Xem Nhiều 2/2023 #️ Có Một Tượng Đài Thơ… # Top 11 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Có Một Tượng Đài Thơ… # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Có Một Tượng Đài Thơ… mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH – LIỆT SĨ (27/7/1947 – 27/7/2017)

Có một tượng đài thơ…

(Đọc một số bài thơ viết về thương binh – liệt sỹ)

Đọc lại những bài thơ viết về đề tài thương binh liệt sỹ, tôi rất ngạc nhiên khi bắt gặp những tứ thơ gần giống nhau trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ nhưng triển khai theo một cách riêng mang dấu ấn của thời đại, của tâm hồn người Việt trong những hoàn cảnh khác nhau. Ví như bài “Viếng bạn” của Hoàng Lộc và “Mồ anh hoa nở” của nhà thơ Thanh Hải. Cả hai bài thơ đều viết theo thể thơ 5 chữ với lối tự sự, trữ tình. Cũng là nỗi đau nghẹn thắt, nghẹn ngào trước sự hy sinh của đồng đội nhưng “Viếng bạn” là tác giả được chôn cất người đã mất “Hôm nay đã chặt cành/ Đắp cho người dưới mộ”. Còn ở “Mồ anh hoa nở” thì: “Hôm qua chúng giết anh/ Xác phơi đầu ngõ xóm” và: “Mắt trừng còn dọa dẫm/ Thằng này là cộng sản/ Không được đứa nào chôn”. Nhưng khi chúng quay đi thì bà con làng xóm đã đưa anh về yên nghỉ trên đồi cao bất chấp cả lời đe dọa của lũ giặc. Và trên nấm mộ của người chiến sỹ đó luôn được đắp lên những bó hoa hồng: “Hoa hồng nở và nở/ Hương thơm bay và bay”. Bài thơ của Hoàng Lộc viết trong thời kỳ chống Pháp mộc mạc mà không đơn sơ, lời thơ như chạm khắc ký thác. Còn nhà thơ Thanh Hải viết trong thời kỳ chống Mỹ đã nâng tứ thơ lên trở thành biểu tượng như là một tượng đài có vẻ đẹp bất tử. Gần đây nhất, tôi lại được đọc bài thơ “Mộ gió” của nhà thơ Trịnh Công Lộc viết về sự hy sinh của những người chiến binh giữ biển đảo không về. Không về cả về thể xác và chỉ có cuộc chiến đấu trên biển mới có những ngôi mộ gió – ngôi mộ mà dưới đó hình nhân được làm bằng đất sét: “Mộ gió đây đất thành xương cốt/ Cứ gọi lên là rõ hình hài ” và: “Chạm vào gió như chạm vào da thịt/ Chạm vào nhói buốt Hoàng Sa”. Có những ngôi mộ gió trên biển đảo khơi xa thì lại có hàng ngàn ngôi mộ vô danh trên dãy Trường Sơn trong bài thơ “Khát vọng Trường Sơn” của nhà thơ quân đội Nguyễn Hữu Quý. Với lối cấu trúc điệp chữ và điệp ý như những điểm nhấn là cả một dư ba vang vọng và day dứt, thiết tha và ngưng đọng: “Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng/ Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn”. Có thể nói bài thơ như chạm khắc một tượng đài trùng điệp trải dài ngút ngàn nhưng không vô vọng với: “Mười ngàn đồng đội nằm rải Trường Sơn/ Mười ngàn hài cốt chưa về khói hương/ Mười ngàn khát vọng cùng về bên nhau…”. Các anh khi ngã xuống vẫn ở trong tư thế: “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng anh vẫn đứng lên tựa vào xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”. Một hình tượng thật đẹp, một vẻ đẹp bi tráng hào hùng của người chiến sĩ trong thời đại Hồ Chí Minh tỏa ra không chỉ là hào quang chiến thắng mà còn là hào quang của vẻ đẹp lý tưởng. Nhà thơ Lê Anh Xuân, tác giả bài thơ nổi tiếng này sau đó cũng đã hy sinh trong một tư thế tiến công như thế. Chính ngọn súng cũng là ngọn bút và máu các anh cũng là mực của những dòng viết này…

