Xem Nhiều 2/2023 #️ Đến Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc (Nguyễn Quảng Tuân) # Top 9 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đến Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc (Nguyễn Quảng Tuân) # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đến Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc (Nguyễn Quảng Tuân) mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ĐẾN HÀN SAN TỰ ĐỂ TÌM HIỂU BÀI THƠ PHONG KIỀU DẠ BẠC CỦA TRƯƠNG KẾ

* Nguyễn Quảng Tuân

Ngôi chùa này được xây dựng từ thời Nam triều (đầu thế kỷ VI) và đã được đặt tên là Diệu Lợi. Về sau chùa được gọi là Phong Kiều tự vì ở gần cầu Phong Kiều. Đến đời nhà Đường vì có hai Thiền sư là Hàn San và Thập Đắc đến trụ trì ở đó nên chùa được đổi tên là Hàn San tự. Sang đời nhà Tống, chùa có xây thêm tháp bảy tầng, được vua Tống Nhân Tông ban cho tên gọi là Phổ Minh thiền viện. Chùa từ thời đó đến nay đã trải qua nhiều lần trùng tu nên không còn giữ được kiến trúc ban đầu nữa. Gần đây, năm 1996, chùa cho xây lại ngọn tháp năm tầng thay cho ngọn tháp bảy tầng đã bị hư hỏng.

Chùa Hàn San so với các ngôi chùa khác ở Tô Châu hoặc ở Trung Quốc thì không có gì đáng kể về mặt kiến trúc, nhưng lại rất nổi tiếng nhờ có bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế(1).

Nguyên văn bài thơ ấy được truyền tụng như sau:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

và đã được khắc vào bia để ở trong chùa.

Bài thơ chỉ có bốn câu gồm 28 chữ nhưng đã gây ra khá nhiều vấn đề tranh luận(2).

Câu 1: Có người cho rằng “Ô Đề” là tên núi hoặc tên một thôn, nên câu này phải đọc như sau:

Nguyệt / lạc Ô Đề sương mãn thiên và phải hiểu là: “Trăng lặn ở núi Ô Đề (hoặc thôn Ô Đề), trời đầy sương”.

“Ô Đề” như vậy không còn là tiếng quạ kêu mà đã trở thành một tên núi, một tên đất vì người ta cho rằng ban đêm không làm gì có tiếng quạ kêu.

Nhưng cách hiểu này đã không được các nhà nghiên cứu Đường thi nghe theo, vì các con quạ vẫn có thể bất thường kêu về ban đêm.

Trong văn thơ Trung Quốc, Lý Bạch đã có bài Ô dạ đề và Kim Thị trong bài Tự thuật cũng đã có câu:

Không phòng dạ dạ văn đề ô.

(Đêm đêm nghe thấy quạ kêu ở ngoài phòng vắng)

Trong thơ văn Việt Nam, Quách Tấn cũng có bài Đêm thu nghe quạ kêu và ông đã kể rõ trong hoàn cảnh nào ông đã thai nghén ra bài thơ ấy.

“Đó là vào một buổi tối cuối thu Đinh Mão (1927), trăng mờ mờ, từ bến đò An Thái, ven bờ sông Côn trở về nhà, qua một khúc đường vắng, tôi đã nghe thấy một bầy quạ thình lình kêu vừa rùng rợn, vừa lạnh lùng…”

Do tiếng kêu ấy mà ông đã liên tưởng đến bến Phong Kiều trong bài thơ của Trương Kế và đã viết:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng.

Như vậy nếu quạ kêu (ô đề) về ban đêm thì cũng là chuyện có thể xảy ra, tuy bất thường(3).

Nhưng nếu nói trăng lặn ở núi Ô Đề hay ở thôn Ô Đề thì núi ấy hay thôn ấy phải ở tận phía chân trời, rất xa chỗ thuyền đậu, chứ không thể ở gần ngay bến Phong Kiều được.

Do đó cách đọc Nguyệt / lạc Ô Đề sương mãn thiên rõ ràng là không hợp lý nên các quyển Đường thi và Thiên gia thi chú giải không có bản nào đã giảng theo như vậy cả.

Câu 2: Câu thứ 2 cũng bị đặt thành vấn đề.

Nguyên do vào đời Thanh có Mao Tiên Thư cho rằng:

“Ở Tô Châu, đối diện với chùa Hàn San có núi Sầu Miên, nên câu Giang phong ngư hỏa đối sầu miên không thể hiểu là cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài lấp lánh trước mặt khách (tác giả) đã làm cho khách xa nhà nhớ quê không sao ngủ được”.

