Xem Nhiều 2/2023 #️ Đi Tìm Chuyện Tình Nguyên Mẫu Của Cô Du Kích Trong Bài Thơ Núi Đôi # Top 6 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đi Tìm Chuyện Tình Nguyên Mẫu Của Cô Du Kích Trong Bài Thơ Núi Đôi # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đi Tìm Chuyện Tình Nguyên Mẫu Của Cô Du Kích Trong Bài Thơ Núi Đôi mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài thơ Núi Đôi được nhà thơ Vũ Cao sáng tác từ một chuyện tình có thật, bối cảnh có thật. Theo lời tác giả, trong bài thơ duy nhất chỉ có câu “Bảy năm về trước em mười bảy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng” là chi tiết hư cấu. Người 17 tuổi đã trẻ nhất làng?

Nhà thơ Vũ Cao từng nói, nếu không có chất liệu cuộc sống hàng ngày thì ông không viết được. Ông kể rằng bài thơ được ông viết vào một ngày cuối năm 1956. Hồi đó ông về công tác ở sư đoàn 312, đóng quân ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), cạnh đó có ngọn núi Đôi.

Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội. Khi anh trở về thì cô gái đã hy sinh.

Liệt sỹ Trần Thị Bắc, hình mẫu của nhân vật cô du kích trong bài thơ Núi Đôi.

Vũ Cao liền tìm đến thăm mộ người nữ liệt sỹ đó ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (còn gọi là Xuân Dục – Đoài Đông), thuộc xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long). Đến tận nơi và nghe người dân kể lại câu chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, cảm hứng xuất hiện khiến ông đã chấp bút viết ra bài thơ Núi Đôi…Cả tên làng, tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật. Mộ cô gái hiện vẫn còn. Chỉ có anh bộ đội là người yêu của cô du kích thì lúc ấy Vũ Cao không gặp được, không rõ còn sống hay đã mất.

Về lý do tại sao ngay trong hai câu thơ đầu, ông lại cho rằng đôi nam nữ, trong đó cô gái 17 tuổi và chàng trai đôi mươi là “trẻ nhất làng”?. Vũ Cao sau này nói rằng, ngay chính ông cũng… không hiểu vì sao ông lại viết như vậy. Ông kể: “Quả thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng trang lứa với họ. Có lẽ tôi đã quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà “thậm xưng” lên như vậy. Tuy nhiên, nói trẻ nhất làng thì cũng có khía cạnh không ngoa. Người ta tiếc cho cuộc tình không thành ở lứa tuổi 17, lứa tuổi nhiều sức sống nhất, yêu tha thiết nhất, thế mà giặc Pháp xâm chiếm quê hương, giết cô du kích”.

Sự đồng cảm lạ kỳ giữa nhà thơ – hình mẫu

Hai ngọn núi Đôi bây giờ vẫn còn, người dân ở khu vực xã Phù Linh đều biết câu chuyện trong bài thơ cùng tên ngọn núi, hỏi ai cũng đều có thể nhận được câu trả lời: “Cô ấy chính là người làng này”.

Nhà thơ Vũ Cao (1922 – 2007) quê tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (cùng quê với nhạc sĩ Văn Cao). Ông sinh trong một gia đình nho học và hoạt động văn học khá sớm. Vũ Cao được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Ông có hai người em trai đều là nhà văn: Vũ Ngọc Bình và Vũ Tú Nam.

Nhân vật nữ trong bài thơ chính là liệt sỹ Trần Thị Bắc, con gái đầu trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lớn lên trong thời kỳ giặc Pháp xâm lược, năm 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động đoàn thể. 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích rồi được giao cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận. Ngày 21/3/1954, dẫn một đoàn cán bộ đi công tác, khi trở về núi Đôi thì Bắc gặp ổ phục kích của địch. Cô giao liên dù bị địch bịt miệng nhưng vẫn kịp thời la lớn để cảnh báo những người trong đoàn cùng đi phía sau, giúp các cán bộ chạy thoát. Tức tối, địch tra hỏi nhưng không khai thác được thông tin gì từ cô du kích gan dạ này. Giặc Pháp xử bắn Bắc ngay tại chỗ. Khi đồng đội tìm đến nơi thì Bắc đã tắt thở. Đồng đội đắp mộ cho cô ở khu vực cầu Cốn, Vệ Sơn, xã Tân Minh.