Trong các bài thơ viết về thương binh liệt sỹ, những bài hay và thành công nhất có sức lan tỏa rộng nhất, dễ thuộc nhất là những bài có cốt truyện như: “Núi Đôi” của Vũ Cao trong kháng chiến chống Pháp và “Quê hương” của Giang Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Cả hai đều kể về câu chuyện tình yêu thật cảm động với một cô gái cụ thể và sự hy sinh trong những hoàn cảnh cụ thể. Với Vũ Cao: “Mới đến đầu thôn, tin sét đánh/ Giặc giết em rồi dưới gốc thông/ Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa/ Em sống trung thành chết thủy chung” thì ở Giang Nam: “Giặc giết em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi!/ Đau đớn lòng anh chết nửa con người”. Giọng thơ Vũ Cao điềm tĩnh, đau đớn tột cùng nghẹn nuốt vào trong, còn Giang Nam là tiếng kêu xé ruột nghẹn thắt. Có một tượng đài bất tử được dựng lên từ sự hy sinh của hai cô gái đó. Một tượng đài thơ và chỉ có thơ mới lưu dấu mãi trong tâm hồn. Đó là: “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa xanh ngát cánh hoa thơm” trong “Núi Đôi” và: “Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi” trong “Quê hương”. Có một Núi Đôi sừng sững thành địa danh chung trong lòng mỗi người thật ấn tượng thì lại có một Quê hương thật thấm đẫm, trong sự hy sinh hóa thân vào mỗi cành cây, ngọn cỏ cội nguồn đất đai sông núi. Không phải ngẫu nhiên mà có những cặp bài thơ như một cặp bài trùng nổi tiếng của hai thời kỳ kháng chiến. 

Có hai bài thơ dài khá thành công của hai nhà thơ nổi tiếng sau này viết khi họ còn là những người lính trực tiếp câm súng đánh giặc. Và viết về chính sự hy sinh của những người thân của mình đó là bài “Phan Thiết có anh tôi” của nhà thơ Hữu Thỉnh và “Nấm mồ và cây trầm” của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. Người anh trai của Hữu Thỉnh hy sinh ở Phan Thiết khi cùng mọi người đi lấy nước cho đồng đội: “Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ/ Mặt anh còn cách nước một vài gang”. Cái khoảng cách giữa lấy nước (cho sự sống) và cái chết thật mỏng manh: “Vài bước nữa/ Thế mà không thể khác/ Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi”. Còn người bạn thân đồng đội tên là Hùng của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thì: “Nhận cái chết cho đồng đội sống/ Ngực chặn lỗ châu mai Hùng đứng thẳng/ Lửa bén vào áo lính tuổi hai mươi”. Cứ ngỡ đây cả hai thi sĩ không làm thơ nữa mà họ chỉ ghi lại, gọi lên những phút giây oanh liệt ấy, những thời khắc lịch sử ấy. Để rồi thăng hoa một chiêm nghiệm sự sống hồi sinh từ cái chết hữu hình. Với Hữu Thỉnh người anh trai vẫn sống trong ký ức của nhà thơ: “Không nằm trong nghĩa trang/ Anh ở với đời anh xanh vào cỏ/ Cỏ ở đây thành nhang khói nhà mình/ Đồi ở đây cũng là con của mẹ”. Ở Nguyễn Đức Mậu có một biểu tượng: “Đất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn/ Cây trầm cháy dở thay nén nhang”. Và : “Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ/ Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị/ Thân hy sinh thơm đất, thơm trời”. Đó cũng chính là tượng đài bất tử sống mãi với thời gian, sống mãi trong ký ức, sống mãi như là một sự trường tồn trong văn học.