Ý kiến này đã bị Trương Duy Minh, tác giả quyển Hàn San tự(4), bác bỏ vì cho rằng bài thơ có bốn câu, ba câu đã tả cảnh rồi thì câu thứ 2 Giang phong ngư hỏa đối sầu miên phải là câu tả tình mới đúng.

Điều này cũng hợp lý. Chính vì lẽ ấy mà tất cả các quyển Đường thi chú giải và Thiên gia thi chú giải đều giảng “ sầu miên là ưu sầu bất khả thành miên”.

Chỉ có quyển Hội đồ Thiên gia thi của Chung Bá Kính chú giải(5) đã giảng “sầu miên” là tên núi như Mao Tiên Thư.

Chúng tôi xin phiên âm nguyên văn lời chú thích như sau:

Giang Phong thị danh, Sầu Miên sơn danh, ngư hỏa thuyền thượng hỏa. Cô Tô thành tức Tô Châu thành, Hàn San tự hữu Phật danh Hàn San, nguyệt lạc ô đề dạ thâm chi thời dã. Tư thời sương lạc mãn thiên. Giang Phong thị chi ngư hỏa điểm điểm dữ, Sầu Miên sơn tương đối như thành ngoại tự chung dạ bán thanh văn vu khách thuyền thi thượng giang trung; dạ cảnh cái như thử” và xin dịch là:

“ Giang Phong tên phố chợ, Sầu Miên tên núi, ngư hỏa là ánh đèn trên thuyền chài, Cô Tô thành tức là thành Tô Châu, Hàn San tự có tượng Phật tên là Hàn San, nguyệt lạc ô đề chỉ đêm đã khuya rồi. Lúc ấy sương xuống đầy trời, các ánh đèn chài trước phố chợ Giang Phong lấp lánh đối diện với ngọn núi Sầu Miên mà trong khi ấy ở ngoài thành Tô Châu tiếng chuông chùa Hàn San ngân vọng tới tận thuyền khách đậu bên bến Phong Kiều. Cảnh đêm là như vậy”.

Chúng tôi cho rằng Chung Bá Kính cũng chưa có dịp về tới chùa Hàn San nên mới chú thích sai như vậy. Sự thực thì ở bên chùa Hàn San chỉ có con đường phố chợ tên là “Phong Kiều” (nay là đại lộ Phong Kiều) và trong chùa chỉ có điện thờ hai vị sư tên là Hàn San và Thập Đắc (Hàn Thập điện. “Hàn San”(6) không phải là tên một vị Phật và “Sầu Miên” cũng không phải là tên một ngọn núi.

Khi chúng tôi về tận chùa Hàn San, đứng ở bến Phong Kiều bên Đại Vận hà nhìn quanh bốn phía thì đều không thấy ngọn núi nào, chỉ thấy “nói” ở tận xa, “xa không nhìn thấy được”, có núi Linh Nham sơn, Thiên Bình sơn, Thiên Địa sơn, Sư Tử sơn, Hoành sơn, Hà sơn…

Thế thì Trương Kế, nằm trong khoang thuyền mà có nhìn lên ra ngoài cũng chỉ thấy có những cây phong và những ngọn đèn chài, làm sao có thể đối mặt được với ngọn núi Sầu Miên, một ngọn núi không có thực ở bên bờ sông.

Có thể vì tên chùa là Hàn San, có chữ “san” là núi nên người ta cứ nghĩ đến ngôi chùa phải ở bên núi và các họa sĩ người Trung Quốc khi minh họa bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế cũng cứ vẽ có ngọn núi như vậy.

Để minh chứng điều sai lầm ấy, chúng ta có thể xem bức ảnh chụp bến Phong Kiều có mấy chiếc thuyền đậu, chiếc cầu dẫn vào cửa Thiết Linh quan và ngọn tháp Phổ Minh ở sau chùa Hàn San.

Sự thực đã rõ ràng. Chính vì lẽ ấy mà các quyển Đường thi tam bách thủ và Thiên gia thi đều vẫn giảng câu Giang phong ngư hỏa đối sầu miên là: “Giang biên đích phong thụ hòa ngư thuyền thượng đích đăng quang, chính đối trước ngã giá cá ưu sầu bất đắc thành miên đích nhân” (Cây phong ở trên bến và ánh sáng ngọn đèn trên thuyền đối thẳng vào mặt tôi làm cho tôi ưu sầu không sao ngủ được).

