Xem Nhiều 11/2022 #️ Câu Chuyện Về Người Con Hiếu Thảo / 2023 # Top 19 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 11/2022 # Câu Chuyện Về Người Con Hiếu Thảo / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Câu Chuyện Về Người Con Hiếu Thảo / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

27/01/2021

Ngày xửa ngày xưa, tại gia đình nọ có bảy chị em gái. Cô cả xinh đẹp, nhưng cô hai còn xinh đẹp hơn, cô thứ ba xinh nhất, cô thứ tư biết đi mây về gió, cô thứ năm có tài ngủ mà như không ngủ, cô thứ sáu có mái tóc như những dùi trống, và cô thứ bảy hiền lành nhất hay được gọi là Lãng Quên. Sở dĩ cô thứ bảy bị gọi là Lãng Quên vì cô không thể tranh giành được với các chị, luôn bị các chị hắt hủi. Trong một lần Lãng Quên mải đi tìm chút gì đó để ăn, cô đã đi miết và dừng lại bên hồ nước, gặp một người đi câu vừa câu được một con cá vàng… Sau khi con cá vàng được Lãng Quên cứu giúp, họ trở thành bạn tốt của nhau. Nhưng 6 người chị gái của Lãng Quên luôn tìm cách chia rẽ tình bạn của nàng với cá vàng. Lãng Quên cần phải làm gì để bảo vệ bạn cá vàng mình?

Thu gọn

Người Con Hiếu Thảo / 2023

Câu chuyện Người con hiếu thảo

Người con hiếu thảo ca ngợi tấm lòng thật thà, can đảm của người em út đã tìm được thuốc tiên chữa bệnh cho cha và cảm hóa hai anh trai trở thành người tốt.

1. Ba anh em

Nhà kia có ba người con trai tính nết khác hẳn nhau. Hai người anh thì lười nhác, ích kỷ, tham lam. Còn người con út đã siêng năng, lại thật thà, hiếu thảo. Gặp việc khó khăn thì hai anh đùn cho em, được lợi lọc thì hai anh giành nhau hết.

Một ngày kia, người cha lâm bệnh nặng. Hai anh bỏ mặc em nâng giấc, đỡ đần, thuốc thang, cơm cháo. Khi bệnh tình của cha đã đến lúc nguy kịch, thầy thuốc bảo:

– Bệnh của ông là bệnh nan y. Bây giờ chỉ còn có một vị thuốc quý là chữa khỏi, nhưng khó mà kiếm được nổi.

Người con út nói:

– Xin thầy cứ dạy, khó mấy chúng tôi cũng đi lấy về được.

– Đây là thứ hương thảo trên núi Trúc Lĩnh. Đến đó phải đi qua cái cầu chỉ giăng bằng một sợi dây, bắc qua một con suối sâu, phải vượt một con sông rộng không có đò ngang, lại phải leo lên một ngọn núi cao, bốn phía đá dựng đứng như bức tường thành mới tới được ngôi chùa cổ có thứ cỏ thơm ấy.

Nghe vậy, hai người anh sợ run cầm cập, còn người em thì hăm hở nói:

– Khó thế chứ khó nữa, con cũng xin đi. Mệnh cha là trọng chứ thân con có sá gì.

Người cha gắng gượng bảo:

– Nếu trong số các con, ai kiếm được thuốc về cho cha, sẽ được hưởng toàn bộ gia sản này.

Hai người anh lại sợ em chiếm mất gia sản, liền nói:

– Thôi, chú ở nhà chăm sóc cha, hai chúng tôi sẽ đi.

Hôm sau, hai người anh lên đường. Đi đến con suối sâu, họ vừa run lẩy bẩy đặt chân lên cái cầu bắc bằng sợi dây liền rụt lại. Bỗng có cụ già gánh củi đi tới nói:

– Nhờ hai anh đưa giúp gánh củi qua cầu.

Hai người anh cáu kỉnh đap:

– Chúng tôi đi không mà chưa dám qua, lại còn gánh củi cho ông được sao?