 Thơ viết về thương binh, những người “Tàn mà không phế”, những người không chỉ mất một phần máu thịt mà còn mang trong mình những cơn sốt sét rừng âm ỉ, những di chứng của chất độc da cam. Tôi thật ấn tượng khi chọn hai bài thơ viết về những người thương binh cụt chân bắt đầu từ giai điệu thiết tha “Vết chân tròn trên cát” của nhạc sỹ Trần Tiến. Đôi chân đối với mỗi con người thật quan trọng, vì luôn phải hoạt động trong môi trường cuộc sống xã hội thường ngày. Đôi bàn chân đã mất đó từng cùng họ hành quân qua bao chiến trường khói lửa. Tướng quân Huỳnh Văn Nghệ là một thi sĩ, trong thời kỳ chống Pháp đã viết bài thơ “Tiếng hát giữa rừng” kể về một chiến sĩ bị thương phải cưa chân bằng cưa thợ mộc không thuốc gây mê. Để quên đi nỗi đau đớn tột cùng đó anh đã hát vang bài Quốc ca với một sự chịu đựng phi thường đáng khâm phục: “Cưa cứ cưa, xương cứ đứt/ Máu cứ rơi trong từng vết đỏ bông/ Hai bàn tay xiết chặt đôi hông/ Dồn hết phổi vào trong câu hát/ Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc/ Đã hát đi hát lại bao lần/ Vẫn chưa đứt xương chân/ Vẫn chưa ngừng máu đỏ”. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa đã viết bài thơ “Bàn chân thầy giáo”: “Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh/ Hay Tây Ninh, Đồng Tháp/ Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc/ Cho lẽ sống làm người”. Người thầy giáo thương binh trở về giảng đường với những trang sách và các em thơ với đôi nạng gỗ xếp bên bàn. Chính cái đôi nạng gỗ ấy đã vỡ vạc ra bao điều, đã gieo vào tâm hồn các em những ý nghĩ sâu sắc có sức thuyết phục hơn cả những bài học luân lý mà ở lứa tuổi học trò Trần Đăng Khoa đã nhận ra: “Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo/ Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo/ Như nhận ra cái chưa hoàn hảo/ Của cả cuộc đời mình”. Lại có những “vết thương lòng” chia cắt không chỉ là thể xác mà cả tâm hồn, sự trống vắng cô đơn, sự thiếu hụt tình cảm của bao cô thanh niên xung phong trở về quá tuổi và vào chùa thành sư nữ. Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong trường ca “Tiếng bom và tiếng chuông chùa” viết thật xúc động về người nữ thương binh từng bị những mảnh bom xuyên vào đầu đau nhức những khi trái gió trở trời: “Sao sư thầy không gõ mõ/ Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình/ Có thể nào những giây phút thời bình/ Còn có thể làm vết thương thủa nào tái phát”. 

Chiến tranh đã đi qua nhưng khi trở lại dòng sông Thạch Hãn, người cựu chiến binh Lê Bá Dương đã nức nở, thổn thức: “Đò lên Thạch Hãn xin… chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Cũng như năm xưa trong kháng chiến chống Pháp, nhà thơ – Người lính Tây tiến Quang Dũng đã từng độc hành khúc tráng ca lẫm liệt bi thiết: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Vâng, máu xương của các anh hùng liệt sĩ đã hóa thân vào mỗi ngọn núi, dòng sông đất nước, đã hóa thân vào mỗi trang thơ, trang văn cho các thế hệ mai sau. Đó chính là tượng đài được dựng nên bất tử trong trái tim mỗi người…

NGUYỄN NGỌC PHÚ 

Có Một Tượng Đài Mẹ Suốt Bằng Thơ

(QBĐT) – Tượng đài mẹ Suốt bằng đá cạnh bờ sông Nhật Lệ (gần chợ Đồng Hới) nhiều người đã thấy, nhưng để tạo nên một tượng đài bằng thơ về mẹ trong lòng người đọc thì hầu hết mới biết qua bài thơ “Mẹ Suốt” của nhà thơ Tố Hữu, trong khi đó thơ ca ngợi mẹ từ trước đến nay khá nhiều bài. Từ từng góc độ khác nhau, mỗi nhà thơ có cách nghĩ riêng của mình, góp một “viên gạch thơ” xây tượng đài mẹ Suốt.