Câu 3 và 4:

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Hai câu này cũng gây thắc mắc cho người đọc vì vào lúc nửa đêm làm gì có tiếng chuông chùa.

Để giải thích điểm thắc mắc này, ở Việt Nam đã có một giai thoại như sau:

“Trương Kế một đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều thấy cảnh đẹp đã xúc cảm ngâm:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

Ngâm xong Trương Kế không tìm được tứ nữa nên cứ trằn trọc mãi không ngủ được.

Cũng buổi tối hôm đó, ở ngoài thành Cô Tô, sư cụ chùa Hàn San cũng xúc cảm trăng đẹp đã ngâm rằng:

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung, Bán tự ngân câu, bán tự cung.

(Đêm nay đầu tháng trăng mờ, Nửa như móc bạc, nửa ngờ vành cung)

Nhưng rồi sư cụ cũng hết tứ và cũng cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi sư cụ sao đêm nay còn chưa ngủ được. Sư cụ bèn kể lại nỗi khổ tâm của mình thì chú tiểu xin được nối tiếp để hoàn thành bài thơ:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn, Bán trầm thủy để, bán phù không .

(Hồ xanh ai xẻ đôi vừng, Nửa chìm đáy nước, nửa lồng chân mây)

Sư cụ nghe xong khen hay và bảo chú tiểu lên chánh điện thắp hương và đánh chuông tạ ơn Phật.

Cùng lúc ấy, trong thuyền ở bến Phong Kiều, tiếng chuông cũng vọng đến. Trương Kế có được tứ liền kết thúc bài thơ của mình.

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Đấy là “giai thoại” ở các sách báo Việt Nam để giải thích cho việc đánh chuông vào lúc nửa đêm.

Ở sách báo Trung Quốc chúng tôi không thấy có giai thoại nào như thế, chỉ thấy có các ý kiến đáng chú ý như sau:

Âu Dương Tu cho rằng: “Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý hữu bất thông giả, diệc ngữ bệnh dã” (Nhà thờ vì muốn đặt câu cho hay nên lý không được thông, đó là một ngữ bệnh vậy).

Sô Nghiêu trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản thì cho rằng: “Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xung mao cầu tì” (Người đời sau lấy cớ nửa đêm không có tiếng chuông và cho là một ngữ bệnh, như thế thì chưa tránh khỏi cái thói bới lông tìm vết).

Diệp Thiếu Uyển trong Thanh lâm thi thoại lại cho rằng “Cái công vị thường chí Ngô Trung, kim Ngô Trung tự thực bán dạ đả chung” (Vì ông không thường tới Ngô Trung chứ hiện nay chùa ở Ngô Trung [Tô Châu] vào lúc nửa đêm có đánh chuông thực).

Chúng tôi cho rằng vào lúc nửa đêm ở các chùa thường không có đánh chuông, nhưng cũng có những trường hợp cúng lễ bất thường nên việc “dạ bán chung thanh” cũng không phải là vô lý.

Chính vì lẽ đó mà các nhà thơ từ đời Tống trở về sau mỗi lần qua bến Phong Kiều đều nhớ đến Trương Kế với cảnh “nguyệt lạc”, “ô đề” và “dạ bán chung thanh”.

Nhà thơ Lục Du đời Tống trong bài Túc Phong Kiều đã viết:

Thất niên bất đáo Phong Kiều tự, Khách chẩm y nhiên bán dạ chung.

(Bảy năm không tới thăm chùa Phong Kiều Nằm gối đầu ngủ lại ở đất khách nghe tiếng chuông chùa đánh lúc nửa đêm thấy vẫn y như cũ).

Nhà thơ Tôn Địch cũng đời Tống trong bài Phong Kiều đã viết:

Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự, Ỷ chẩm do văn bán dạ chung.

(Quạ kêu, trăng lặn, cầu ở bên chùa, Nằm gối đầu ngủ còn nghe thấy tiếng chuông nửa đêm)

Nhà thơ Cố Trọng Anh đời Nguyên trong bài Bạc Xương môn đã viết:

Tây phong chỉ tại Hàn San tự, Trường tống chung thanh giảo khách miên.

