Xem Nhiều 12/2022 #️ Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023 # Top 19 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Khi mặt trời khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Và chúng tôi thứ quả ngọt trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ? (Nguyễn Khoa Điềm) Câu hỏi:

Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ?

Nêu nội dung chính của bài thơ?( trả lời trong khoảng 5-7 dòng)

Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ở hai câu thơ:

“Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ?”

Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về hai câu thơ:

ĐÁP ÁN

Phương thức biểu cảm.

Nội dung chính của bài thơ: Bằng sự trải nghiệm cuộc sống, với một tâm hồn giàu duy tư trăn trở trước lẽ đời, Nguyễn Khoa Điềm đã thức nhận được mẹ là hiện thân của sự vun trồng bồi đắp để con là một thứ quả ngọt ngào, giọt mồ hôi mẹ nhỏ xuống như một thứ suối nguồn bồi đắp để những mùa quả thêm ngọt thơm. Quả không còn là một thứ quả bình thường mà là “quả” của sự thành công, là kết quả của suối nguồn nuôi dưỡng. Những câu thơ trên không chỉ ngợi ca công lao to lớn của mẹ, của thế hệ đi trước với thế hệ sau này mà còn lay thức tâm hồn con người về ý thức trách nhiệm, sự đền đáp công ơn sinh thành của mỗi con người chúng ta với mẹ.

– Nghệ thuật hoán dụ: Bàn tay mẹ mỏi: chỉ sự già nua và sự ra đi của mẹ.

Nghệ thuật ẩn dụ quả xanh non, chỉ sự dại dột hay chưa trưởng thành của người con, câu hỏi tu từ: Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?

Tác dụng: Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của người con chưa làm thỏa được niềm vui của mẹ.

Có thể nói đây là những câu thơ tài hoa nhất trong bài, khắc sâu sự hy sinh thầm lặng của mẹ và lòng biết ơn vô bờ của người con về công dưỡng dục sinh thành của mẹ hiền. Hình ảnh “chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn” là kiểu hình ảnh so sánh, ví von dáng bầu bí như giọt mồ hôi mặn của mẹ. Đó là hình tượng giọt mồ hôi nhọc nhằn, kết tụ những vất vả hi sinh của mẹ. Câu thơ “Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” gợi lên dáng vẻ âm thầm trong vất vả nhọc nhằn của mẹ để vun xới những mùa quả tốt tươi.

Chuyên Đề Tây Tiến (Quang Dũng) Và Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023

Quang Dũng đã xây dựng thành công tượng đài người lính Tây Tiến vừa bi tráng vừa lãng mạn, vừa hào hùng vừa hào hoa trên nền bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa dữ dội, hoang vu, hiểm trở vừa êm đềm, thơ mộng, trữ tình như thế nào?

Vì sao Tây Tiến được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp nhưng lại có một “số phận” long đong đến như vậy?

*KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Chuyên đề : Tây Tiến(QD) *Y£U CÇU Quang Dũng đã xây dựng thành công tượng đài người lính Tây Tiến vừa bi tráng vừa lãng mạn, vừa hào hùng vừa hào hoa trên nền bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa dữ dội, hoang vu, hiểm trở vừa êm đềm, thơ mộng, trữ tình như thế nào? Vì sao Tây Tiến được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp nhưng lại có một "số phận" long đong đến như vậy? *KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Vài nét về tác giả, tác phẩm b. Tác phẩm + Hoàn cảnh ra đời: - Đoàn binh Tây Tiến: · Thời gian thành lập: đầu năm 1947 · Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp ở Thượng Lào và miền tây Nam Bộ của Việt Nam. · Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách hào hoa, lãng mạn. · Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52. - Cuối năm 1948: Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Tại Phù Lưu Chanh, tác giả viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. + Nhan đề: - Ý nghĩa: § Làm nổi rõ hình tượng trung tâm của tác phẩm: đoàn quân Tây Tiến. + Bố cục: Chia 4 đoạn - Đoạn 1 (từ đầu - Mai Châu mùa em thơm nếp xôi): Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội. - Đoạn 2 (tiếp - Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa): Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. - Đoạn 3 (tiếp - Sông Mã gầm lên khúc độc hành): Chân dung người lính Tây Tiến. - Đoạn 4 (còn lại): Khúc vĩ thanh (Lời thề gắn bó với đoàn quân và miền Tây) 2. Phân tích văn bản a. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội. + Hai câu đầu: Khơi mở mạch cảm xúc cho bài thơ "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi" - Cảm xúc chủ đạo: "Nhớ" - Đối tượng nỗi nhớ: · Nhớ Sông Mã, nhớ "rừng núi". Sông Mã không thuần túy là một địa danh vô hồn, là tên một dòng sông mà đã trở thành đất mẹ yêu thương, thành cả một miền nhớ đau đáu khôn khuây. > Hai câu thơ đầu khơi mở mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ. Đến các câu thơ tiếp theo, nỗi nhớ được cụ thể hóa. + Câu 3 - 4: Hình ảnh đoàn binh hành quân trong đêm "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi" Con người chứ không phải thánh thần. Có những lúc rệu rã, có những lúc hào sảng phấn chấn. Đằng sau vinh quang chiến thắng còn có cả những đau khổ hi sinh. + 4 câu tiếp: đặc tả hình sông thế núi hiểm trở nhưng cũng không kém phần thơ mộng của miền Tây trên đừờng hành quân của người lính Tây Tiến. "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thứớc xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi" - Hình ảnh "Súng ngửi trời": vừa đặc tả độ cao chót vót của dốc núi (cao đến mức khi người lính lên tới đỉnh núi thì mũi súng gần như chạm vào trời) vừa thể hiện "chất lính" tinh nghịch qua cách nói nhân hóa (ánh nhìn độc đáo trêu đùa làm giảm nỗi mệt nhọc trên con đường hành quân gian khổ) * Nhận xét: · Gợi liên tưởng tới thơ cổ: "Hình khe thế núi gần xa/ Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao" (Chinh phụ ngâm), "Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên" (Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh - Thục đạo nan của Lí Bạch) Hình ảnh người lính trên đường hành quân được tái hiện cụ thể trên nền thiên nhiên miền Tây đa dạng (vừa dữ dội hoang vu hùng vĩ vừa êm đềm ấm áp thơ mộng): có cái bi tráng của những cuộc hành quân nhọc mệt vừa có chất trẻ trung yêu đời, nghệ sĩ của tâm hồn những chàng trai tràn trề nhiệt huyết. + 8 câu tiếp: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi" - Cái hoang vu, hiểm trở của núi rừng đựợc cảm nhận theo chiều thời gian: · Thời gian: chiều chiều, đêm đêm · Âm thanh: "thác gầm thét", hình ảnh: "cọp trêu người" - Kết thúc đột ngột bằng 2 câu: "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi" · Sau chặng đường hành quân vất vả, người lính dừng chân quay quần bên nồi xôi nếp đang bốc khói. . . b. Đoạn 2 (tiếp - Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa): Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. + Khái quát: Tráng qua lớp men say của hoài niệm, hình ảnh thiên nhiên và con người miền Tây hiện ra với vẻ đẹp thơ mộng, mĩ lệ, trữ tình. + Đêm liên hoan văn nghệ: "Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ" - Nhân vật trung tâm: "em" với xiêm áo lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ) vừa e thẹn, tình tứ (e ấp) vừa duyên dáng trong điệu vu làm đắm say lòng người (man điệu). - "Kìa em": cái nhìn vừa ngạc nhiên vừa mê say ngây ngất. Ø Vẻ đẹp lung linh, hoang dại, trữ tình đến mê hoặc. + Cảnh sông nước miền Tây: "Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" * Nhận xét: · Thiên nhiên và con người ở đây hòa hợp trong một vẻ đẹp trữ tình, lãng mạn, thơ mộng. · Đoạn thơ thể hiện rõ chất tài hoa của hồn thơ Quang Dũng. c. Đoạn 3 (tiếp - Sông Mã gầm lên khúc độc hành): Chân dung người lính Tây Tiến. + Khái quát: vẫn tiếp tục mạch cảm hứng về người lính Tây Tiến đã được triển khai lẻ tẻ ở các đoạn trước: vừa lãng mạn vừa bi tráng. Ở 8 câu thơ này, tác giả tập trung khắc tạc một tượng đài người lính trên nền thiên nhiên miền Tây đa dạng. + Hai câu đầu: Chân dung hiện thực của người lính "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm" - Vừa bi: "không mọc tóc": vừa để tiện lợi trong việc đánh giáp lá