Nhà thơ Trúc Chi cho ta tận mắt chứng kiến ngôi nhà của mẹ ở thôn Trung Bính, xã Bảo Ninh ngày nào:

Nắng vào ấm cát trong sân mùa hè Ngõ ngoài cài mấy thân tre Vài cành hoa biển vàng hoe góc rào Một chum nước ngọt trong veo Đường ra giếng nhỏ còn leo bậc ghềnh

Đó là tổ ấm gia đình mẹ, nhờ cách mạng mà có, còn tuổi thơ và tuổi xuân thì như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Lớn lên ở bốn cửa người/Mười hai năm lẻ, một thời xuân qua.” Có nghĩa là hơn 12 năm làm con ở, làm thuê cho nhà giàu, đến khi lấy chồng thì “Tám lần đẻ, mấy lần sa”, khổ hết chỗ nói! Thế nhưng, mẹ vẫn sống lạc quan sau mỗi lần làm xong nhiệm vụ đưa đò, trở về với ngôi nhà thân yêu của mình:

Mẹ về sau những chuyến đò Hiên nhà rộn rịp đường tơ giăng hàng

Tượng đài mẹ Suốt bên sông Nhật Lệ. Ảnh: Đ.V

Nhà thơ Nguyễn Đình Hồng ca ngợi mẹ là “Bà mẹ Hải quân”, coi mẹ như là một chiến sỹ Hải quân thực thụ. Hình ảnh con đò của mẹ hiện lên trong thơ ông thật sống động:

Tuổi sáu mươi tâm hồn lan sóng biếc Đồng Hới-Bảo Ninh đôi bờ thân thiết Chiếc đò con của mẹ bắc cầu sang Đò hướng theo từng nhịp pháo phòng không Trăm con sóng nâng đò lên phía trước Lòng khoang con chở đạn nhỏ, đạn to Lao qua lửa và bom tung cột nước

Nhà thơ Trần Nhật Thu, người con rể của đất Bảo Ninh còn cho người đọc biết cụ thể:

Bến đò này ngày xưa không có tên Chỉ động cát rừng dương che mắt giặc Khách qua sông nay gọi thầm tên mẹ Lái con đò dưới tầm đạn bom Mẹ đưa xã viên đi làm nương Đưa bộ đội vào tiền phương

(Bến đò mẹ Suốt-Trần Nhật Thu)

Trong bài thơ “Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam”, nhà thơ Huy Cận cũng đã dành cho mẹ câu thơ đầy kiêu hãnh:

Chèo mẹ Suốt vang sông, chị Khíu giành lại biển Gái Quảng Bình phí khách đọ Trường Sơn

Nhà thơ Lê Đức Thọ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị đã có thơ về mẹ như sau:

Trời khuya bến nước mênh mông Đạn bom trút xuống, dòng sông căm thù Vững chèo lướt sóng tới bờ Mẹ đưa con đến kịp giờ xuất quân Giữa làn bom đạn, xông pha Thương con, thương nước thiết tha cháy lòng

Con đò và mái chèo vừa là phương tiện hoạt động của mẹ vừa là hình ảnh biểu trưng cho phí phách anh hùng của mẹ. Chả thế mà nhà thơ Chế Lan Viên hạ bút viết:

Đêm thắng giặc, Bảo Ninh mẹ Suốt ngâm Kiều Mẹ đâu dám quên cái thuở khổ nghèo Nhật Lệ sông dài đò mẹ lại qua Một mái chèo trong lửa đạn xông pha

(Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ)

Nhà thơ Xuân Hoàng còn mở rộng liên tưởng ra thế giới:

Cả thế giới biết con đò mẹ Suốt Một con đò soi bóng vạn dòng sông

(Mẹ Suốt, mùa xuân và bó hoa của Bác)

Nhà thơ Cẩm Lai cảm nhận về tình cảm của mẹ đối với bộ đội: ” Tất cả các con đều là con mẹ/Tình mẹ bao la trời biển một màu ” (Mẹ Bảo Ninh).