(Chỉ tại chùa Hàn San mà gió tây Đưa xa tiếng chuông tới quấy động giấc ngủ của khách)

Nhà thơ Cao Khải đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:

Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế, Ô đề, nguyệt lạc hựu chung thanh.

(Mấy lần qua Phong Kiều đều nhớ Trương Kế, Quạ kêu, trăng lặn với tiếng chuông nửa đêm)

Nhà thơ Văn Trưng Minh đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:

Thủy minh nhân tĩnh giang thành cô, Y nhiên lạc nguyệt đề sương ô.

(Nước trong, lòng người tĩnh, giang thành vắng, Trăng lặn, quạ kêu trong sương vẫn y như cũ).

Qua các câu thơ ấy, chúng ta thấy các nhà thơ xưa ở Trung Quốc cũng đều nhắc lại cảnh “quạ kêu, trăng lặn” và “tiếng chuông nửa đêm” như là những sự việc rất bình thường, không có gì đáng thắc mắc cả.

Nguyễn Hàm Ninh xưa, ở nước ta, cũng đã hiểu như vậy nên đã dịch bài thơ của Trương Kế sang thể lục bát như sau:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bài thơ dịch này, trước đây người ta đã nhầm là của Tản Đà (7), được kể là hay, chỉ tiếc là ông đã bỏ mất chữ “giang phong” và đã nhầm “bến Phong Kiều” là “bến Cô Tô” và cũng chưa diễn đạt được vai trò “chủ thể” của tiếng chuông chùa Hàn San, nhưng nó vẫn được kể là bài dịch hay nhất từ trước đến nay.

Vậy để kết luận cho bài viết này, chúng tôi thấy cần phải đến tận nơi để tìm hiểu cho được chính xác bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, nếu không, sẽ có những nhầm lẫn đáng tiếc trong việc chú thích và minh họa như đã nói ở trên.

Chúng tôi lại xin xác minh thêm rằng ở gần bến Phong Kiều và chùa Hàn San không có núi Sầu Miên và núi Ô Đề nên nếu đem đổi mấy chữ tả tình “sầu miên” sầu vương giấc hồ) bằng mấy “địa danh” thì bài thơ sẽ không còn thi vị gì nữa.

Chú thích :

(1) Trương Kế: Thi nhân đời Đường, sống vào khoảng trước sau năm 756, người Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc, đậu Tiến sĩ, nổi tiếng với bài Phong Kiều dạ bạc.

(2) Xem Trần Đắc Thọ: Tư liệu mới về một bài thơ Đường nổi tiếng. Tạp chí Hán Nôm, số 3-1997, tr.66-69.

(3) Ông Trần Nghĩa có cho tôi biết là vào mùa thu năm 1998, ông sang công tác ba tháng tại Tokyo (Nhật Bản), đấy là một Thủ đô có quá nhiều quạ, đêm nào ông cũng nghe tiếng quạ kêu…

(4) Hàn San tự: Sách do Trương Duy Minh biên soạn, khổ 11×16,5 dày 158 trang. Cổ Ngô Hiên xuất bản xã in năm 1993 ở Tô Châu.

(5) Hội đồ Thiên gia thi do Thượng Dương Nhật Tân thư trang thạch ấn. Khai thiết Thượng Dương Bắc Kinh lộ Tử Dương lý. Không đề năm in nhưng sách đã cũ, có thể đã được in từ cuối thế kỷ thứ XIX hoặc đầu thế kỷ XX.

(6) Hàn San: Thi tăng đời Đường ở gần núi Thiên Thai với sư Thập Đắc, Truyền thuyết nói rằng Hàn San là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát và Thập Đắc là hóa thân của Phổ Hiền Bồ Tát. Tác phẩm của Hàn San sau được sưu tập trong Hàn San tử thi tập.

(7) Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề khi biên soạn quyển Trong 99 chóp núi đã mượn được một số di cảo thơ văn của Đinh Nhật Thận trong tủ sách của Nguyễn Hàm Ninh để lại. Ông đã tìm được bài dịch Phong Kiều dạ bạc của Nguyễn Hàm Ninh diễn Nôm và đã in trong quyển Trong 99 chóp núi. Tân Việt, Hà Nội, 1942.

