, trước khi đi ngủ, vợ nói với chồng:

– Tối nay mình giành giường cho khách. Ta trải rơm nằm tạm đêm nay. Khách đi cả ngày nên chắc đã thấm mệt.

Chồng bảo: – Anh thấy cũng nên hiếu khách như vậy.

Rồi chồng lại nói với khách, rằng khách tối nay có thể ngủ ở giường cho giãn xương giãn cốt. Khách nói không muốn như vậy mà chỉ muốn nằm ở ổ rơm. Hai vợ chồng chủ nhà không đồng ý. Cuối cùng khách đành nằm giường theo ý của chủ nhà, còn vợ chồng chủ nhà thì trải rơm ngủ. Hôm sau, chủ nhà dậy sớm nấu cho khách một bữa ăn sáng ngon miệng. Khách dậy lúc ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ. Cả chủ lẫn khách cùng ngồi ăn sáng. Ăn xong, khách định lên đường. Ra tới cửa thì khách quay lại nói:

– Ông bà thật tốt bụng, ông bà có được ba điều ước, tôi sẽ giúp ông bà thực hiện ba điều ước.

Chủ nhà nói:

– Tôi chỉ mong suốt đời được thanh thản, có nghĩa là hàng ngày đủ ăn, mạnh khỏe. Tôi cũng chẳng biết dùng điều ước thứ ba vào việc gì.

Khách nói: – Ông muốn có một căn nhà mới không để thay cho túp lều này.

Chủ nhà đáp: – Ối dào, lại được một căn nhà mới thì còn gì bằng!

Chúa ban phước cho vợ chồng chủ nhà, khi nhìn thấy họ ở trong căn nhà mới thì Chúa lên đường.

Sau khi ngủ cho đã mắt, người nhà giàu kia thức dậy nhìn ra ngoài qua cửa sổ thì thấy không còn túp lều, trước mắt ông là một căn nhà mới khang trang lợp ngói đỏ. Ông mở to mắt ngắm và gọi vợ lại nói:

– Bà thử nghĩ xem, đúng là chuyện lạ trên đời. Hôm qua chỉ là túp lều, qua đêm tới sáng đã là một căn nhà khang trang đẹp đẽ. Phải sang hỏi họ mới được!

Vợ người nhà giàu chạy sang gặng hỏi vợ chồng nhà nghèo sao lại được như vậy. Người chồng kể:

– Tối qua có một khách bộ hành tới xin ngủ qua đêm, lúc chia tay sáng nay, người khách ấy cho chúng tôi ba điều ước: sống thanh thản, hàng ngày đủ ăn và luôn luôn mạnh khỏe. Rồi còn cho chúng tôi căn nhà mới khang trang này thay cho túp lều cũ.

Vợ người nhà giàu chạy ngay về nhà và kể cho chồng nghe đầu đuôi câu chuyện. Người chồng bảo:

– Đúng là tôi đáng bị trừng phạt! Giá như mà biết trước nhỉ? Người khách ấy trước đó có tới cổng nhà mình xin ngủ qua đêm, thế mà mình lại từ chối.

Vợ khuyên: – Nhanh chân lên nào, lên ngựa chắc còn đuổi kịp người khách lạ ấy để xin ba điều ước!

Người nhà giàu vội lên ngựa và đuổi theo kịp người khách lạ. Ông ta ăn nói dịu dàng, rằng ông rất lấy làm tiếc là khi tìm được chìa khóa để mở cổng thì không thấy khách đâu nữa. Ông xin mời khách khi quay trở lại thì ngủ ở nhà mình. Người khách lạ nói:

– Khi nào quay trở lại, tôi sẽ ngủ ở nhà ông.

Người nhà giàu hỏi liệu mình có được ba điều ước như người hàng xóm không. Người khách lạ nói chắc chắn là được, nhưng tốt nhất là đừng có ước một cái gì cả. Người nhà giàu nghĩ bụng, mình phải suy tính xem cái gì mang lại giàu có và mong nó biến thành hiện thực. Giữa lúc đó người khách lạ nói:

– Cứ lên ngựa về nhà, những điều ước sẽ trở thành hiện thực.

Giờ đây người giàu có được ba điều ước, anh phi ngựa về nhà, trên đường về trong lúc anh mải suy nghĩ nên ước những gì nên nới lỏng dây cương. Vì thế con ngựa thỉnh thoảng nhảy chồm chồm làm cho anh ta không sao nghĩ được những gì mình muốn ước, anh lấy tay vỗ lưng ngựa và bảo: “Liese, ngoan nào!.” Chàng vừa nói xong thì ngựa lại nhảy chồm chồm. Bực mình, chàng buộc miệng nói:

– Ta mong ngươi ngã gãy cổ.