cà, vừa phản ảnh một thực tế - bị rụng tóc vì sốt rét, "quân xanh màu lá": nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét bệnh tật hành hạ. (Liên hệ: "Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi" - trong Đồng chí của Chính Hữu, "Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ" - trong Cá nước của Tố Hữu). - Vừa hùng: Tác giả không né tránh hiện thực tàn khốc của chiến tranh đã lưu dấu trên hình dung người lính nhưng qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn: + Hai câu tiếp: Giấc mộng lãng mạn của người lính Mắt trừng gửi mộng qua biên ... n triết tự về Đất Nước - Cảm xúc thơ phát triển: từ cụ thể đến khái quát, từ tình cảm riêng tư, cá nhân đến tình cảm dân tộc lớn lao; bề mặt các sự kiện có vẻ tản mạn nhưng bề sâu nhất quán rung cảm về đất nước trong không gian địa lí, chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá. > Tuỳ bút bằng thơ với sự cảm nhận mang tính chất toàn vẹn, sâu sắc. + Ý thức của thế hệ trẻ: Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng * Trong mỗi con người, đều có một phần đất nước. * Sự thống nhất của đất nước bắt nguồn từ sự gắn bó của mỗi cá nhân (Khi hai đứa cầm tay/ Đất nước hài hoà nồng thắm) và sự gắn bó cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người/ Đất Nước vẹn tròn, to lớn) Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời * Nhận thức: Phải biết: gắn bó, san sẻ, hoá thân§ * Khái quát những điều có ý nghĩa sâu sắc: Mỗi cá nhân vô danh góp phần làm nên Đất Nước bất tử.§ Tiểu kết phần 1:Ø + Những khám phá riêng, mới mẻ về Đất Nước: hình thành trên nền tảng văn hoá truyền thống, qua chiều dài lịch sử và chiều rộng của không gian; đồng thời thể hiện nhận thức sâu sắc mối quan hệ và trách nhiệm của cá nhân với Đất Nước. + Phần 2 tiếp nối mạch thơ phần 1, minh chứng sự hoá thân của những cá nhân vô danh làm nên "dáng hình sứ xở" và đi đến khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại. d. Phần 2: Tư tưởng Đất Nước của nhân dân Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau còn góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta + Điểm tên: - Những người vô danh có công với dân, với nước (công khai đất mở đường) > Nhận xét: + Nhận thức Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và đã chết Giản dị và bình thản Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì đánh ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại + Khái quát: Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Xác định chủ nhân của Đất Nước: Nhân Dân.Ø Tiểu kết phần 2:Ø + Phân tích, khái quát, triển khai, chứng minh Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, của ca dao thần thoại. + Vận dụng tinh tế chất liệu văn hoá dân gian. + Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như một chuyện kể của lứa đôi. CỦNG CỐ KIẾN THỨC Đề 1 : Bình giảng đoạn thơ: a. "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa" mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó b. Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau còn góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta Đề 2: Phân tích những cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước. Đề 3: Phân tích tư tưởng Đất Nước này là Đất Nước của Nhân Dân trong đoạn trích Đất Nước. Đề 4: Phân tích những nét độc đáo trong nghệ thuật biểu hiện của đoạn trích Đất Nước. Đề 5: So sánh Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm và Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Gợi ý giải đề: Đề 1: + Đoạn a - Khái quát: * Khái quát vị trí, giá trị bài thơ. * Khái quát vị trí, giá trị đoạn trích. - Bình giảng: * Hình thức trữ tình Mô tả§ Ý nghĩa§ * Khám phá mới mẻ về Đất Nước * Đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng các chất liệu văn hoá, văn học dân gian. - Đánh giá. + Đoạn b - Khái quát: * Khái quát về đoạn trích. - Bình giảng: * Lí giải không khí lịch sử tác động đến tác giả. * Cách khám phá, tiếp cận riêng * Mạch cảm xúc (văn cảnh đoạn thơ) * Giá trị nổi bật: Nghệ thuật sử dụng từ địa danh§ Nghệ thuật sử dụng chất liệu văn hoá dân gian§ Điệp từ: những§ - Đánh giá Đề 2: + Bản chất đề: Phân tích phần 1 của bài thơ. + Lưu ý: phân tích, làm nổi bật những nét mới trong cảm nhận Đất Nước qua thao tác so sánh. Đề 3: + Bản chất: phân tích phần 2 của bài thơ. - Bối cảnh thời đại. - Manh nha trong truyền thống tư tưởng phương Đông (cổ đại) và Việt Nam (trung đại) Đề 4: Làm rõ 3 đặc sắc nghệ thuật nổi bật: - Vận dụng sáng tạo chất liệu văn hoá, văn học dân gian. - Tư duy nghệ thuật hiện đại: mượn những nghịch lí để diễn đạt logic những khám phá, tư tuởng mới mẻ của mình.(Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn...) Đề 5 (dành cho học sinh khá giỏi) + Giống: - Đề tài - Thể hiện tình yêu đất ngước sâu sắc, mãnh liệt - Tác phẩm có vị trí tiêu biểu trong sáng tác hai nhà thơ. + Khác: Tiêu chí Đất Nước - Nguyễn Đình Thi Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm Vị trí văn học sử Tác phẩm tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến chống Pháp Tác phẩm tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến chống Mĩ Chất liệu tạo hình ảnh Chủ yếu tạo bởi các quan sát, ấn tượng trực tiếp Vận dụng sáng tạo thi liệu văn hóa, văn học dân gian. Hình tượng Nhân dân mang tính chất biểu trưng, biểu tượng. Nhân dân vô danh trong suốt 4000 năm.