Yêu quý bộ đội quên mình chiến đấu bảo vệ Tổ quốc là thể hiện lòng yêu nước! Mẹ Suốt xuất phát từ tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương mà có những việc làm đầy ý nghĩa; có sức lan tỏa lớn đến mọi người. Vì thế mà khi mẹ bị bom Mỹ sát hại, ai cũng thương xót mẹ. Trong bài thơ “Mẹ vẫn đưa đò”, nhà thơ Văn Lợi khẳng định:

Mẹ không còn đưa đón khách sang Người qua bến thương mái chèo quen thuộc Mẹ mãi sống trong lòng đất nước Giữa dòng xanh lịch sử Việt Nam

Có nhiều bài thơ nữa ca ngợi mẹ, song tôi muốn dừng lại phân tích bài thơ “Mẹ Suốt” của Tố Hữu để thấy rõ toàn vẹn bức chân dung mẹ. Cái tài của Tố Hữu là biết xích lại gần mẹ, kéo mẹ lại gần phía mình và người đọc, nghe mẹ kể về cuộc đời thăng trầm của mẹ trên mảnh đất Bảo Ninh (Quảng Bình):

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình Mẹ rằng: quê mẹ, Bảo Ninh Mênh mông sóng biển lênh đênh mạn thuyền

Tố Hữu lấy quê hương làm nền để xây tượng đài mẹ. Hình ảnh “nắng trưa, chang chang cồn cát” và “mênh mông sóng biển lênh đênh mạn thuyền” rất ấn tượng. Từ trên cái nền quê hương ấy tác giả cho hiện lên một mẹ Suốt ngày còn bé trong bóng đêm nô lệ thật tội nghiệp:

Sớm chiều, nước xuống triều lên Cực thân từ thuở mới lên chín, mười Mười hai năm lẻ một thời xuân qua

Thân phận làm vợ, làm mẹ cũng thật là gian truân:

Lấy chồng, cũng khổ con ra Tám lần đẻ, mấy lần sa tội tình! Nghĩ mà thương mẹ cha sinh Thương chồng con lại thương mình xót xa…

Chính từ nỗi khổ cực ấy mà mẹ ý thức sâu sắc quyền được làm người, được sống trong một chế độ xã hội tự do, hạnh phúc:

Đi khơi đi lộng thuyền ra thuyền vào Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân!

Mẹ không chịu thua chồng trong việc tham gia chống Mỹ cứu nước:

Ông nhà theo bạn “xuất quân” Tui nay cũng được vô chân “sẵn sàng” Một tay lái chiếc đò ngang Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Lấy tinh thần thằng Pháp để đánh Mỹ, Mẹ bất chấp tuổi tác, không sợ gì sóng gió, đạn bom giặc:

Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Tố Hữu để mẹ hiện lên trong thơ mình thật đẹp và kỳ vĩ:

Ngẫng đầu, mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung trắng bờ

Vừa chiêm ngưỡng mẹ, nhà thơ vừa đối thoại với mẹ như một nhà báo phỏng vấn bằng thơ và mẹ cũng trả lời bằng thơ với nhà thơ trong vai nhà báo.

Mẹ rằng: cứu nước mình chờ chi ai Chẳng bằng con gái con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò… – Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo? Mẹ rằng: Nói cứng phải xiêu Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông! Nghe ra ông cũng vui lòng Tui đi còn chạy ra sông dặn dò: “Coi chừng sóng lớn gió to Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình!”

Người đọc nghe hai người đối đáp với nhau thật thú vị. Từng câu hỏi và câu trả lời đều sử dụng phương ngữ Quảng Bình: Tui, chi, rứa, cớ răng, nờ… làm rõ hơn đặc điểm vùng quê và tính cách của mẹ.

Cái kết của bài thơ đã mang đến cho người đọc sự ngất ngây khoái cảm:

Vui sao câu chuyện ân tình

Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say …

Nghệ sỹ Châu Loan với chất giọng đặc biệt, đã ngâm bài thơ này, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, khiến ai nghe cũng thích! Mẹ Suốt cứ thế đi vào lòng người với niềm yêu kính. Nhân dân đã tạc tượng mẹ trong lòng mình nhờ hình tượng mẹ trong thơ của các nhà thơ!