Người ta cũng xác định được nhân vật “Anh đi bộ đội sao trên mũ” ấy cũng là một người có thật: ông Trịnh Khanh, người cùng xã Phù Linh. Theo lời ông Khanh kể lại, ông và cô Bắc quen nhau trong thời gian Bắc đang học y tá, và đơn vị của ông đóng quân gần đó. Là đồng hương nên có nhiều điều quý mến nhau, giữa đôi trai gái này đã hẹn ước với nhau trước khi cô Bắc học xong khóa y tá rồi quay về Phù Linh. Đầu năm 1953, ông Khanh và cô Bắc gặp lại nhau và hai người quyết định tổ chức đám cưới ngay tại đơn vị của chú rể. Đám cưới tổ chức đơn sơ, đại diện họ nhà trai là đồng đội cùng đơn vị, đại diện họ nhà gái là mẹ của Bắc. Vợ chồng sống với nhau được hai ngày thì chia tay, ông Khanh theo đơn vị chuyển quân đến địa điểm mới, chị Bắc trở về quê nhà Phù Linh. “Tôi không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn”, ông Khanh nhớ lại. Ba tháng sau ngày cưới, ông Khanh nhận được tin vợ mình đã hi sinh. Đau đớn nhưng không biết làm sao, ông tiếp tục theo đơn vị bước vào những trận đánh mới.

Xác lô cốt của giặc Pháp trên núi Đôi Sóc Sơn Hà Nội

Khi Hiệp định Genève được ký kết, một buổi chiều cuối năm 1954, người ta nhìn thấy một anh bộ đội vai đeo ba lô bước về, nhưng không vào làng ngay mà ngồi thẫn thờ bên ngôi mộ chi Bắc ven gò Cầu Cốn. Ông Khanh nghẹn ngào “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng cây, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. “Không hiểu vì sao nhà thơ Vũ Cao lại có thể đồng cảm, hiểu tâm trạng của người trong cuộc đến như thế”, ông Khanh nói. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông Khanh đã tới tìm gặp nhà thơ Vũ Cao, nhà thơ lúc đó mới bàng hoàng: “Thế Bắc có chồng rồi à?”.

Theo nhà thơ Vũ Cao, khi mới bắt gặp câu chuyện, ông đã dự định sẽ viết một truyện ngắn về đề tài này chứ không phải là một bài thơ. “Không hiểu vì sao, sau khi đi thực tế, tứ thơ dâng lên và bài thơ ra đời”, ông kể lại. Hàng chục năm sau khi bài thơ ra đời, nhiều bạn đọc còn nhầm tưởng bối cảnh và tình huống trong bài thơ là của chính tác giả. Trong một lần nói chuyện với sinh viên Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội, thậm chí còn có một cô sinh viên nước mắt lưng tròng thầm thì với nhà thơ “Cháu thương bác quá”.

Một nhà thơ từng nói, Vũ Cao là nhà thơ hiền hiếm có. Rằng Vũ Cao nổi tiếng sau kháng chiến chống Pháp với bài thơ Núi Đôi bất tử, Vũ Cao lẽ ra có thể nhân thành công đó để đưa thơ mình lên. Nhưng ông lại cứ như người bộ hành chậm rãi, nhường đường cho người khác, cho các nhà thơ khác. Vũ Cao nói, ông làm thơ, mục đích cũng chỉ là để phục vụ bộ đội mà thôi. Theo Xa lộ pháp luật

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Chuyện Tình Của Nữ Du Kích Trong Bài Thơ “Núi Đôi”

(Phunutoday) – Khi từ mộ người nữ du kích ấy trở về, Vũ Cao đã sáng tác bài “Núi Đôi”, sau này trở thành một trong những bài thơ được yêu mến nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Cũng nhờ sự ra đời của bài thơ này mà ngay sau đó nữ du kích Trần Thị Bắc đã được công nhận là liệt sỹ.[links()] Năm 1975, có một người đàn ông đến xin gặp Đại tá, nhà báo, nhà thơ quân đội Vũ Cao để cảm ơn nhà thơ về bài thơ “Núi Đôi” mà ông đã viết cách đó gần 20 năm trước. Người đàn ông ấy nói, ông chính là chồng của cô du kích Trần Thị Bắc – nguyên mẫu ngoài đời thực của cô du kích trong bài thơ “Núi Đôi”.

Phải đến lúc đó, nhà thơ Vũ Cao mới biết rằng câu chuyện mà ông biết về người đã tạo cảm hứng cho ông viết bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng hóa ra mới chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ câu chuyện về cuộc đời ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ và hiên ngang của nữ du kích trẻ ở vùng quê Sóc Sơn này.

Bài thơ “Núi Đôi” và câu chuyện về nữ du kích trẻ tuổi gan dạ

Sinh thời, nhà thơ Vũ Cao vẫn thường kể cho nhiều người yêu thơ và đặc biệt là những người yêu thích bài thơ “Núi Đôi”- một trong những bài thơ thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông về hoàn cảnh khiến ông sáng tác bài thơ.

Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954)

Trần Thị Bắc đã chấp nhận hi sinh trong một trận càn của địch, để đánh động cho cơ sở của cách mạng. Nhờ đó, nhiều cán bộ cách mạng trong vùng hôm đó mới không bị rơi vào tay giặc. Gia đình và dân làng đã đưa cô về chôn ở giữa xóm Chùa.

Lúc còn sống, nữ du kích Trần Thị Bắc có yêu một người lính bộ đội cụ Hồ đi chiến đấu ở xa. Đến ngày hòa bình, khi người lính ấy trở về thì người yêu đã không còn. Và người lính ấy đã ngồi lặng lẽ bên mộ người con gái mình yêu, để hoài niệm về những kỉ niệm đẹp đã mãi mãi không thể trở lại.

Câu chuyện này đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho Vũ Cao. Ông đã đến xóm Chùa thăm mộ nữ du kích Trần Thị Bắc, thắp hương cho người con gái đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.

Khi từ mộ người nữ du kích ấy trở về, Vũ Cao đã sáng tác bài “Núi Đôi”, sau này trở thành một trong những bài thơ được yêu mến nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Cũng nhờ sự ra đời của bài thơ này mà ngay sau đó nữ du kích Trần Thị Bắc đã được công nhận là liệt sỹ.

Trong bài thơ “Núi Đôi” có câu thơ: “Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo/ Em còn trẻ lắm, nhất làng trong/ Mấy năm cô ấy làm du kích/ Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng”. Khi viết bài thơ “Núi Đôi”, tác giả đã đinh ninh nguyên mẫu của mình là một cô gái chưa chồng.

Phải đến 20 năm sau, khi có một người đàn ông đến xin gặp nhà thơ để gửi lời cảm ơn nhà thơ và tự nhận mình chính là chồng của cô du kích Trần Thị Bắc, thì nhà thơ Vũ Cao mới biết được sự thật đầy đủ và chi tiết về mối tình đẹp nhưng có một cái kết buồn của cô du kích Trần Thì Bắc.

Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954) tại xóm Chùa, thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh (xã Lạc Long cũ), huyện Sóc Sơn – Hà Nội. Là con gái đầu lòng của một gia đình cách mạng, bố và các bác, các chú đều tham gia cách mạng, có những người là liệt sỹ nên khi mới ngoài 10 tuổi, Trần Thị Bắc đã thấm nhuần tinh thần cách mạng.

Ở tuổi 16 – 17, cô thiếu nữ xóm Chùa Trần Thị Bắc đã tham gia vào du kích và được đánh giá cao về tinh thần quyết liệt cũng như sự gan dạ, mưu trí. Ngày đó, vùng Sóc Sơn là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Đây được coi như nơi tiếp nối giữa vùng tự do và vùng địch hậu.

Giặc Pháp tranh chấp vùng đất này rất quyết liệt với hi vọng sẽ tạo ra những “vùng trắng”, bao vây các cán bộ cách mạng đang cài lại trong vùng địch hậu, đồng thời ngăn cản cán bộ từ vùng tự do xâm nhập vào.

Phong trào du kích của Sóc Sơn những năm ấy phát triển mạnh và chính những du kích như cô thiếu nữ Trần Thị Bắc là những người có công lớn trong việc đảm bảo thông tin liên lạc cũng như đảm bảo cho sự an toàn của các cán bộ cách mạng ra và vào vùng tạm chiếm.

Những người già ở Phù Linh kể rằng khi còn sống, cô du kích Trần Thị Bắc nổi tiếng là một cô gái vừa xinh đẹp, hát hay, lại khéo ăn khéo nói và thông minh, nhanh trí.

Thế nên không phải ngẫu nhiên mà khi chưa đầy 20 tuổi, Trần Thị Bắc đã là một nữ du kích được cấp trên tin tưởng giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng cùng một lúc: vừa làm công tác quân báo, liên lạc, đưa đón cán bộ cách mạng vào vùng địch hậu và ra vùng tự do; cũng như làm công tác binh vận với quân địch và những đối tượng thân địch.

Người ta luôn thấy cô làm việc luôn chân luôn tay, hết mình với cách mạng. Khi thì cô đi chợ bán hàng, trò chuyện với bà con ở chợ để tuyên truyền ý thức cách mạng cho bà con, khi thì cô giúp đỡ cán bộ cách mạng trong vùng địch và đảm bảo sự an toàn cho họ trước sự nhòm ngó của địch.

Cô còn liều lĩnh đến mức thường xuyên cắt cỏ quanh đồn bốt địch, làm quen với những tên giặc và dần dà thu phục tình cảm của chúng.