Tìm Hiểu Bài Tho Phong Kiều Dạ Bạc

Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế như sau:

月落烏啼霜滿天, Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 江楓漁火對愁眠。 Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 姑蘇城外寒山寺, Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 夜半鐘聲到客船。 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Đêm ghé thuyền bên chiếc Cầu Phong

Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời,

Trên sông [ghé thuyền] ở bến Cầu Phong, thao thức bên ngọn đèn của người dân chài

(một loại đèn bão tránh gió).

Từ ngôi chùa Hàn San nơi ngoại thành Cô Tô,

Lúc nửa đêm vọng lại với người khách trên thuyền những tiếng chuông ngân.

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

Trăng tà tiếng quạ kêu sương,

Lửa chài, cây bãi, sầu vương giấc hồ.

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Tản Đà dịch (khoảng năm 1937 hay 1938)

Đêm khuya thuyền đậu ở bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,

Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.

Con thuyền đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Trần Trọng Kim dịch (1944)

Tựa của bài thơ là Phong Kiều Dạ Bạc, phong (érable / maple) là một loại cây có lá đỏ rực vào mùa thu (lá trên quốc kỳ của Gia Nã Đại), kiều là chiếc cầu, dạ bạc là đêm ghé bến. Tựa của bài thơ cũng đã tạo ra cả một bối cảnh không gian và thời gian phù hợp với nội dung của toàn bài thơ. Hơn nữa trong tiếng Hán chữ bạc cũng mang nhiều nghĩa khác nhau: ghé bến, cập bến, , trôi dạt nơi đất khách quê người, khinh bạc, , không màng công danh lợi lộc . Do đó chữ dạ bạc có nghĩa là đỗ thuyền trong đêm và cũng có nghĩa là một đêm khinh bạc, gợi lên một cách kín đáo tâm trạng của người thi nhân. Do đó cũng có thể hiểu tựa của bài thơ là “Sự khinh bạc lợi danh trong một đêm ghé vào bến Phong Kiều”.

Tóm lại, đại ý của bài thơ là trời đã sáng, trăng đã lặn, quạ đã kêu, thế nhưng sương vẫn bao phủ đầy trời, tưởng chừng như vẫn còn trong đêm tối. Trên con thuyền neo cạnh chiếc cầu Phong, người thi nhân mang nặng một mối sầu trong lòng và thao thức bên ngọn đèn leo lét. Trong khi đó ở ngôi chùa Hàn San nơi ngoại thành Cô Tô, các nhà sư đã thức giấc và gióng chuông trong thời kinh buổi sáng. Tiếng chuông vọng đến bờ sông khiến người lữ khách “bàng hoàng” và tự hỏi “tại sao chùa lại gióng chuông vào nửa đêm như thế này?” Sương mù dầy đặc bao phủ cảnh vật hay là sự u uẩn trong lòng đã khiến người lữ khách đánh mất cả ý niệm của thời gian?

Xin tạm dịch bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc như sau:

Tiếng quạ, trăng tà, sương phủ kín,

Bên đèn thao thức một niềm đau.

Cô Tô, vọng lại Hàn San tự,

Nửa đêm thuyền vẳng tiếng chuông ngân.

Hoang Phong dịch (Tô Châu, 05.09.01)

Trương Kế (730?-780?) sinh sau Vương Duy khoảng 30 năm, và ông đã sáng tác bài thơ này vào năm 750 với tâm trạng của một “thư sinh” trong lứa tuổi hai mươi khi mới thi trượt. Dù là mang cùng “một ý” hay “mượn ý” của bài thơ Điều Minh Giản của Vương Duy đi nữa, thế nhưng bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế rõ ràng là phong phú và nhiều màu sắc hơn. Câu 1 cho thấy trời đã sáng, trăng đã lặn, quạ đã kêu, thế nhưng sương còn dầy đặc tương tự như trời vẫn còn trong đêm. Câu 2 nói lên niềm đau của một thư sinh thi trượt. Câu 3 gợi lên một khung cảnh thật buồn: tiếng chuông chùa xa xa từ chùa Hàn San vọng lại bến sông khiến người thư sinh càng thêm chua xót. Câu 4 nói lên sự cảm nhận sai lầm của người thư sinh ngỡ rằng chùa gióng chuông trong đêm. Trương Kế đã mượn sự cảm nhận sai lầm ấy để nói lên sự hoang mang và đau buồn trong lòng mình.

