Xem Nhiều 2/2023 #️ Đề Liên Hệ Tác Phẩm Tuyên Ngôn Độc Lập Và Chiều Tối # Top 11 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đề Liên Hệ Tác Phẩm Tuyên Ngôn Độc Lập Và Chiều Tối # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Liên Hệ Tác Phẩm Tuyên Ngôn Độc Lập Và Chiều Tối mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề 1: Phân tích hệ thống lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh (SGK Ngữ văn 12, tập 1). Từ đó liên hệ với bài thơ Chiều tối (SGK Ngữ văn 11, tập 2) để thấy được sự thống nhất và đa dạng trong quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh.

Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

Ngày 19-8-1945, chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23-8 tại Huế, trước mười lăm vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.Ngày 25-7, hơn tám mươi vạn đồng bào Sài Gòn, Chợ Lớn, quật khởi đứng lên giành chính quyền.Chỉ không đầy mười ngày, Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ. Chế độ thực dân kéo dài 80 năm cùng với chế độ phong kiến hàng ngàn năm sụp đổ tan tành. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên mới Độc lập, Tự do. Hà Nội tưng bừng màu đỏ, cả một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa. Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Hồ Chủ tịch dùng lại và bỗng dung hỏi: Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? Tức thì một tiếng có của một triệu con người cùng đáp, vang dậy như sấm. Việt Nam độc lập muôn năm! – Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một, vang dội núi sông, khi Hồ Chủ tịch vừa kết thúc bản Tuyên ngôn: Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ quyền tự do và độc lập ấy.Có thể nói bản Tuyên ngôn Độc lập thể hiện một cách hùng hồn khát vọng, ý chí vàsức mạnh Việt Nam. Nó có một giá trị lịch sử vô cùng to lớn.Nó phản ánh môt cách tậptrung nhất, tiêu biểu nhất phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh.