Họ lại cố bặm môi bước liều lên dây đang đung đưa, chao đảo như muốn hất họ suống suối. Nhìn dòng nước chảy xiết, hai người thấy chóng mặt ù tai, đành bảo nhau quay lại.

2. Người con hiếu thảo

Thấy hai anh trở về không, người em út sửa soạn ra đi. Đến bên suối, anh cũng gặp ông lão gánh củi qua cầu.

Anh lễ phép thưa:

– Cụ cứ đưa gánh củi cháu gánh sang trước. Qua bên kia, cháu sẽ quay lại dắt cụ sang.

Anh đỡ gánh củi lên vai và mạnh dạn bước qua cầu. Lạ thay, đi trên sợi dây mà anh thấy như đi trên đường cái.

Đến bờ bên kia, ông cụ nhìn anh mỉm cười rồi khen:

– Con thật gan dạ, tốt bụng. Vậy bây giờ con định đi đâu?

Người con trai đáp đi tìm thuốc cho cha và hỏi đường đến núi Trúc Lĩnh.

– Cụ ở đây chắc quen thuộc vùng này, mong cụ dạy bảo cho.

Ông lão gật đầu:

– Đúng là một người con hiếu thảo. Ta sẽ giúp con. Con cứ theo con đường này, đi năm ngày nữa thì đến một con sông lớn. Sông không có đò, nhưng có bạch hạc là chiếc thuyền của tiên. Con gọi: “Bạch hạc, bạch hạc, hãy giúp ta sang sông”. Đi tiếp năm ngày nữa, con sẽ đến núi Trúc Lĩnh. Con lần tới phía Nam, gõ vào vách đá ba tiếng, gọi: “Hỡi núi cao, hãy mở đường cho ta lên đỉnh núi”. Đến một ngôi chùa cổ, sư trong chùa sẽ giúp con.

Anh con trai bái tạ ông lão, hăm hở lên đường. Đến con sông rộng hun hút, sóng đang cuồn cuộn, theo lời ông lão, anh lên tiếng gọi:

– Bạch hạc, bạch hạc, hãy giúp ta sang sông!

Quả nhiên có con hạc trắng bay tới, đậu ghé xuống xông cho anh cưỡi lên lưng rồi cất cánh, trong nháy mắt đã tới bờ bên kia. Anh cảm ơn chim, hối hả đi tới ngọn núi cao chọc trời, đá dựng đứng. Anh lần tới vách núi phía Nam, gõ ba tiếng. Đã bỗng nứt ra thành một nối đi nhỏ thoai thoải. Anh men theo con đường hẹp ấy, qua ba mươi sáu khúc quanh co thì tới rừng trúc trên đỉnh núi.

Băng qua rừng trúc, anh bỗng nhận ra ngôi chùa ẩn sau vòm lá. Cổng chùa đóng kín. Anh ngơ ngác không biết hỏi ai thì thì thấy một vị sư già chống gậy trúc từ phía sau chùa bước ra. Vị sư ấy chẳng phải ai xa lạ mà chính là ông lão gánh củi hôm trước.

Anh vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, toan sụp xuống lạy ta, thì nhà sư đã cầm tay anh dắt vào vườn chùa, bảo anh lấy nắm hương thảo và dặn:

– Con hãy bỏ một nắm vào túi trong, còn nắm kia để túi áo ngoài. Về nhà, con ngắt lấy bảy cái hoa bưởi bỏ thêm vào, sắc với rượu cho đến khi còn một chén nhỏ thì rót cho người bệnh uống.

Người con trai từ giã vị sư già, lần theo lối cũ trở xuống. Nhưng anh vô cùng ngạc nhiên thấy chẳng có núi, chẳng có sông, chẳng có cầu qua suối, mà chỉ thấy một con đường bằng phẳng, rộng rãi trước mặt. Chẳng mấy chốc, anh đã về tới quê nhà. Đến gốc đa, anh gặp hai người anh đang đứng đợi mình. Người anh cả vồn vã:

– Chú thật vất vả, cha ở nhà ngày đêm trông ngóng, nen sai anh đến đón chú. Thôi, chú cứ trao thuốc cho hai anh đưa về, chú ngồi nghỉ một lúc cho đỡ mệt, anh sẽ đợi chú cùng đi về.