Lập tức ngựa lăn ra đất và chết thẳng cẳng. Và như thế là điều ước thứ nhất đã được thực hiện. Vốn tính keo kiệt, anh lấy dao cắt yên khỏi ngựa và đeo yên ngựa vào lưng và đi bộ. Anh tự an ủi mình:

– Mình cũng còn hai điều ước nữa!

Trời nắng chang chang lại đi trên cát nóng, lại bị yên ngựa tì nặng trên lưng nên chàng nghĩ vẩn vơ:

– Ước gì mình có nhiều châu báu đến mức có thể trang hoàng nhà mình theo ý muốn.

Rồi chàng lại nghĩ:

– Giá mình là một nông dân vùng Bayer có ba điều ước, thì mình ước sao có bia uống cho đỡ khát, ước uống bao nhiêu cũng có và ước sao lại có sẵn một thùng dự trữ.

Rồi bất chợt chàng nghĩ tới người vợ đang ngồi ăn một mình ở nhà trong khi chàng đang đi dưới trời nắng nóng, chẳng còn suy tính gì, chàng buột miệng nói:

– Ước gì cô ta cứ phải ngồi trên chiếc yên ngựa và thế là mình thoát được cảnh phải đeo chiếc yên ngựa trên lưng!

Vừa nói xong thì chiếc yên ngựa biến mất và ngay lúc ấy chàng biết là điều ước thứ hai đã được thực hiện. Chàng tiếp tục đi dưới trời nắng chang chang, trong lòng chàng chỉ mong sao mau về tới nhà để ngồi nghĩ điều ước thứ ba. Tới nhà, chàng mở cửa thì thấy vợ ngồi như dính chặt vào yên ngựa, mồm thì càu nhàu ta thán. Chàng nói:

– Cứ yên tâm đi, cứ ngồi yên đó, anh sẽ ước chúng ta giàu nứt đố đổ vách.

Vợ bực mình la mắng và bảo chồng là đồ dê đực, rồi nói:

– Giàu có cũng chẳng giúp ích gì khi cứ phải ngồi dính chặt trên yên ngựa như thế này. Anh đã ước để tôi ngồi thế này thì giờ phải tìm cách đỡ tôi ra khỏi cảnh ngồi này!

Chẳng còn cách nào khác là phải nói điều ước thứ ba. Khi chàng vừa nói xong, thì vợ bước được ra khỏi yên ngựa. Và như thế là điều ước thứ ba đã được thực hiện. Chẳng được gì ngoài bực tức, mệt nhọc, ngựa chết. Người nghèo kia sống trong sung túc, an bình tới khi khuất núi.

Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website chúng tôi – Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại chúng tôi luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm.

Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất: Truyền thuyết Thánh gióng, truyện cổ tích tấm cám, sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh – Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,…

Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…

Phân Tích Bức Tranh Mùa Xuân: Ngày Xuân Con Én Đưa Thoi,…Cành Lê Trắng Điểm Một Vài Bông Hoa. Nguyễn Du / 2023

Chẳng biết là bao giờ, mùa xuân đã có sức thu hút kì diệu với lòng người đến vậy. Xuân tuyệt diệu, xuân trẻ trung, tinh khiết đã làm say lòng các thi nhân, văn sĩ. Đã có biết bao áng thơ, áng văn, biết bao bản nhạc ca ngợi mùa xuân nhưng bức tranh xuân chắc hẳn sẽ kém đi sự huyền diệu nếu không có Cảnh ngày xuân trong thơ đại thi hào Nguyễn Du. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã vẽ nên khung cảnh tuyệt diệu của mùa xuân để lưu truyền cho muôn đời:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Mở đầu bức tranh xuân, tác giả thông báo trực tiếp về thời gian:

Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi ra các cách hiểu khác nhau. “Con én đưa thoi” có thể hiểu là những cánh cò chao liệng trên bầu trời như thoi đưa, bởi chim én là tín hiệu của mùa xuân. Bên cạnh đó, “con én đưa thoi” còn có thể hiểu là thời gian trôi rất nhanh chẳng khác nào thoi đưa. Nếu hiểu theo cách hai thì câu thơ “Ngày xuân con én đưa thoi không chỉ đơn thuần là câu thơ tả cảnh mà ngầm chứa trong đó bước đi vội vàng của thời gian. Cách hiểu này dường như rất lô gích với câu thơ tiếp theo: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Nhà thơ Nguyễn Du đã đưa ra những con số rất cụ thể. Mùa xuân có chín mươi ngày thì đã trôi đi quá nửa (đã ngoài sáu mươi). Câu thơ ẩn chứa sự nuối tiếc khôn nguôi của con người trước sự chảy trôi của thời gian. Mùa xuân vốn đến và đi theo quy luật của tự nhiên bao giờ vẫn thế nhưng ở đây nhà thơ đã nhìn dưới cái nhìn tâm lí mang màu sắc chủ quan nên mùa xuân cũng trở nên sống động. Ta bắt gặp sự gần gũi trong cách cảm nhận thời gian của đại thi hào Nguyễn Du với ”hoàng tử thơ ca” Xuân Diệu sau này. Nhà thơ Xuân Diệu của thời thơ mới trước mùa xuân tươi đẹp cùng đã có những dự cảm về sự tàn phai, nuối tiếc:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già (Xuân Diệu – Vội vàng)

Sự tương đồng trong cách cảm nhận bước đi mùa xuân giữa hai nhà thơ cách nhau mấy thế kỉ thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế của những hồn thơ kiệt xuất. Chỉ có những người biết yêu, biết quý trọng thời gian mới có thể cảm nhận được sự chảy trôi, vận động tế vi đến như vậy.

Nếu như hai câu đầu, Nguyễn Du nghiêng về miêu tả thời gian thì hai câu sau nhà thơ tập trung miêu tả cảnh sắc:

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã làm sống dậy một bức tranh xuân căng tràn nhựa sống. Tất cả cảnh vật đều được miêu tả ở trạng thái viên mãn nhất. Cỏ non xanh tận chân trời, màu xanh của cỏ tiếp nối với màu xanh của trời như trải ra ngút ngàn. Màu xanh vốn là màu của sự sống, hơn nữa đây là xanh non, xanh lộc biếc nên sự sống lại càng tràn trề, trào dâng. Nguyễn Du không phải là nhà thơ đầu tiên miêu tả cỏ xuân, trước ông. nhà thơ Nguvễn Trãi đã viết trong bài Bến đò xuân đầu trại:

Độ đầu xuân thảo lục như yên, Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên (Cỏ xanh như khói bến xuân tươi Lại có mưa xuân nước vỗ trời)

Nếu Nguyền Trãi sử dụng thủ pháp so sánh “thảo lục như yên” để miêu tả về xuân như mờ ảo, sương khói trong ngày mưa nơi bến đò thì Nguyễn Du lại vẽ trực tiếp bức tranh cỏ xuân. Chỉ với câu thơ: “Có non xanh tận chân trời”, ông đã đem đến cho người đọc cảm nhận về hình ảnh, màu sắc, đường nét, sức sống của cỏ… Tất cả đều hài hòa, lắng đọng trong chiều sâu câu thơ 6 chữ tạo nên nét xuân riêng rất Nguyễn Du. Cái tài của đại thi hào không dừng ở đó, bức tranh cỏ xuân xanh biếc như làm nền cho sự đột phá ở câu thơ tiếp theo:

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Miêu tả những bông hoa lê trắng trong, tinh khiết, nhà thơ không viết là “điểm trắng” mà sử dụng đảo ngữ “trắng điểm” khiến cho màu trắng càng được nhấn mạnh. Bên cạnh đó, biện pháp đảo ngữ khiến người đọc cảm nhận màu trắng của hoa lê chủ động tô điểm cho bức tranh xuân thêm tuyệt diệu. Chỉ “một vài bông hoa” nhưng cũng đủ làm nên thần thái của bức tranh xuân.

Chính điều này đã khiến câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du tạo được dấu ấn riêng sắc nét so với câu thơ cổ của Trung Quốc:

Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa

Câu thơ “Lê chi sổ điểm hoa” (Trên cành lê có mấy bông hoa) chỉ đơn giản là lời thông báo, không có sự hòa quyện màu sắc giữa sắc màu hoa lê với sắc màu “cỏ thơm” ở câu đầu. Trái lại, câu thơ của Nguyễn Du là sự hòa quyện, kết hợp màu sắc tạo nên nét thần thái của cảnh vật. Tác giả đã rất tinh tế khi lựa chọn màu sắc cho bức tranh xuân của mình. Đó là xanh và trắng – những sắc màu trinh nguyên, thanh khiết, giàu sức sống, tiêu biểu cho mùa xuân. Ta nhận ra rằng Nguyễn Du không chỉ là đại thi hào trong lĩnh vực thơ ca mà cũng là bậc thầy trong lĩnh vực hội họa. Hai câu thơ tả cảnh thực sự là những câu thơ tuyệt bút.