Sinh thời Hồ Chí Minh không tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ nhưng người đã để lại một sự nghiệp văn chương rất đồ sộ, có tầm vóc về tư tưởng, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách nghệ thuật. Bên cạnh những áng văn chính luận trí tuệ sắc sảo mà tiêu biểu là Tuyên ngôn độc lập còn là những bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách đẹp của gười chiến sĩ cách mạng. Bài thơ Chiều tối là bức tranh chân dung tự họa của Hồ Chí Minh trong thử thách nặng nề của chốn lao tù. Cả hai tác phẩm đều thể hiện thống nhất và đa dạng phong cách nghệ thuật và quan niệm sáng tác của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại,phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng.Nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội.Văn thơ phải có chất thép, có xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, có cảm hứng đấu tranh xã hội tích cực, trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng. Người quan niệm thơ văn phải có tính chiến dấu, có chất “thép”, là vũ khí cách mạng sắc bén; văn nghệ sĩ phải là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa, nghệ thuật. Nếu cổ nhân quan niệm: “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”, thì Hồ Chí Minh bổ sung: Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Đối tượng của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nói với nhân dân Việt Nam mà còn để nói với thế giới, đặc biệt là để nói với bọn đế quốc, thực dân đang âm mưu tái chiến Việt Nam. Mọi lí lẽ, luận cứ đều tập trung hướng về những đối tượng ấy và khẳng định quyền độc lập, tự do của nhân dân ta. Những luận cứ được Hồ Chủ tịch nêu lên trong bản Tuyên ngôn Độc lập là những bằng chứng không thể chối cãi được. Chỉ một lời vạch tội, một mũi tên mà bắn trúng hai đích: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Đó là chính sách đàn áp khủng bố và ngu dân của thực dân Pháp. Còn bài thơ Chiều tối, người đọc thấy được từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều vận động một cách rất tự nhiên, nhất quán, hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai. Ta thấy được một tâm hồn lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào Cách mạng, vào một tương lai tươi sáng, bài thơ Chiều tối cũng không nằm ngoài quy luật đó: Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng. Câu thơ kết thức bằng ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Có thể nói , chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng chói rọi ngược trở lại làm sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời. Những hình ảnh đối lập giữa niềm vui và nỗi cô đơn, buồn bã, giữa chiều tối và bình minh, mặt trời hồng đã thể hiện một phong cách thơ Hồ Chí Minh dầy tinh tế và nhạy cảm, một sứ kết hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại. Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện một cách cao đẹp và sáng tỏ phong cách chính luận của Hồ Chí Minh. Bác viết văn làm thơ là để phục vụ cách mạng. Trước lúc cầm bút, Người tự hỏi: Viết nhằm mục đích gì? Viết cho ai?Viết về vấn đề gì? Viết như thế nào?. Lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với thực dân Pháp đang âmmưu tái chiếm Việt Nam một lần nữa, đồng thời kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta đã thể hiện một cách hùng hồn lời tuyên bố mạnh mẽ ấy. Đó là khát vọng, là ý chí sắt đá về độc lập tự do của dân tộc ta, của nhân dân ta. Một lần nữa, Người lại Tuyên bố: Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ! (Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến – 19.12.1946). Bài thơ Chiều tối và tập thơ Nhật kí trong tù nói chung là tiếng nói tâm hồn dành riêng cho mình, ở đó chúng ta thấy bức chân dung tự họa của Người. Đó là một con người có nghị lực phi thường; tâm hồn khát khao tự do, hướng về Tổ quốc; vừa nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên, dễ động lòng trắc ẩn trước nỗi đau của con người. Bác nâng niu, trân trọng biểu hiện của sự sống, tinh hoa của thiên nhiên, bởi vậy, ta luôn cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng chiếm vị trí nổi bật trong thơ Bác. Thiên nhiên mở ra trước mắt người đọc với những hình ảnh quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim – chòm mây – bầu trời cùng với chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời đem lại cảm nhân về một không gian giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn. Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một mỗi buồn trong cảnh, và ngay trong cách nhìn cảnh ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đã thực sự hài hòa với thiên nhiên. Một cách rất tự nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và một chòm mây cô đơn lặng lẽ trôi, nhìn cảnh như thế, dường như Bác đã xóa nhòa đi cái ranh giới giữa người tù và du khách tự do, để tâm hồn mình gắn liền với thiên nhiên, dễ dàng hòa nhập, quyến luyến. Không chỉ thiên nhiên mà cho dù là hoàn cảnh nào Bác cũng không quên nghĩ đến con người. Cô thiếu nữ mải miết xay ngô, ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng hòa với khung cảnh lao động bình dị ấy, như đang reo vui cùng với âm thanh than hồng cháy tí tách. Hai câu thơ sau còn thể hiện được cảm nhận tinh tế của Bác trước hành động của con người trong không gian chiều tối. Không giống như trong thơ cổ, con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật mà lại đem sức sống truyền vào thiên nhiên, khiến khung cảnh chiều tối vốn man mác buồn lại bỗng tràn ngập sinh khí, sự ấm cúng cùng với nhịp sống, lao động của con người. Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người là Người lại tìm thấy được niềm vui. Bài thơ không khép lại cảm giác về bóng đêm đang dần xuống mà lại chan hòa ánh sáng, ánh sáng tạo nên cuộc sống đời thường giản dị, thân thuộc. Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người hiện lên ở trung tâm của bức tranh đã tỏa hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn tắt của cảnh chiều tối nơi núi rừng, khiến người tù cũng thoát khỏi xiềng xích mà quyện mình với cuộc sống hạnh phúc của con người nơi xóm núi nhỏ. Đan xen giữa những câu thơ như một mạch cảm xúc ngầm chính là khát vọng thầm kín và đầy tính nhân văn của Bác. Người tù Cách mạng dù kiên cường, dũng cảm đến đâu cũng luôn mơ ước, khát khao về một tổ ấm, quanh quần bên bếp lửa gia đìn. Hình ảnh cánh chim về rừng như đang tìm về tổ ấm của mình, cô thôn nữ xay ngô bên lò than rực hồng, tất cả làm hiện lên khung cảnh bình dị mà ấm cúng nơi quê hường, nơi mái nhà sum vầy, đoàn tụ. Nghĩ về những hình ảnh đời thường, yên bình ấy, ta có thể thấy được chất “người” vô cùng nhân bản trong Bác. Văn chương Hồ Chí Minh đều thống nhất ở lối viết ngắn gọn, hàm súc, đầy thuyết phục. Chỉ một câu chín từ mà nêu bật một cục diện chính trị: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Cách dùng từ ngữ của Bác rất chính xác, gợi cảm.Văn chính luận, bản chất của nó là lí lẽ và cách lập luận. Thế nhưng, có lúc xuất hiện những hình ảnh cực kì xúc động: Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Cách dùng từ ngữ, nhất là động từ, trạng ngữ vừa chính xác vừa đanh thép: thẳng tay chém giết…, thoát li hẳn…, xóa bỏ hết…, xóa bỏ tất cả…. Văn phong của Bác rất nhuần nhị, uyển chuyển trong cách sử dụng điệp từ điệp ngữ, cấu trúc cân xứng, trùng điệp, tăng cấp… tạo nên những câu văn đẹp, ý tưởng sâu sắc, đầy ấn tượng: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Bài thơ Chiều tối giống như bao bài thơ khác, thật nhỏ nhắn trong bố cục nhưng từng câu từng chữ đều như một nét phác họa bức chân dung con người, tinh thần Hồ Chí Minh: một tâm hồn nghệ sĩ dạt dào tình yêu với thiên nhiên, con người; một ý chí sắt đá vượt lên mọi hoàn cảnh, một tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Bức chân dung ấy là sự hòa hợp giữa chất thép và chất tình, thi sĩ và chiến sĩ, như trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Chiều tối, Dạng đề liên hệ tác phẩm 12-11, đề thi thử THPT quốc gia ngữ văn, Tuyên ngôn độc lập