Quân giặc đóng ở những đồn bốt quanh vùng quý cô đến nỗi dần dần có những người bị cô cảm hóa, trở thành nguồn tin quan trọng cung cấp tin cho cô để cô báo ra cho cơ sở ở vùng tự do về những âm mưu và kế hoạch hoạt động của địch.

Người lính bộ đội cụ Hồ mà nữ du kích Trần Thị Bắc đem lòng yêu ở ngoài đợi thực chính là ông Trịnh Khanh, nay đã 80 tuổi. Ông Trịnh Khanh hiện sống ở thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Ngày đó ông Trịnh Khanh là bộ đội, đóng quân ở đại đội Trần Quốc Tuấn. Khi nữ du kích Trần Thị Bắc được cử đi học lớp y tá trên huyện đội Sóc Sơn, một người bạn cùng đơn vị với ông Trịnh Khanh đã kể về Trần Thị Bắc cho ông Trịnh Khanh nghe.

Tò mò về một cô du kích cùng quê, vừa xinh đẹp lại vừa có tiếng gan dạ, dũng cảm, ông Trịnh Khanh đã đến gặp gỡ, làm quen. Sau nhiều lần trò chuyện, cả hai đã dần cảm mến nhau. Nhưng phải 2 năm sau đó, vào năm 1952, người lính cụ Hồ và nữ du kích Trần Thị Bắc mới ngỏ lời yêu nhau.

“Núi vẫn đôi mà anh mất em”

Yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, ông Trịnh Khanh làm nhiệm vụ của một người lính ở đơn vị, nữ du kích Trần Thị Bắc thì tham gia lực lượng du kích kiêm cứu thương ở quê nhà, nên phải đến cuối năm 1953, nhờ đơn vị tạo điều kiện, đám cưới của Trần Thị Bắc và Trịnh Khanh mới diễn ra ở vùng tự do, ngay tại nơi đóng quân của đơn vị.

Đám cưới của họ diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn nên vô cùng thiếu thốn, đến bánh kẹo, chè thuốc mời bạn bè, anh em cũng không có.

Thương cô con gái đầu lòng, mẹ của nữ du kích Trần Thị Bắc đã lặn lội đi từ trong vùng địch hậu ra vùng tự do để mang cho con gái ít chè thuốc, kẹo bánh làm đám cưới.

Chiếc giường cưới đêm tân hôn của họ cũng chỉ là một cái ổ rơm trong một căn lán nhỏ được đồng đội dựng lên giữa rừng để tạo điều kiện cho đôi vợ chồng trẻ. Trần Thị Bắc và Trịnh Khanh chính thức nên duyên vợ chồng từ năm 1953.

Ngay sau đêm tân hôn, vợ chồng nữ du kích Trần Thị Bắc lại phải hai người đôi ngả. Đó cũng là lần cuối cùng họ gặp lại nhau.

Không chỉ nhà thơ Vũ Cao mà ngay cả nhiều người dân trong vùng khi đó cũng không hề biết về đám cưới của nữ du kích Trần Thị Bắc nên họ luôn đinh ninh đến lúc chết, cô vẫn là một cô gái chưa chồng.

Nhiều thế hệ độc giả sau này cũng đinh ninh như thế. Chỉ đến khi ông Trịnh Khanh xuất hiện trước mặt nhà thơ Vũ Cao và kể về mối tình của ông với liệt sỹ Trần Thị Bắc, câu chuyện mới được sáng tỏ.

Sở dĩ đám cưới của liệt sỹ – nữ du kích Trần Thị Bắc ít người biết đến ngoài gia đình, người thân là vì khi đó quê của cả liệt sỹ Trần Thị Bắc và ông Trịnh Khanh đều nằm trong vùng tạm chiếm.

Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, lại phần vì cả hai vợ chồng liệt sỹ Trần Thị Bắc đều hoạt động cách mạng nên chuyện đám cưới không được phổ biến rộng rãi, vì lo ngại sự chú ý bất lợi của địch.

Tháng 3/1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đi vào giai đoạn cuối, giặc điên cuồng càn quét vùng tạm chiếm với mục đích bắt bớ, chém giết những cán bộ cách mạng.

Đêm ngày 21/3, khi đang làm nhiệm vụ đi tiền trạm cho một đoàn cán bộ đi công tác, nữ du kích Trần Thị Bắc đã rơi vào ổ phục kích của địch. Để đánh động cho các đồng chí của mình, nữ du kích Trần Thị Bắc đã kháng cự quyết liệt với bọn địch, khiến chúng điên cuồng bắn chết cô. Cô hi sinh khi mới 22 tuổi.

3 tháng sau ngày cưới, vào một buổi chiều ở đơn vị, ông Trịnh Khanh nhận được cùng một lúc 2 bức thư, một bức thư của người vợ mới cưới kèm theo một chiếc áo len làm quà tặng cho chồng và một bức thư của gia đình gửi báo tin vợ đã hi sinh.