Đã bao mùa xuân trôi đi, đã có bao áng thơ văn về mùa xuân ra đời nhưng bốn câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du thì vẫn trường tồn cùng thời gian, không gì có thể thay thế. Đó thực sự là bức tranh xuân vĩnh cửu cùng đất trời và lòng người.

Lê Văn Bình @ 13:27 03/10/2014 Số lượt xem: 5245

Lá Diêu Bông Là Gì? Sự Thật Về “Lá Diêu Bông” / 2023

Lá diêu bông còn được ví von với cái tên khác là “sao em nỡ vội lấy chồng”. Sao em nỡ vội lấy chồng là một bài hát trữ tình do chính nhạc sĩ Trần Tiến tạo ra vào năm 1990. Bài nhạc này được mô phỏng từ bài thơ “Lá diêu bông” của tác giả Hoàng Cầm. Nội dung của bài hát này được dùng để diễn tả về một người con gái đã thề non hẹn biển. Với người con trai mà cô đem lòng yêu thương là: Nếu như anh có thể tìm được “lá diêu bông” thì cô sẽ đồng ý lấy chàng làm hôn phu. Tuy nhiên cô biết rằng không hề có loại lá diêu bông trên đời. Theo thời gian thì người con trai cô đem lòng yêu luôn đi tìm loại lá đó, nhưng cô đã đi lấy chồng từ rất lâu.

Tác giả Hoàng Cầm đã đưa một tình yêu vừa có phần chân thật vừa mờ ảo vào tác phẩm của mình. Tạo thành một tác phẩm bình dị, chân thực và hài hước của một thời trai trẻ ở cậu bé. Cũng từ tác phẩm này mà các cô gái muốn chối bỏ tình cảm của người con trai. Thường sử dụng chiếc lá diêu bông để làm khó người con trai.

Nguồn gốc của câu chuyện Lá Diêu Bông

Nguồn gốc của bài thơ “Lá Diêu Bông” bắt nguồn từ câu chuyện tình cảm có thật của chính tác giả. Khi đó ông chỉ là cậu bé 8 tuổi, về quê thăm ông bà ở làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh. Đúng lúc đang ở trong quán của mẹ mình ông đã gặp được một người con gái xinh đẹp 16 tuổi. Bước vào quán của mẹ mình, ngay lập tức tác giả đã trúng phải tiếng sét ái tình. Qua một khoảng thời gian 4 năm trời ông đã luôn yêu thầm người con gái ấy.

Tuy nhiên người con gái ấy cũng biết được tình cảm của ông nhưng vẫn giữ im lặng. Một ngày nọ cô nói vui với tác giả rằng “Nếu ai tìm được chiếc Lá Diêu Bông thì sẽ gọi là chồng của mình”. Với kiến thức của mình thì tác giả đã biết rằng không hề có chiếc lá diêu bông. Nhưng vẫn mải miết đi tìm suốt từng ấy năm, tuy nhiên khi ông 12 tuổi thì người con gái đó đã đi lấy chồng. Đến năm ông 37 tuổi thì ông đã sáng tác ra bài thơ “Lá diêu bông”.

Bản nhạc được sáng tác từ bài thơ “Lá diêu bông”

Bài thơ của tác giả Hoàng Cầm đã được ca nhạc sĩ Hữu Nội phổ thành nhạc. Bởi vì những khó khăn trong cuộc sống nên tác giả Hoàng Cầm đã mở quán rượu để buôn bán. Vô tình ca nhạc sĩ Hữu Nội lại thường xuyên ghé qua quán của tác giả Hoàng Cầm. Từ đó vô tình bài hát “Lá diêu bông” đã được ca nhạc sĩ Hữu Nội hát ngân nga và truyền đến tai mọi người.

Vô tình thì bài hát “Lá diêu bông” đã được truyền ra nước ngoài. Một người bạn của tác giả Hoàng Cầm đã biết được, chính ông là một nhạc sĩ nên đã cho ra đời một bài hát. Bài hát đó khá nổi tiếng nhưng Hoàng Cầm vẫn thích bài hát của Hữu Nội hơn so với những bài hát mới.

Bạn đang xem bài viết Bông Hoa Với Ba Điều Ước / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!