Có Một Quảng Bình Rất Thơ

Có một Quảng Bình rất thơ

Bãi biển đẹp và nên thơ vô cùng

Nhắc đến Quảng Bình, hẳn chúng ta đều đã quá quen thuộc với những địa danh như động Phong Nha – Kẻ Bàng, bãi biển Nhật Lệ, động Sơn Đòong… Tuy nhiên, thời gian gần đây, Quảng Bình lại trở thành một điểm đến rất hấp dẫn, đặc biệt đối với các bạn trẻ đam mê khám phá. Với khung cảnh hoang sơ và vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, đặc biệt là sau khi đoàn làm phim King Kong dựng phim trường ở đây, đã khiến cho Quảng Bình trở thành một điểm đến “must-go” của rất nhiều du khách không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Và nếu bạn đã từng nghe qua những cái tên như hang Chuột, hồ Yên Phú, hay thung lũng Chà Nòi – nơi đã quay hình bộ phim King Kong – thì xin hãy ghi vào sổ tay thêm địa danh sau đây – một nơi vô cùng mới, rất hoang sơ với cảnh đẹp nghẹt thở, nước xanh trong vắt chẳng kém Cửu Trại Câu hay bất cứ một địa danh du lịch lừng danh thế giới nào đó. Đó chính là động Thiên Đường, suối nước Moọc và hang Tối.

Khung cảnh động Thiên Đường

Được mệnh danh là “hoàng cung trong lòng đất”, động Thiên Đường (thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bỉnh) là một trong những kỳ quan tráng lệ và huyền ảo bậc nhất thế giới. Động Thiên đường nằm ở km 16 (cách rìa nhánh tây đường Hồ Chí Minh gần 4 km) , nằm trong lòng một quần thể núi đá vôi ở độ cao 191m, bao quanh là khu rừng nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Bước vào trong động, mọi người sẽ được thỏa chí tưởng tượng trước vô vàn thạch nhũ có nhiều hình thù khác nhau mà những người “khai phá” đã dùng những ngôn ngữ mỹ miều để đặt tên.Nào Cung Thạch Hoa Viên với khối thạch nhũ như tượng đức mẹ đồng trinh tay bế hài đồng; nào Cung Giao Trì là nơi Ngọc Hoàng bàn việc nước với các cận thần, xung quanh là tượng kỳ lân, chim phượng hoàng..

 Rất đẹp phải không nào?

Suối nước Moọc nằm trên đường 20 Quyết Thắng, thuộc nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh, cách Phong Nha khoảng 10km về hướng Tây Bắc. Từ thành phố Ðồng Hới tỉnh Quảng Bình, đi theo nhánh đông đường Hồ Chí Minh về phía bắc khoảng 60km, bạn sẽ gặp ngã ba Khe Gát. Rẽ tiếp theo nhánh tây, đi thêm khoảng 5km, du khách sẽ đến với suối Nước Moọc. Giữa thung lũng của những dãy núi đá vôi, dọc theo bờ sông Chày, suối nước Moọc hiện ra như một nơi hoang dã trong một chương trình thám hiểm nào đó của Discovery. Tại đây, bạn tha hồ trải nghiệm hàng loạt những điều lý thú trên sông hoặc chỉ ngồi không, ăn uống và ngắm cảnh thôi cũng tuyệt vời lắm rồi.  Bao từ ngữ hoa mỹ nhất có lẽ cũng không đủ để diễn tả được vẻ đẹp hư ảo của vùng đất này.

Bên cạnh đó Hang Tối cũng là một địa danh nổi tiếng của Quảng Bình, đặc biệt là với những ai đam mê thám hiểm những vùng đất mới và không ngại trèo đèo lội suối gian nan cực khổ. Cái tên Hang Tối có nghĩa là “Ánh sáng tối trong hang” vô cùng đậm đặc, khiến người ta có cảm tưởng có thể chạm tay vào được. Đi thuyền dọc sông Chày khoảng 5km, bạn sẽ đến được nơi có những dòng thạch nhũ chảy tràn hai bên thành động, bên trong được phủ một màu xanh huyền ảo của rêu. Hang Tối là một nhánh thuộc hệ thống hang động Phong Nha, được các nhà thám hiểm Hoàng gia Anh khám phá và đặt tên. Chắc chắn, chuyến khám phá hang Tối dù có thể sẽ không mạo hiểm bằng, nhưng  bảo đảm sẽ thú vị không thua gì Phong Nha hoặc Sơn Đoòng đâu. 