Lời Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023

Khi ta lớn Đất Nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.Tóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngĐất Nước có từ ngày đó..Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmĐất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”Thời gian đằng đẵngKhông gian mênh môngĐất Nước là nơi dân mình đoàn tụĐất là nơi Chim vềNước là nơi Rồng ởLạc Long Quân và Âu CơĐẻ ra đồng bào ta trong bọc trứngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauHằng năm ăn đâu làm đâuCũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ TổTrong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất NướcKhi hai đứa cầm tayĐất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắmKhi chúng ra cầm tay mọi ngườiĐất Nước vẹn tròn, to lớnMai này con ta lớn lênCon sẽ mang Đất Nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngEm ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đời..Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non NghiênCon cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông taEm ơi emHãy nhìn rất xaVào 4.000 năm Đất NướcNăm tháng nào cũng người người lớp lớpCon gái, con trai bằng tuổi chúng taCần cù làm lụngKhi có giặc người con trai ra trậnNgười con gái trở về nuôi cái cùng conNgày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánhNhiều người đã trở thành anh hùngNhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏNhưng em biết khôngCó biết bao người con gái, con traiTrong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổiHọ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất NướcHọ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồngHọ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúiHọ truyền giọng điệu mình cho con tập nóiHọ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dânHọ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái tráiCó ngoại xâm thì chống ngoại xâmCó nội thù thì vùng lên đánh bạiĐể Đất Nước là Đất Nước nhân dânĐất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết “yêu em từ thở trong nôi”Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâuÔi những dòng sông bắt nước từ đâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôiNgười dạy ta nghèo ăn cháo ăn rauBiết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡiCái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổiChén rượu đánh lừa con mỏi, cơn đauCon nộm nag tre đánh lừa cái chếtĐánh lừa cái rét là ăn miếng trầuĐánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng QuỳnhNhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minhKhông hề lừa ta dù cao dao, cổ tíchTa lớn lên bằng niềm tin rất thậtBiết bao nhiêu hạnh phúc có trên đờiDẫu phải cay đắng dập vùiRằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậuCây khế chua có đại bàng đến đậuChim ăn rồi trả ngon ngọt cho taĐất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaKhi ta đến gõ lên từng cánh cửaThì tin yêu ngay thẳng đón ta vàoTa nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơíEm nghe không trái thị đã rơi xuống tay ngườiTrai không chỉ rơi vì sức hút đất đaiTrái rơi vì tay người ao ướcKhi trái chạm tay người và người ấm ủThì lừng hương và cô Tấm bước raĐi trả thù và sống Tự doKhông rơi xuống bùn, ôi trái thị quê taĐể bùn lấm và thành bùn vạn kiếpRơi vào tay người, đó là định luậtCủa đấu tranh và nhân nghĩa Việt NamTuổi trẻ ơi trong sương gió tháng nămTa đã lớn rồi, chín đầy hy vọngHãy ngã xuống tay nhân dân, hỡi sắc vàng của nắngHỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi..Hãy ngã vào tay nhân dân, đừng vãi đừng rơiĐừng do dự, đừng hoài nghi nữaHãy yêu nhân dân và nghe người nhắn nhủHãy tìm sức mạnh trên cơ thể nhân dânNhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùngThế vô tận của nghìn năm giết giặcLửa đã cháy hồng hào mặt đấtMùa chín tình yêu, mùa chín hận thùKhông bao giờ xương máu phải bơ vơÔi sông núi uy nghi ngàn dặm đấtCó nghe tiếng chúng con: Xin có mặtNguyện làm người xung kích của quê hươngĐấy tiếng hát chúng con: tiếng hát xuống đường!

Đọc Trường Ca “Mặt Đường Khát Vọng” Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm / 2023

Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương; sinh 15/4/1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam.

Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Ông là cựu sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Nguyễn Khoa Điềm sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng). Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân. Sau đó, ông vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ,… cho đến năm 1975.

Nguyễn Khoa Điềm từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, ông được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động. Vào thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ.

Nguyễn Khoa Điềm trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975. Sau 1975, ông tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế.

Ông có mặt trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Năm 1994 Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin. Năm 1995, ông được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V.

Năm 1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nguyễn Khoa Điềm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X và từ tháng 11 năm 1996 là Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin.

Năm 2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, Nguyễn Khoa Điềm trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001-2006).

Đã xuất bản

Cửa thép (ký, 1972)

Đất ngoại ô (tập thơ, 1973)

Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974) 9 chương

Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (tập thơ, 1986)

Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990)

Cõi lặng (tập thơ, 2007)

Giải thưởng

Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (giải B) với tập thơ “Cõi lặng” năm 2010

Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật./.

Bạn đang xem bài viết Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm) / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!