Mở Bài Và Kết Bài Cho Bài Thơ Chiều Tối

Chiều Tối ( Mộ), trích Nhật Kí trong tù- Hồ Chí Minh Mở bài. Hồ Chí Minh được nhân loại biết đến không chỉ là một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, mà còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Ngoài văn chính luận người còn để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca đáng trân trọng, trong đó nổi bật nhất là nhật ký trong tù. Đây được xem như một cuốn nhật ký bằng thơ ghi lại những chặng đường chuyển lao đầy vất vả của người tù, nhưng bằng bản lĩnh thép, tinh thần thép, người đã vượt qua hoàn cảnh tù đầy để hướng về cuộc sống. Bài thơ Chiều tối là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của Tập thơ Nhật Ký Trong Tù. Thân bài. Tháng 8 năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của bạn bè quốc tế về cuộc cách mạng ở Việt Nam, sau 15 ngày đi bộ khi vừa tới thị trấn Túc Vinh, tỉnh Quảng Tây người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ. Bị giam cầm suốt 14 tháng và chuyển đi, chuyển lại suốt gần 30 nhà lao ở tỉnh Quảng Tây, trong thời gian này người đã sáng tác Nhật Kí Trong Tù gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán. Chiều Tối (mộ), được xem là bài thơ tiêu biểu của tập thơ được sáng tác trên đường chuyển lao từ tỉnh Tây đến Thiên Bảo. Kết bài. Bài thơ Chiều tối đã để lại ấn tượng trong lòng độc giả về những bức tranh thiên nhiên và con người miền Sơn cước, qua những nét vẽ vừa cổ điển, vừa hiện đại. Bài thơ đã làm cho người đọc xúc động trước tình cảm nhân ái, bao la của người tù chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Dù phải sống trong hoàn cảnh tù đầy nơi đất khách quê người, nhưng Bác vẫn vượt lên trên tất cả sự khổ đau, đoạn đầy về thể xác, để đem đến cho người đọc những vần thơ tuyệt bút./.