Người em út không nghi ngờ gì, vui vẻ trao nắm thuốc cho người anh thứ hai. Anh ta hí hửng chạy như bay về nhà, vội vàng sắc lên đưa cho cha và nói:

– Đây là thuốc trên núi Trúc Lĩnh. Con và anh cả đi lấy về sắc cho cha, cha uống đi.

Người cha vui mừng khen ngợi hai con. Nhưng cha vừa uống thuốc vào cổ ông đã thấy choáng váng và đau đơn không chịu nổi, giữa lúc ấy, người em út cũng vừa về tới nhà. Anh lặng lẽ làm theo lời của vị sư, sắc thuốc đưa lên hầu cha. Vừa uống xong, ông lập tức khỏe khoắn và tỉnh táo.

Vài hôm sau, bệnh ông giảm dần rồi khỏi hẳn.

Ông gọi ba người con đến và nói với con út:

– Trước đây cha đã nói sao thì nay cha làm đúng như vậy. Con đã không quản khó nhọc, nguy hiểm đi tìm thuốc cứu cha, con sẽ có tất cả gia tài cha để lại.

Ông quay lại nói hai người con lớn, nói:

– Còn các con, các con đã nói dối cha, lừa em, đáng lẽ không được hưởng gì cả. Nhưng…

Người cha ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói tiếp với con út:

– Con là đứa con có hiểu, đứa em thảo, hẳn là con không để hai anh con đói khổ.

Từ đó, hai người anh dần dần thảy đổi tính nết và cả ba anh em sống bên nhau thuận hòa tới già.

Truyện cổ tích Người con hiếu thảo – chúng tôi –

Lòng hiếu thảo là gì?

Lòng hiếu thảo là một đức tính cao đẹp của con người, thể hiện lòng tôn trọng, biết ơn đối với cha mẹ và tổ tiên của . Hay nói một cách dễ hiểu, hiểu thảo chính là cách đối xử tốt và tấm lòng kính yêu của con cháu đối với ông bà cha mẹ, được thể biểu hiện qua nhiều cách khác nhau: phụng dưỡng, thương yêu, vâng lời, thấu hiểu, …

Việt Nam là một trong những nước mà sức ảnh hưởng của Nho giáo rất lớn. Lòng hiếu thảo được coi là trung tâm của vai trò đạo đức trong Nho giáo. Những người con hiếu thảo sẽ luôn được xã hội đề cao và tôn trọng.

Tiếng Đóng Cửa Của Đứa Con Hiếu Thảo / 2023

Mẹ tôi khuyên: “Chúng ta mới chuyển đến, con làm như vậy có thể hơi thiếu suy nghĩ và dễ làm mất lòng hàng xóm”. Tôi suy nghĩ hoài và hỏi ý kiến mẹ: “Vậy thì chúng ta đi tìm trưởng dân phố, thử xin cô ấy giúp được không?” Mẹ tôi đồng ý.

Cô trưởng dân phố nghe chúng tôi trình bày xong thì khuyên nhủ và an ủi tôi rằng: “Chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa của gia đình bất hạnh đó một thời gian. Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, nằm dài trên giường không đi lại được. Tôi đoán, tiếng đóng cửa đó là của đứa con. Nghĩ lại cũng thật đáng thương, xin chị khoan dung cho!”.

Đúng vậy, cậu ta khoảng 16, 17 tuổi, trông thật thông minh. Tôi tự nhủ: “Phải cố chịu đựng thôi”. Mấy ngày sau tiếng đóng cửa vẫn cứ như vậy, và rốt cuộc tôi đành lên gõ cửa căn hộ nọ. Cậu bé đó ra mở cửa, hốt hoảng run cầm cập xin lỗi tôi: “Dì! Cháu xin lỗi, sau này cháu sẽ ráng cẩn thận…”.