Bàng hoàng khi nhận được món quà cuối cùng của vợ cũng là lúc biết người vợ yêu thương của mình đã ra đi mãi mãi, nhưng phải đến cuối năm 1954, người lính Trịnh Khanh mới được về quê thăm mộ vợ.

Ngày trở về với chiếc ba lô trên vai, ông Trịnh Khanh đã ngồi lặng lẽ suốt một buổi chiều trước mộ người vợ mới cưới. Khi đó tâm trạng của ông đúng như những gì nhà thơ Vũ Cao đã kể viết trong bài “Núi Đôi”:

“Anh ngước nhìn lên 2 dốc núi/ Hàng cây bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. Mối tình đẹp của người lính cụ Hồ với cô du kích Sóc Sơn đã có một cái kết không thể buồn hơn.

Sau nhiều năm tháng trôi qua, nỗi đau mất đi người vợ hiền mới cưới chưa lâu dần lắng xuống, ông Trịnh Khanh mới nên duyên cùng bà Lê Thị Khuyến (người thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung, huyện Đông Anh).

Tuy duyên phận của ông với liệt sỹ Trần Thị Bắc rất ngắn ngủi, nhưng với cha mẹ cũng như những người em của liệt sỹ Trần Thị Bắc, ông Khanh đã trở thành người ruột thịt trong nhà.

Mẹ vợ ông Khanh, cũng là mẹ ruột của liệt sỹ Trần Thị Bắc chính là người đã cùng với mẹ đẻ của ông giúp ông đi hỏi cưới người vợ sau này.

Tuy đã có gia đình mới, có vợ con và cuộc sống yên ấm nhưng sau này vợ chồng ông Trịnh Khanh và những người em của liệt sỹ Trần Thị Bắc vẫn luôn yêu quý, trân trọng nhau.

Họ vẫn thường gặp gỡ nhau vào những ngày lễ tết, ngày giỗ của liệt sỹ Trần Thị Bắc và cùng nhau kể lại câu chuyện về người vợ, người chị của họ – nữ du kích trong bài “Núi Đôi” năm nào.

Cô Gái Trong Bài Thơ “Núi Đôi”

Ông Trịnh Khanh và vợ, bà Phan Thị Khuyến trong ngày mừng thọ 70 tuổi.

Năm ấy, Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 238 (Quân khu Việt Bắc) tổ chức buổi gặp mặt gia đình 81 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ chống Pháp tại Núi Đôi, xã Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội)). Một cụ già gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ, nắm tay một ông lão hơn 70 tuổi, giơ lên cao, rồi dõng dạc tuyên bố: Đây là đồng chí Trịnh Khanh, chồng của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc và cũng là chàng trai nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng của Vũ Cao…

Năm ấy, Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 238 (Quân khu Việt Bắc) tổ chức buổi gặp mặt gia đình 81 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ chống Pháp tại Núi Đôi, xã Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội)). Một cụ già gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ, nắm tay một ông lão hơn 70 tuổi, giơ lên cao, rồi dõng dạc tuyên bố: Đây là đồng chí Trịnh Khanh, chồng của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc và cũng là chàng trai nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng của Vũ Cao…

…Năm 1947, vừa tròn 17 tuổi, Trịnh Khanh xung phong vào bộ đội, trở thành chiến sĩ đại đội Trần Quốc Tuấn, đóng quân tại xã Bắc Sơn (Sóc Sơn). Một hôm, chiến sĩ Trần Nhu (biệt danh là Nhu bẻm mép), quê ở Hà Tây, nét mặt hớn hở đến gặp Khanh, bảo:

– Cậu có một cô gái đồng hương tên là Bắc rất xinh, hiện đang theo học tại lớp y tá. Nếu muốn “cưa” thì bọn mình sẽ giúp.

Nói vui thế nhưng phải đến gần hai năm sau, Khanh mới gặp lại Bắc khi cô tiếp tục theo học lớp y tá của tỉnh Vĩnh Phúc. Họ hẹn ước khi nào thắng trận ở Bắc Hồng (Đông Anh) sẽ về tổ chức đám cưới. Cuối năm 1953, trước lúc bước vào trận đánh tiêu diệt quân địch càn quét ở xã Bắc Hồng (Đông Anh), chính trị viên Nguyễn Viết Bát ghé sát tai Khanh nói: “Đánh xong trận này, tớ sẽ giải quyết cho cậu nghỉ ba ngày ra vùng tự do để cưới vợ”. Vốn đã từng làm công tác văn thư ở đại đội chuyên “nói có sách, mách có chứng”, Khanh liền rút giấy bút ở trong túi ra và tự tay thảo vội bức “công văn” ngắn gọn: “… Đại đội Trần Quốc Tuấn đồng ý giải quyết cho đồng chí Trịnh Khanh về quê tổ chức lễ cưới với cô Trần Thị Bắc, đề nghị gia đình và chính quyền địa phương tạo điều kiện giúp đỡ đồng chí Khanh hoàn thành nhiệm vụ. Ký tên…”. Thảo xong bức thư, Khanh đưa ngay cho chính trị viên duyệt và được anh cầm bút ký liền. Không ngờ, sau trận đánh ấy, anh Bát đã hy sinh.