Ôn Tập Bài Chiều Tối ( Mộ) Sgk Ngữ Văn 11

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Người không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Một trong số đó là bài thơ “Chiều tối”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Bài thơ thuộc tập thơ “Nhật kí trong tù” – viết trong khoảng thời gian người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà lao ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). “Chiều tối” là bài thứ 31 trong 134 bài của tập thơ, được gợi cảm hứng trong lần Người bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

Hai câu đầu: khung cảnh thiên nhiên núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối.“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. (“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không”.) Bằng bút pháp chấm phá trong thơ cổ, chỉ với vài nét vẽ “chim” và “mây”, Bác đã vẽ ra bức tranh núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối. Trong thơ ca cổ, hình ảnh cánh “chim” thường tượng trưng cho thời gian chiều tối: “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao) “Chim hôm thoi thót về rừng” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) Thế nên, ngay đầu bài thơ, dù không có một từ chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được không gian sắp về tối. Tuy nhiên, thi liệu cổ ấy (“chim”) đã được Bác vận dụng sáng tạo. Trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường được miêu tả qua trạng thái bên ngoài của nó (bay). Còn trong thơ Bác, Người cảm nhận sâu sắc trạng thái bên trong của nó : “chim mỏi” sau một ngày kiếm ăn vất vả. Tấm lòng thương yêu vô bờ bến của con người “chỉ biết quên mình cho hết thảy” đã đồng cảm với cánh chim mỏi mệt ấy. Bức tranh núi rừng buổi chiều muộn còn có “mây”. Đây cũng là thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” ( Thu điếu – Nguyễn Khuyến) “Cô vân độc khứ nhàn” (Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình – Thơ Lí Bạch) Nếu như hình ảnh đám mây trong thơ ca xưa thường gợi ra sự nhàn tản, thoát tục của một nhà nho tìm về với chốn làng quê ẩn dật thì trong thơ Bác, nó là hình ảnh của hiện thực. Trên đường chuyển lao, ánh mắt Bá hướng lên cao và bắt gặp đám mây trôi chầm chậm, lơ lửng (“mạn mạn”) trên bầu trời. Đám mây ấy gợi ra không gian tĩnh lặng nhưng cũng thanh bình, thơ mộng của vùng rừng núi buổi chiều muộn. Những cụm từ “quyện điểu” (chim mỏi) và “cô vân” (đám mây lẻ) vừa gợi tả cảnh, vừa gợi lên tâm trạng của con người. Sau một ngày bị giải đi bộ vất vả trên đường rừng núi gập ghềnh, chân tay lại bị xiềng xích, chờ đợi phía trước lại là một nhà lao khác chật chội, bẩn thỉu; lại đang ở nơi đất khách quê người nên Bác cũng cảm thấy mệt mỏi, cô đơn. Tuy vậy, ánh mắt Bác vẫn hướng lên bầu trời, đồng cảm với cánh chim “mỏi”, thả hồn theo đám mây lẻ trôi lững lờ. Phải có một tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết và một phong thái ung dung, tự tại, vượt lên trên hoàn cảnh thì mới có thể chan hòa cùng với thiên nhiên như thế. Hai câu đầu vừa đậm màu sắc cổ điển với bút pháp chấm phá và những hình ảnh thơ cổ; vừa đậm tính hiện đại với vẻ đẹp tâm hồn của người tù – chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là “chất tình” dào dạt và chất “thép” cứng cỏi thường gặp trong thơ Người.Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống con người miền sơn cước:“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng”. (“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.) Trên con đường chuyển lao, ánh mắt người tù cộng sản nhận ra người lao động trong công việc: cô gái xóm núi xay ngô. Cũng như các nhà thơ, nhà văn xưa, tấm lòng nhân đạo của họ hướng về những con người yếu đuối: người phụ nữ có số phận bất hạnh (Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; nàng Vũ Nương trong truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ; nàng chinh phụ lẻ loi chờ chồng trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn…); Bác cũng hướng tới người phụ nữ, nhưng trong thơ Bác, đó lại là một người phụ nữ lao động bình thường, giản dị trong lao động. Đó chính là tình yêu thương của một chiến sĩ cộng sản đối với con người thuộc giai cấp vô sản, nhân dân lao động – đối tượng mà người dành cả cuộc đời mình đấu tranh vì họ. Điệp ngữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được lặp lại ở đầu câu bốn, gợi tả những vòng xoay liên tục, liên tục của cái cối xay ngô. Những vòng xoay liên tục ấy gợi ra không khí làm việc miệt mài, chăm chỉ và vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của cô gái xóm núi. Cuối bài thơ là chữ “hồng”, được xem là “nhãn tự” của bài thơ. Một chữ “hồng” gợi không gian sáng rực, gợi không khí ấm áp, tươi vui. Thế đấy, dù đang mệt mỏi, cô đơn là thế, chỉ cần nhìn thấy người lao động cần cù, chăm chỉ trong cuộc sống đời thường, tâm hồn Bác đã rực lên niềm vui, ấm áp trở lại. Không như quy luật thông thường, chiều rồi chuyển dần về tối, cuối bài thơ lại là không gian sáng rực. Cái tài tình của Bác cũng là ở chỗ này. Cả bài thơ không có một chữ “tối”, thế mà người đọc vẫn thấy thời gian đã về tối rồi. Chính cái ánh lửa đỏ rực của lò than khiến người ta nhận ra điều đó, bởi trời có tối thì nhìn từ xa mới thấy được ánh lửa đỏ rực lên. Cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động trong tư tưởng của Người: từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo cô đơn sang ấm nóng tình người. Bác là thế đấy: dạt dào tình yêu – yêu con người, yêu cuộc sống mà vẫn luôn cứng cỏi, kiên cường, luôn lạc quan, yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tương lai. Hình ảnh con người trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên và mạch thơ vận động hướng về sự sống, về ánh sáng ấy khiến hai câu sau đậm tính hiện đại. Cả bài thơ chỉ với hai mươi tám chữ mà chứa đựng biết bao nhiêu cảm xúc, ý nghĩa. Người đọc không thể nào quên được một tâm hồn thi sĩ chan chứa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, yêu cuộc sống và cũng không thể nào quên được bản lĩnh “thép” của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh – dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, vượt lên trên tất cả để vui với niềm vui của người lao động, để hướng về phía ánh sáng, tương lai. Tóm lại, “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù”. Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại làm bài thơ vừa có dáng dấp của một bài thơ tứ tuyệt cổ kính vừa mang đậm tinh thần thời đại. Bài thơ vẽ ra bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người miền sơn cước mà Bác thấy trên đường chuyển lao, từ đó người đọc thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống; tinh thần lạc quan yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tin tưởng vào tương lai của thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho “những vần thơ thép” mà vẫn “mênh mông bát ngát tình” của Bác. Nghệ thuật cả bài thơ: Với hệ thống từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn…bài thơ bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống.