Tối hôm sau, tôi vừa thiu thiu an giấc thì tiếng đóng cửa quen thuộc đó lại vang lên đập mạnh vào tai nghe chát chúa, mẹ tôi an ủi: “Nhẫn nhịn đi con, có lẽ thằng bé đã thành thói quen, từ từ rồi nó sẽ sửa đổi”.

Mấy ngày kế tiếp, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đó biến mất. Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng chân cũng nhỏ đi nhiều, bước đi nhè nhẹ xem ra rất cẩn thận.

“Mẹ! Mẹ nói thật đúng”, tôi vừa dứt lời, hai mắt mẹ tôi bỗng nhiên ngấn lệ, bà nghẹn ngào nói: “Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, mấy ngày qua thằng bé ban ngày đi học, ban đêm đến quán ăn chạy bàn, nó đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn mất…”.

Một tối nọ, bất ngờ tôi gặp cậu bé ấy ở cầu thang của dãy lầu, nó cúi thấp đầu đau buồn bước đến gần tôi nói: “Dì! Chắc dì bị mất ngủ nhiều, mấy ngày trước cháu làm ảnh hưởng giấc ngủ của dì, thật là có lỗi”. Một lát sau, cậu bé nói như run lên: “Tiếng đóng cửa mạnh như vậy là do cháu cố ý. Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, khả năng nghe kém dần, cháu đóng cửa mạnh là muốn để mẹ biết được con mình đã về mà yên tâm đi vào giấc ngủ, sau này sẽ không còn nữa đâu…”.

Cậu bé nói gì?! Tôi như không nghe được nữa, lệ từ hai khoé mắt tôi cứ tuôn trào ra…

Chuyện Người Con Gái Núi Đôi / 2023

Nghiên cứu – Phê bình – Trao đổi

Sóc Sơn, mảnh đất của những câu chuyện mang đầy chất huyền thoại nhưng rất “tình đất, tình người”. Cũng chính nơi này, câu chuyện về một nữ du kích gan dạ đã được nhà thơ Vũ Cao khắc họa thành hình tượng nghệ thuật, đã làm rung động hàng triệu con tim. Người con gái đó chính là nữ Liệt sĩ Trần Thị Bắc (nhân vật nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao) mà dòng tên em đã khắc vào vách núi…

Trần Thị Bắc sinh năm 1932 tại thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn – TP. Hà Nội (sau hòa bình, Xuân Dục Đoài thuộc xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn). Từ đỉnh núi Sóc, nhìn về quê hương cô đẹp như bức tranh họa đồ với những con ngòi nhỏ uốn lượn chảy qua, ở giữa cánh đồng lúa chín vàng óng ả mọc lên hai ngọn núi xanh biếc, có hình thù kích thước giống hệt nhau, khiến cho mọi người đều có chung cảm nhận, đó là một cặp núi sinh đôi.

Núi Đôi vốn là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, do địa hình nằm ở giữa hai vùng có những con đường huyết mạch chạy qua như quốc lộ 3 (Hà Nội – Thái Nguyên), đường 131, nối liền tỉnh Vĩnh Phúc qua sông Cầu tới Bắc Giang… nên khu vực Núi Đôi bao gồm các xã: Phù Linh, Tiên Dược, Tân Minh của huyện Sóc Sơn đã trở thành một đầu mối rất quan trọng, ví như một “mắt xích” nối liền giữa Chiến khu Việt Bắc với Thủ đô Hà Nội; giữa các tỉnh đồng bằng, trung du và miền ngược… Vì thế, nơi đây thường diễn ra các cuộc giằng co hết sức quyết liệt giữa ta và địch. Cũng tại nơi đây, nhiều cơ sở cách mạng đã được nhen lên từ phong trào quần chúng và là nơi nuôi giấu cán bộ Việt minh hoạt động trong vùng địch hậu. Chỉ trong phạm vi bán kính chưa đầy 3 cây số, bọn lính Pháp và ngụy quyền đã dựng lên gần 20 đồn, bốt kiên cố, riêng ở Núi Đôi có tới hàng chục bốt lớn, nhỏ. Và ngay trên mảnh đất Phù Linh, quân địch đã lập ra “vành đai trắng” nhằm bao vây, chia cắt, cô lập và tiêu diệt các cơ sở cách mạng của ta. 