Ít lâu sau, Khanh xin phép thăm gia đình. Bắc xem lá thư có chữ ký của chính trị viên Nguyễn Viết Bát, cô im lặng không nói, mà hai hàng nước mắt cứ trào ra… Họ quyết định xin phép gia đình làm đám cưới. Nhưng khi bàn công việc cụ thể thì cả hai đứa đều khóc, vì hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, chẳng có điều kiện để mua kẹo bánh, thuốc, nước mời bạn bè. Bắc đành trở lại vùng địch hậu gặp mẹ và thật bất ngờ, ngay hôm sau mẹ Bắc đã quẩy đôi quang gánh nặng, một bên là cậu em út, một bên là bánh kẹo lên vùng tự do Hồng Kỳ để làm lễ cưới cho con. Đêm tân hôn, vợ chồng Khanh được mọi người chuẩn bị cho một ổ rơm lót đệm lá chuối khô trong một túp lều nhỏ trên sườn đồi. Hai ngày sau, hai người lại phải chia tay nhau. Ngờ đâu đó là cuộc chia ly vĩnh viễn…

Ba tháng sau ngày cưới, Khanh nhận được ba lá thư của vợ nhắn đã gửi cho anh chiếc đồng hồ và chiếc áo len. Niềm vui vừa thoảng qua thì anh lại nhận thư của gia đình báo tin vợ đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ từ vùng địch hậu Lương Châu ra “vành đai trắng” Phù Linh. Cô đi trước để thăm dò, vừa đến chân Núi Đôi, không may rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng bắt và bịt miệng cô lại với mưu đồ sẽ phục để “cất vó” toàn bộ số cán bộ đi sau. “Quyết không để cán bộ của ta sa vào tay giặc” – nghĩ vậy, Bắc đã chống cự quyết liệt, bất thình lình, cô lao vào tên quan Pháp, dùng hết sức bình sinh đạp vào chỗ hiểm của hắn. Bị đòn đau bất ngờ, tên quan Pháp kêu rống lên như con bò bị chọc tiết. Tên lính đứng cạnh đó vội dùng súng xả trọn một băng vào ngực cô. Thấy động, đoàn cán bộ của ta đã rút lui an toàn…

Một chiều đông năm 1955, một anh bộ đội về bên gò cầu Cồn. Người em họ của liệt sĩ Trần Thị Bắc nhận ra anh rể của mình đã òa lên khóc: “Chị Bắc nát ngực, máu đọng khô, nhiều viên đạn còn nằm trong đó”.

Sau này, mặc dù chỉ được nghe kể về tình yêu đôi lứa của anh bộ đội với nữ liệt sĩ Núi Đôi, nhà thơ Vũ Cao đã viết nên bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng.

Còn một chi tiết cảm động nữa, đó là vào cuối năm 1957, cả ba người mẹ là mẹ đẻ của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc, mẹ đẻ và mẹ nuôi của Trịnh Khanh đã đến thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung (Đông Anh) để hỏi vợ cho ông là bà Phan Thị Khuyến. Sau này, dù ở xa nhưng hằng năm, cứ đến ngày giỗ, tết, bà Khuyến lại cùng các con về thắp hương cho người nữ liệt sĩ Núi Đôi…

Bài và ảnh: NGÔ VĂN HỌC

Hình Ảnh Bác Hồ Trong Bài Thơ “Người Đi Tìm Hình Của Nước”

Nghiên cứu – Phê bình – Trao đổi

Cách đây 104 năm (5/6/1911 -5/6/2015), từ bến Nhà Rồng, ngườithanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tên Bác Hồ thời điểm ấy) lên chiếc tàu buôn Pháp để ra đi tìm đường cứu nước

Với ý chí và nghị lực phi thường, với trí thông minh và lòng quả cảm, Bác đã gặp được Luận cương của Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Nói sao hết được niềm vui của Bác khi tìm thấy ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam. Với cảm xúc mạnh mẽ, với lòng kính yêu lãnh tụ, nhà thơ Chế Lan Viên đã sáng tác bài thơ “Người đi tìm hình của Nước”, khắc họa được hình ảnh cao đẹp của Bác Hồ trong những năm dài hoạt động cách mạng ở nước ngoài.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh người thanh niên giàu nhiệt huyết quyết tâm ra đi, không ngại gì những khó khăn, gian khổ đang chờ phía trước.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi

Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác

Khi bờ bãi dần lui, làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre.