Khung cảnh thần tiên

Quảng Bình còn có những bãi biển đẹp và những đồi cát trắng mênh mông trải dài. Cồn cát Quang Phú Quảng Bình chính là địa điểm cho bạn không thể không đặt chân đến, đồi cát trắng soi nắng pha lê với những trảng cát thay đổi từng ngày, chạy dài đến bờ biển xanh. Cồn cát Quang Phú được đánh giá đẹp không thua kém bất kỳ cồn cát nào, thực sự là “thiên đường” cát của Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên mà bạn có thể nhận thấy về nơi đây chính là những triền cát trắng trải dài lung linh dưới nắng. Có những đồi cát cao tới 10m, đôi chỗ được điểm xuyết bới màu xanh của bụi cây dại, màu nâu trầm của những nhành cây khô. Tất cả tạo nên một tổng thể hoang sơ, tĩnh lặng những cũng quyến rũ chẳng ngờ.

Cồn cát đổi màu trong ngày

Bạn còn chần chừ gì nữa và không xách ba lô lên và đi ngay nào? Thiên đường chỉ cách bạn một bước chân đây thôi!

Review Tôi Có Một Chén Rượu, Có Thể Xoa Dịu Hồng Trần

Ám màu ngôn tình nhưng không vì thế mà tác phẩm chỉ duy một màu mỹ miều hay lãng mạn mà song song đó là những bi ai trong cuộc đời mà mỗi chúng ta, dù có thể chưa hoặc sẽ không bao giờ trải qua nhưng chắc hẳn sẽ bắt gặp đâu đó đôi lần.

“Những câu chuyện trong cuốn sách này, có thể cho đến cuối đời cũng sẽ không xảy ra với bạn, nhưng chẳng ai dám nói chúng chưa từng xảy ra trên thế gian này, chỉ là tôi có may mắn gặp được những người đó, nghe được những chuyện đó, rồi kể lại cho bạn vào một thời điểm thích hợp.”

13 câu chuyện hầu hết kể về chuyện tình, nhưng không chỉ là tình yêu đôi lứa mà còn bao gồm tình yêu giữa các thành viên trong gia đình, tình yêu giữa người và loài vật giúp tác phẩm sinh động và tránh được sự nhàm chán khi theo dõi. Bằng sự đồng cảm và lòng trắc ẩn, chúng ta luôn mong mỏi những kết cục tốt đẹp sẽ đến các nhân vật, nhưng tác giả Quan Đông Dã Khách đã không màu hồng hóa tất cả mà thẳng thắn đưa hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm. Bạn sẽ gặp nhân vật bi lụy như Xuân Thụ – một gã si tình đến mức ngô nghê, dễ tổn thương như cô bé Quả Nhi lanh lợi nhưng lại mắc căn bệnh bạch cầu hiểm nghèo, hay dũng cảm như Nhất Nam – sẵn sàng từ bỏ đám cưới đang diễn ra để tìm đến hạnh phúc thật sự.

Như một bản rap chứa đựng nhiều punchline (*), những câu chuyện của Tôi có một chén rượu, có thể xoa dịu hồng trần dẫn dắt người đọc đi đến những bất ngờ không thể đoán trước, mỗi kết thúc luôn để lại những cảm xúc trộn lẫn, như vị hăng cay rồi mới đến êm dịu của một chén rượu nồng.

Mở đầu của câu chuyện đa phần là một thoáng gặp gỡ bất ngờ, sau đó chớp mắt đã vạn năm, phần kết của câu chuyện luôn là càng đi càng xa, không còn thấy nổi bóng hình. Có lẽ những cuộc gặp gỡ đều rất đẹp đẽ, nhưng kết cục lại thường không như ý, nhưng cuộc đời là vậy, điều đẹp đẽ nằm ở chỗ, chúng ta không có cách nào đoán trước được gì.