Vốn sinh trưởng trong một gia đình có bố làm xã đội phó, cậu là xã đội trưởng, các bác, các chú đều là cán bộ Việt minh và bộ đội nên Trần Thị Bắc đã sớm có ý thức giác ngộ cách mạng, nhất là cô được tận mắt chứng kiến bao cảnh càn quét, cướp bóc, đốt phá, bắn giết hết sức dã man của bọn lính Pháp và ngụy quân ngay ở tại quê mình. Năm 1947, lúc đó mới 15 tuổi, nhưng Trần Thị Bắc đã rất tích cực tham gia hoạt động trong các phong trào đoàn thể thanh, thiếu niên. Cuối năm 1949, cô xin gia nhập đội du kích, làm nhiệm vụ giao thông liên lạc, tiếp tế và trực tiếp tham gia chống càn, bảo vệ nhân dân trong lúc tản cư. Sau đó cô được cử ra vùng tự do để theo học lớp y tá. Cũng trong thời gian này, Trần Thị Bắc gặp anh bộ đội Trịnh Khanh, thuộc đại đội Trần Văn Tuấn (là nhân vật “anh đi bộ đội sao trên mũ…” trong bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao). Sau vài lần gặp gỡ, hẹn hò, họ mới biết rằng cả hai đều là người cùng xã. Chàng trai ở thôn Vệ Linh (dưới chân Núi Sóc), còn cô gái ở thôn Xuân Dục Đoài (dưới chân Núi Đôi). Tình yêu quê hương, đất nước và lòng căm thù giặc sâu sắc đã giúp họ cùng chung một chí hướng cách mạng, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà đơn vị và đoàn thể giao cho.

Cụ Nguyễn Thị Thân, trên 90 tuổi, là thím ruột của Trần Thị Bắc ở thôn Xuân Dục Đoài kể lại: Cô Bắc là con gái cả trong gia đình, nên sớm biết lo toan công việc, giúp đỡ bố mẹ. Cô vừa nhanh nhẹn tháo vát, lại đẹp người, đẹp nết nên đi đâu hay làm việc gì cũng đều trót lọt. Có một lần, bà Nguyễn Thị Tèo (mẹ của Bắc) bỗng dưng thấy cô sắm đôi quang mới, bà hỏi: “Thế con sắm quang thúng để làm gì…?”. Bắc tươi cười hồn nhiên và nói với mẹ: “Con tập đi buôn đấy mẹ ạ!”. Ai ngờ, chính đôi quang gánh đi buôn ấy vừa là để che mắt địch và cũng là nơi cất giấu tài liệu của cô du kích.

Cũng từ năm 1951, người ta thường thấy ở thôn Đoài có một cô gái trẻ hòa lẫn vào dòng người đi buôn bán ở khắp mọi nơi. Với đôi quang thúng trên vai, cô đi khắp các hang cùng ngõ hẻm. Lúc thì ở trong vùng địch tạm chiếm, khi lại ra vùng tự do. Lúc bán muối, khi bán vải, bán rau… những lần mua bán hàng hóa ấy, chính là lúc cô đang dò la, thu thập tình hình một cách có hiệu quả nhất để kịp thời chuyển những tin tức quan trọng ra vùng tự do. Bọn lính Tây và lính ngụy trong đồn đều quá quen thuộc cô, nên không hề có chút nghi ngờ, ngược lại chúng còn rất quý mến cô. Có những tên chỉ huy khi vào làng càn quét đã tìm đến nhà Trần Thị Bắc và có ý ngỏ lời muốn lấy cô làm vợ bé. Lợi dụng tình thế và cơ hội “ngàn năm có một” ấy, Trần Thị Bắc đã rất linh hoạt, chuyển ngay sang hình thức làm công tác binh, địch vận đối với những tên này. Bằng những lời lẽ khôn khéo đầy tính thuyết phục của mình, Trần Thị Bắc đã thành công trong việc vận động một người cai trong hàng ngũ lính ngụy và một lính Pháp tự động mang súng ra đầu hàng cách mạng. Nhờ có những thông tin rất quan trọng do Trần Thị Bắc cung cấp, mà một số cơ sở của ta không bị lộ. Đặc biệt là tránh được những tổn thất to lớn đối với số cán bộ của ta đang hoạt động ở trong vùng địch hậu.