Con tàu buôn kéo còi tạm biệt bến cảng Nhà Rồng, quê hương dần lui vềphía sau. Khung cảnh thân thuộc của quê nhà với lũy tre làng mát rượi màu xanh gắn với bao kỷ niệm tuổi thơ không còn nữa. Bốn bề chỉ có sóng biển và lòng người ra đi trong giây phút này chắc cảmđộng, rơi nước mắt vì phải rời quê hương, đất nước.

Tác giả chân thành muốn hóa thành con sóng nhỏ, vỗ nhẹ thân tàu để tiễn Bác đi xa (Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác). Đất nước đẹp nhưng người dân lúc ấy còn sống trong nô lệ, lầm than dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Bác chấp nhận tất cả hiểm nguy để ra đi tìm con đường tương lai cho dân tộc

Bằng trí tưởng tượng, sự liên tưởng mạnh mẽ, tác giả khắc họa nên tình cảm của Người khi cảnh vật xung quanh mình là đất khách quê người. Tiếng sóng dưới thân tàu, màu trời xanh cũng khác tiếng sóng, khác màu trời xanh quê hương mình

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ

Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương

Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương.

“Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương- đúng vậy, có đi xa quê hương mới nhìn rõ quê hương mình. Cái nhìn ở đây là cái nhìn bằng tâm cảm, cái nhìn tự đáy lòng của người con nước Việt đang đau nỗi đau mất nước, nỗi đau dân sống lầm than. Quanh mình toàn xa lạ về ngôn ngữ, về văn hóa đang thử thách ý chí, nghị lực của Người.

Ngày 2-6-1911 từ bến Nhà Rồng, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước trên chiếc tàu Đô đốc La Touche-Tréville.

Bác đã làm tất cả mọi việc để có tiền sinh sống và tham gia hoạt động cách mạng. Giá lạnh khắc nghiệt của mùa đông châu Âu không thể cản nổi bước chân Người. Công việc cào tuyết, lao động đã rèn luyện cho Người ý chí, nghị lực phi thường. Có câu chuyện kể rằng: Để chống lại cái giá lạnh mùa đông, trước khi đi làm, Bác để một viên gạch vào bếp. Khi đi làm về, Bác dùng giấy báo cũ bọc lại, đêm ngủ đặt bên mình để có hơi ấm qua giấc ngủ đêm đông.

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng

Bác chong lại cả một mùa băng giá

Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ

Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Ý chí sắt thép, nghị lực phi thường được thể hiện qua hình ảnh gợi tả “Một viên gạch hồng, Bác chong lại cả một mùa băng giá”. Một viên gạch nhỏ nhưng bằng trí thông minh, sáng tạo,

Bác đã biến thành “lò sưởi” vô cùng tiện lợi để chống lại cái rét như cắt da cắt thịt kinh người. Giọt mồ hôi nhỏ xuống trong công việc cào tuyết đêm khuya của Bác đã làm cho người đọc xúc động. Công việc hẳn nặng nhọc lắm vì giữa sương mù trời khuya, giá rét mà mồ hôi vẫn nhỏ xuống!

Tuy ngày ngày gặp tất cả những khó khăn, gian khổ ấy nhưng Bác vẫn không nghĩ đến bản thân mình. Nỗi nhớ của Người ở đây là nỗi nhớ về đất nước đau thương, nỗi nhớ ám ảnh về màu xanh quê hương thương nhớ nơi xa.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ Quốc

Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa.

Hình ảnh đất nước, quê hương luôn thường trực trong lòng của Bác.

Trong những ngày bị cầm tù trong lao tù Tưởng Giới Thạch, có những đêm Bác “không ngủ được” vì nghĩ đến tình hình đất nước lúc bấy giờ (Một canh… hai canh… lại ba canh/Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh).

Nỗi nhớ quê hương tha thiết biết chừng nào ngay cả trong giấc chiêm bao cũng hiện lên màu xanh cây cỏ quen thuộc. Người không nỡ yên lòng khi “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì To Quốc”; cũng chẳng thanh thản bao giờ bởi “Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.

Một loạt câu hỏi dồn dập như thử thách lòng Người. Đó là những câu hỏi về tương lai đất nước, về tinh thần quật cường của truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông ta.

Ngày mai dân ta sẽ sổng sao đây?

Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?

Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao?

Nụ cười sẽ ra sao? Ơi, độc lập!