Khi đọc tác phẩm này bạn sẽ ít nhiều có sự đồng cảm với những nhân vật bởi lối kể chuyện chạm đến cảm xúc của tác giả. Và đằng sau những cảm xúc đau đớn, hối tiếc ấy chúng ta với vai trò là người thứ 3 đứng ở một bên quan sát sẽ có được những nhìn nhận khách quan, đồng cảm nhưng không bị chi phối – là một cách để hiểu người, hiểu mình từ đó làm chủ cảm xúc, vượt qua những hiện thực ngoài cuộc sống.

Đến đây, chắc có lẽ bạn đã hiểu được phần nào lý do cái tên mỹ miều Tôi có một chén rượu, có thể xoa dịu hồng trần mà tác giả Quan Đông Dã Khách sử dụng cho tác phẩm.

Những đoạn trích tiêu biểu trong Tôi có một chén rượu, có thể xoa dịu hồng trần

Có nhiều người là như vậy, chỉ đến khi để mất rồi mới nhận ra được tấm lòng của người kia, lúc còn ở bên nhau sẽ coi đó là tất lẽ dĩ ngẫu, cảm thấy bản thân vốn dĩ phải được đối xử như vậy, dường như cả thế giới này đều là của mình. Kỳ thực làm gì có chuyện như thế, chẳng qua bạn là người mà anh ta yêu thương thôi, một khi rời khỏi anh ta, bạn chẳng là cái gì hết.

Tình cảm yêu thích lúc còn bé rất giống một đóa hoa còn chưa nở, thuần khiết tới mức có thể vắt ra nước, nhưng sự đố kỵ lúc còn bé cũng nảy sinh một cách rất thuần túy, vì chúng ta vô tâm, vì khi đó ta còn quá trẻ dại, chúng ta căn bản không hề hay biết mỗi lời nói của mình rốt cuộc có thể mang lại sự tổn thương và hậu quả như thế nào đến cho một người.

Con người là vậy đấy, bạn mãi mãi không thể nào biết được nỗi đau của người khác, người này đang đau khổ muốn chết, nhưng trong mắt người kia đó chẳng qua chỉ là một vở hài kịch mà thôi.

Bởi vậy, con người ta đừng nên mong chờ sự đồng cảm từ người khác, trên đời này vốn dĩ không có chuyện đồng cảm, tất cả những sự an ủi chẳng qua chỉ là sự quan tâm ở phương diện đạo đức, vết thương của bạn đến cuối cùng cũng vẫn phải tự lành thôi.

Khi một mối tình không thể cứu vãn được nữa, ngoài việc để gió cuốn bay bạn chẳng làm được gì, bạn phải tự hỏi mình rằng, liệu bạn đã cố gắng hết sức mình không còn gì để hối tiếc. not? Nếu câu trả lời là có, vậy thì bạn đã xứng đáng với tình yêu đó rồi.

Trong lòng mỗi người đều có một số chuyện, hoặc đẹp đẽ ngọt ngào, hoặc tàn khốc, nhưng sẽ có một vài chuyện mà cả đời này bạn không bao giờ muốn nhắc lại, tựa như một vùng chôn cất trong lòng , nó chỉ có thể tiếp tục lớn, thời gian càng lâu nó càng lên sâu, đến khi bạn muốn nó vượt qua, thì nó phải bám chặt lấy thời gian của bạn, chỉ cần chạm vào là đau đến nhói lòng.

* Punchline: một điểm nhấn bất ngờ trong câu chuyện, kết nối chặt chẽ với cốt truyện, đòi hỏi sự tập trung theo dõi để hiểu và nhận ra, đôi khi cần phải có hiểu biết sâu rộng. Trong truyện cười, punchline có thể khiến người xem bật cười sau khi kết nối các tình tiết, tương tự trong một bản nhạc rap, thuật ngữ punchline dùng để mô tả những lời rap mang tính châm biếm, có sức sát thương đối với thể loại rap battle.

Bạn đang xem bài viết Có Một Tượng Đài Thơ… trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!