Đầu năm 1954, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ ở Điện Biên Phủ, đồng thời đánh phá quyết liệt, nhằm ngăn chặn chi viện của ta cho chiến trường Điện Biên. Để trấn an tinh thần cho bọn lính Pháp và ngụy quân ở phía sau, chúng ráo riết tổ chức các cuộc vây bắt, lùng sục ở khắp mọi nơi. Vào thời điểm này, Trần Thị Bắc cùng một lúc nhận được hai quyết định của trên: một là về tỉnh để tiếp tục đi học lớp y tá; hai là về làm công tác quân báo tại Huyện đội Đa Phúc (nay là Sóc Sơn) với lý do, khả năng cô đã bị lộ, nên cấp trên có ý định chuyển vị trí công tác của cô. Ông Lê Văn Túc, cán bộ cách mạng thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh và là tổ trưởng quân báo của huyện Đa Phúc lúc đó kể lại trận chiến đấu cuối cùng của nữ du kích Trần Thị Bắc:

… Hôm đó là ngày 16-3-1954 (sau 3 ngày quân ta mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ). Vào lúc 10 giờ đêm, sau khi đã bố trí xong lực lượng chuẩn bị cho trận mai phục quân địch ở chùa Táo, Trần Thị Bắc nhận nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ khoảng 30 người từ vùng địch hậu Lương Châu ra “vành đai trắng” Phù Linh. Cô đi trước thăm dò, vừa đến chân Núi Đôi, không may rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng bắt và bịt miệng cô lại với mưu đồ phục, chờ để bắt sống toàn bộ số người đi sau. Quyết không để cán bộ của ta rơi vào tay giặc. Biết được âm mưu nham hiểm của địch, Bắc đã chống cự quyết liệt. Bất thình lình cô lao vào tên quan Pháp và túm ngay vào chỗ hiểm, dùng hết sức mình bóp chặt lấy bộ hạ của hắn. Bị đòn đau bất ngờ, quên cả việc lớn, tên quan Pháp kêu rống lên như con bò bị chọc tiết. Một tên lính lê dương đứng cạnh đó vội lôi Bắc ra và dùng súng xả trọn một băng vào ngực cô. Thấy động, đoàn cán bộ của ta đã rút lui an toàn tuyệt đối. Còn Trần Thị Bắc đã anh dũng hy sinh, máu chảy loang đỏ và se đọng lại trên vầng ngực tròn căng của cô. Những viên đạn tàn ác của kẻ thù vẫn còn găm nguyên ở đó. Từ trên Núi Đôi, quân địch dùng súng moóc-chi-ê bắn vòng quanh xác Trần Thị Bắc; bất chấp nguy hiểm, anh em trong đội du kích đã vượt qua vòng vây lửa đạn của địch vào đưa thi thể của cô tới nơi Cầu Cốn – Vệ Sơn để làm lễ truy điệu và mai táng cô tại đó trong lòng tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng đội và bà con xã Phù Linh.

Chuyện về người con gái Núi Đôi cách đây đã hơn một nửa thế kỷ, nhưng giờ đây vẫn luôn tỏa sáng về phẩm chất “Anh hùng – bất khuất – trung hậu – đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam. Trần Thị Bắc là một trong những tấm gương tiêu biểu biết hy sinh quên mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc khi cô vừa mới bước vào độ tuổi 20…

Ngô Văn Học(Sóc Sơn – Hà Nội)Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 484

Bạn đang xem bài viết Câu Chuyện Về Người Con Hiếu Thảo / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!