Xanh biết mấy là trời xanh Tổ Quổc Khi tự do về chói ở trên đầu.

Chỉ có một con đường cách mạng đúng đắn, khoa học mới giải đáp thỏa đáng được những câu hỏi nêu trên. Con đường ấy chính là con đường cách mạng vô sản mà nước Nga đã thành công bằng cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, lật nhào chế độ người bóc lột người và người lao động đứng lên làm chủ cuộc đời mình:

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương

Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

Sao vàng bay theo liềm búa công nông.

Hạnh phúc đã đến cùng người dân Nga bởi có Lênin, vị Lãnh tụ thiên tài đã lãnh đạo toàn dân đứng lên làm nên lịch sử. Hình ảnh “Mặt trời Nga bừng chói” cho chúng ta thấy được ánh sáng của Cách mạng tháng Mười đã soi rọi khắp nơi. Không còn cảnh sống nô lệ, lầm than bởi người lao động tự mình làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống của mình (Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc/ Sao vàng bay theo liềm búa công nông).

Trải qua biết bao gian khổ, bao hiểm nguy rập rình, cuối cùng Bác Hồ kính yêu đã tìm thấy được Luận cương Lênin. Hạnh phúc quá bất ngờ khiến Bác bật lên tiếng reo vui. Với sự kiện này, Bác viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

Bổn bức tường im nghe

Bác lật từng trang sách gấp

Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Hình của Đảng lồng trong hình của Nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười.

Hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam! Bác đã đi khắp năm châu bốn biển, tìm hiểu các phong trào cách mạng;

chia sẻ với bao cảnh ngộ, con người. Giờ đây, Luận cương của Lênin – kim chỉ nam cho con đường giải phóng dân tộc đã có trong tay mình. Bác khóc vì quá hạnh phúc khi tìm được con đường giải phóng dân tộc. Bác reo lên mừng vui vì gặp được Luận cương Lênin mà bao năm khao khát kiếm tìm.

Từ ánh sáng Luận cương, Bác mường tượng một tương lai sáng ngời của đất nước hiện lên thật đẹp, thật lung linh: 

Bác thấy: dân ta bưng bát cơm mồ hôi, nước mắt Ruộng theo trâu về lại với người cày Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc Không còn người bỏ xác bên đường ray.

Giặc nước đuổi xong rồi

Trời xanh thành tiếng hát

Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

Tăm tổi cần lao nay hóa những anh hùng.

Đúng vậy, chỉ có con đường cách mạng vô sản, con đường đấu tranh do Đảng tổ chức, lãnh đạo mới mang lại độc lập, tự do, mang lại cơm no áo ấm cho mỗi con người. Hình ảnh người cày có ruộng, công nhân làm chủ nhà máy; aSi ai cũng có cơm ăn áo mặc; ai cũng được học hành là mơ ước, là “ham muổn tột bậc ” của Bác. Những người lao động bình thường, những kiếp sống tăm tối đau thương sẽ trở thành trí thức, thành anh hùng bởi đời ta có Đảng.

Con đường cách mạng ấy sẽ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và mỗi con người đều được quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để phát triển. Những mái rạ bao đời được thay bằng những mái ngói đỏ tươi màu hạnh phúc và mỗi cuộc đời luôn được sống yên vui:

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê

Thành nước Việt nhân dân trong mát suổi

Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói

Những đời thường cũng có bóng hoa che.

Con đường cách mạng rộng mở. Đến với Lênin là đến với con đường cách mạng vô sản chân chính. Bác hướng về phía Tổ quốc, mong được ngày trở về cùng Luận cương quý báu.

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt

Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi

Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai.

Trải qua 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, 30 năm tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã tìm thấy Luận cương Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc.

Biết bao gian khổ, khó khăn đã được đền đáp. Có niềm vui nào hơn, có hạnh phúc nào lớn hơn khi gặp được Luận cương Lênin! Từ Luận cương lịch sử này, cách mạng Việt Nam từng bước chuyển mình. Nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ, dân tộc Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám long trời lở đất, lật nhào chế độ phong kiến hàng ngàn năm, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Với chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975, giang sơn Việt Nam đã thu về một mối. Đất nước thống nhất, ngày càng lớn lên, hùng mạnh hơn bao giờ hết.

Ngược dòng thời gian những năm tháng Bác ra đi tìm đường cứu nước, chúng ta càng kính yêu, biết ơn Bác đã dâng trọn cuộc đời cho dân tộc Việt Nam, cho non sông Việt Nam mãi mãi trường tồn

 Lê Đức Đông

Bạn đang xem bài viết Đi Tìm Chuyện Tình Nguyên Mẫu Của Cô Du Kích Trong Bài Thơ Núi Đôi trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!