Bối cảnh trong bài Điểu Minh Giản của Vương Duy là một vùng rừng núi trong một đêm thanh vắng, người thi sĩ yên lặng ngắm nhìn những cánh hoa quế héo tàn, đắm mình vào những kỷ niệm xa xưa, và không còn ý thức được là trời đã sáng, chim đã thức và hót vang trong khe suối ngày xuân. Bối cảnh trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế trái lại đã nêu lên những hình ảnh thật mạnh: sương mù dầy đặc trên bến sông, tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa văng vẳng vọng lại từ xa…, và nhất là đã nêu lên các địa danh thật chính xác mang tính cách hoài cổ, gợi lên những sự tích xa xưa: thành Cô Tô với nàng Tây Thi, chùa Hàn San với hai anh em kết nghĩa là Hàn San và Thập Đắc. Chuyện kể rằng Hàn San được cha mẹ đi hỏi vợ cho mình, thế nhưng sau đó đã khám phá ra rằng cô dâu lại là người yêu của em mình là Thập Đắc. Hàn San không muốn làm buồn lòng em nên bỏ ra đi biệt tích. Thập Đắc hay tin cũng ra đi tìm anh và đã gặp được anh tá túc trong một ngôi chùa nhỏ. Hai anh em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi và cùng xin xuất gia trong ngôi chùa này. Người đời sau gọi ngôi chùa ấy là Hàn San tự.

Bình Giảng Bài Thơ ‘Phong Kiều Dạ Bạc’ Của Trương Kế

Bình giảng bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ của Trương Kế

Phong Kiều dạ bạc

(Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều)

Trương Kế

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,

Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên.

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Dịch thơ.

Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,

Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

…Bài thơ tả cảnh Phong Kiều một đêm sương khuya và tâm trạng thao thức của ly khách đang nằm trong thuyền. Trương Kế viết bài thơ theo thể thất 136 ngôn tứ tuyệt Đường luật: luật trác, vần bằng, có 3 vần thơ (thiên – miên – thuyền); gồm 11 chữ (thanh trắc) và 17 chữ (thanh bằng) gợi lên âm điệu mênh mang, lan tỏa… Bản dịch thành thơ lục bát, có 9 chữ (thanh trắc) và 19 chữ (thanh bằng), nhạc điệu trầm buồn, man mác; là một trong những bản dịch thơ Đường hay nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho biết bản dịch thơ lục bát này là của Tản Đà thi sĩ (?).

1. Hai câu thơ đầu tả cảnh một đêm khuya trên bến Phong Kiều. Năm chi tiết nghệ thuật, tả ít mà gợi nhiều: trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời, cây phong bên sông, ánh lửa chài. Cảnh vật được liệt kê, nối tiếp xuất hiện, đồng hiện. Một li khách đang mơ ngủ trong con thuyền trên bến sông. Cảnh vừa có màu sắc vừa có âm thanh. Màu vàng của vầng trăng xế, vầng trăng tà. Màu trắng bao la của sương đêm phủ đầy trời. Màu lửa chài le lói trong các khoang thuyền. Lùm cây phong đen sẫm ẩn hiện bên bờ sông. Và có tiếng quạ; quạ giật mình thấy sương trắng phủ đầy trời, ngỡ là trời đã sáng, cất tiếng kêu… Một cảnh buồn trên bến Phong Kiều. Và đó cũng là tâm trạng buồn của li khách đang nằm mơ ngủ trong thuyền. Ba chữ ‘đối sầu miên’ cho thấy không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện. Cảnh buồn, tình buồn; nhịp thơ buồn là vậy. Hãy khẽ đọc lên, ngâm lên:

‘Nguyệt lạc/ ổ để/ sương mãn thiên,

Giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên’

(Trăng tà/ chiếc quạ kêu sương,

Lửa chài/ cây bến/ sầu vương giấc hồ)

Thơ chỉ gợi, tạo nên nhiều liên tưởng. Thủ pháp lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối; tiếng quạ kêu sương nghe rõ trong đêm thanh vắng, ánh lửa chài le lói, màn sương trắng bao la đầy trời đã cho thấy bến Phong Kiều mịt mờ, mịt mùng khi trăng xế. Qua đó, ta thấy bút pháp nghệ thuật của Trương Kế rất tinh tế, biểu cảm.