LUYỆN TẬP BÀI CHIỀU TỐI

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh. Đề 2: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh.

Bài viết sưu tầm.

Tuyên Ngôn Của Tố Hữu Về Lẽ Sống Qua Bài ” Từ Ấy “

Tuyên ngôn của Tố Hữu về lẽ sống qua bài ” Từ ấy “

NLXH: Đồng cảm và chia sẻ trong xã hội hiện nay

Đề bài: Bài thơ ” Từ ấy” có thể coi là tuyên ngôn của Tố Hữu về lẽ sống đích thực khi bắt gặp lí tưởng cách mạng. Hãy phân tích bài thơ để làm rõ điều đó.

Hướng dẫn soạn bài:

Dàn ý MB

– Giới thiệu tác giả Tố Hữu

+ Tố Hữu trước khi tham gia cách mạng là nhà thơ theo khuynh hướng lãng mạn, đắm say trong những vần thơ tình yêu.

+ Khi bắt gặp lí tưởng cách mạng, ngòi bút của thi sĩ đã chuyển hướng sang thơ trữ tình chính trị, dùng thơ ca thể hiện những bước chuyển mình của lịch sử dân tộc.

– Giới thiệu tác phẩm và chỉ ra luận đề “bài thơ được coi là tuyên ngôn về lẽ sống đích thực của nhà thơ”.

+ “Từ ấy” là bài thơ đánh dấu sự chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng của người thanh niên này. Vì thế, bài thơ có thể coi là tuyên ngôn về lẽ sống đích thực của nhà thơ.

TB

Khổ 1: Niềm vui sướng say mê khi bắt gặp lí tưởng cách mạng

– Hai câu đầu: Viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm đặc biệt của đời mình là được giác ngộ lí tưởng cộng sản. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ như “bừng nắng hạ”, “mặt trời chân lí”, “chói qua tim” để diễn tả sức mạnh kì diệu của lí tưởng cộng sản. Lí tưởng như nguồn sáng mặt trời chiếu rọi tâm hồn chàng thanh niên, khiến tâm hồn chàng được sưởi ấm và thức tỉnh.

– Hai câu sau: tác giả sử sụng bút pháp trữ tình lãng mạn với hình ảnh so sánh “hồn tôi như một vườn hoa lá” để diễn tả niềm vui sướng vô hạn của mình khi bắt gặp lí tưởng cộng sản. Đó là vườn cây tươi xanh với hương thơm, trái ngọt và tiếng chim ca.

Khổ 2: Những nhận thức mới mẻ về lẽ sống

– Hai câu đầu: Đi từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người, từ giả lối sống tiểu tư sản, Tố Hữu đã hòa cái Tôi vào với cái Ta. Ông khẳng định lẽ sống mới của mình một cách chắc chắn bằng động tưd “buộc”. Đó là sự tự nguyện và quyết tâm hòa nhập với quần chúng của nhà thơ (“trăm nơi” chỉ đồng bào ở khắp nơi, “trang trải” gợi ấn tượng về tình cảm rộng rãi không phân biệt địa vị, tuổi tác).

– Hai câu sau:Tình yêu thương của Tố Hữu không phải là tình yêu thương chung mà là tình hữu ái giai cấp. Nhà thơ khẳng định trong khi quan tâm đến con người, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ông muốn cùng nắm tay những người lao khổ ấy, “gần gũi” nhau để tạo nên sức mạnh bách chiến, bách thắng.

Khổ 3: Sự hòa mình say mê vào cuộc sống mới. Cuộc sống và chiến đấu mới rất gian khổ nhưng dường như làm cho Tố Hữu say mê.

– Ông khẳng định “tôi đã” nghĩa là cảm thấy mình gắn bó với cuộc sống mới và không còn muốn thay đổi nữa.

– Điệp cấu trúc “là con của vạn nhà”, “là em của vạn kiếp phôi pha”, “là anh của vạn đầu em nhỏ” càng khẳng định sự gắn bó mật thiết, tình cảm sâu nặng của nhà thơ với những người lao khổ. Đó là tình cảm ruột thịt gắn bó chứ không đơn thuần là tình cảm bạn bè, đồng chí nữa.

KB

– Bài thơ đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhà thơ Tố Hữu.

– Bài thơ với giọng điệu tha thiết, say mê đã thể hiện niềm vui sướng vô bờ, hạnh phúc được làm người cộng sản, được hòa nhập vận mệnh cá nhân với vận mệnh dân tộc của nhà thơ.

Bạn đang xem bài viết Đề Liên Hệ Tác Phẩm Tuyên Ngôn Độc Lập Và Chiều Tối trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!