2. Thời gian trôi đi lặng lẽ. Đêm đã về khuya. Khách nằm trong thuyền vẫn mơ màng… Bốn bề Phong Kiều im lìm, vắng vẻ. Bỗng một tiếng chuông, một âm thanh trong vắt từ chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô vọng tới, lay động hồn li khách…:

‘Cô Tô thành ngoại/ Hàn Sơn tự,

Dạ bán/ chung thanh/ đáo khách thuyền’

(Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)

Chùa Hàn Sơn toạ lạc trên lưng chừng núi. ‘Sư cụ nằm chung với khối mây’ như nhà sư chùa Đọi mà Nguyễn Khuyến đã nhắc tới? Sư cụ thỉnh chuông hay chú tiểu đánh chuông sang canh? Chùa Hàn Sơn cách bến Phong Kiều bao xa? Tiếng chuông ngân vang từ chùa xa vọng tới, li khách nghe rất rõ. Khách chợt tỉnh hồn mai. Nghệ thuật lấy động để tả tĩnh của thi pháp cổ, một lần nữa được Trương Kế sử dụng rất đặc sắc.

Tiếng chuông chùa Hàn Sơn đã làm rõ thêm cảnh vắng lặng, êm đềm bến Phong Kiều một đêm sương; một đêm thu? Tiếng chuông chùa vẳng lên giữa đêm khuya… còn mang một ý nghĩa thẩm mĩ rất tinh tế. Thi sĩ đã lấy tiếng chuông chùa (ngoại cảnh) để thể hiện tâm cảnh, đó là nỗi buồn nhớ cố hương của người lữ khách. Hai chữ ‘dạ bán’ (nửa đêm) là thời gian nghệ thuật, là thời điểm tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ ngoại thành văng vẳng vọng đến con thuyền làm lay động hồn du khách đang mơ màng, đang thao thức.

Hơn một nghìn năm đã trôi qua, ai đã từng đọc thơ Đường, ai đã yêu thơ Đường, nhất là những khách li hương đó đây, vẫn cảm thấy tiếng chuông chùa Hàn Sơn được Trương Kế nói đến vẫn còn làm rung động hồn mình, làm nao nao, làm thổn thức lòng mình?

Bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ là một bức tranh tĩnh xinh xắn. Thi phẩm này từng phủ mờ bao lớp sương giai thoại, huyền thoại. Có tiếng quạ kêu buồn. Có tiếng chuông chùa trong canh khuya buồn thấm thía. Trăng đã xế, lửa chài le lói con thuyền, những lùm cây phong mờ tỏ ẩn hiện, màn sương trắng phủ đầy trời. Li khách buồn nhớ cố hương đang thao thức trong con thuyền! Mơ màng và vắng lặng bao trùm cảnh vật và hồn người. Thi liệu chắt lọc, hình tượng gợi cảm, mở ra bao liên tưởng đầy chất thơ. ‘Phong Kiều dạ bạc’ đẹp như một bức tranh thủy mặc của một danh họa; lối vẽ chấm phá, lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối, lấy ngoại cảnh thể hiện tâm cảnh… Cái hồn của cảnh vật, nỗi lòng li khách thấp thoáng hiện lên qua những vần thơ thanh đạm đáng yêu.

Hỡi bạn gần xa có còn nghe tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ nghìn xưa vọng về?…

Theo chúng tôi

Bài Thơ :”Phong Kiều Dạ Bạc” Tuyệt Phảm Về Vẻ Đẹp Thiên Nhiên Của Trương Kế

Bài thơ :”Phong kiều dạ bạc” tuyệt phảm về vẻ đẹp thiên nhiên của Trương Kế

Phong Kiều dạ bạc  là bài thơ Đường rất nổi tiếng của Trương Kế khi ông đi thi hỏng về đến bến Cô tô đã cảm hứng trước cảnh đẹp thiên nhiên mà xuất thần làm tuyệt phẩm này để lại cho hậu thế. Bài thơ tả tâm trạng của tác giả và vẻ đẹp của sông nước Tô Châu đã làm dịu đi nỗi buồn của ông. Bài thơ của ông đã được Tản Đà dịch lại với phong cách sáng tạo tuyệt vời như sáng tạo ra thi phẩm mới theo thể thơ lục bát. Xin giới thiệu với ban đọc                                                                                               Người Làm vườn                                                                                              

      

       PHONG KIỀU DẠ BẠC                      Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên                              Giang phong ngư hỏa đối sầu miên           Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự                  Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

                                                    Đêm ghé bến Phong Kiều 

      Trăng tà , tiếng quạ kêu sương, Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.       Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San .

Bạn đang xem bài viết Đến Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc (Nguyễn Quảng Tuân) trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!