Xem Nhiều 12/2022 #️ Đi Tìm Nguồn Gốc Tình Sử Romeo Và Juliet / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Đi Tìm Nguồn Gốc Tình Sử Romeo Và Juliet / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đi Tìm Nguồn Gốc Tình Sử Romeo Và Juliet / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tôn thất Hùng

Nằm ngay trung tâm của miền bắc nước Ý, Verona là một thành phố cổ vẫn còn lưu lại khá nhiều những di tích lịch sử, từ thời cổ đại của đế chế Roman, cho đến thời trung cổ và cận đại. Ngày nay, du khách đến đây sẽ thấy các công trình kiến trúc một thời vang bóng như vận động trường, cổ thành, các nhà thờ và những con phố xưa được xây bằng đá từ nhiều thế kỷ… Tuy nhiên, Verona cũng chỉ là một thành phố nhỏ của Ý, chứ không phải nổi tiếng về kiến trúc như Florence, không tôn nghiêm như Rome, không phải là trung tâm thời trang của thế giới như Milan, phong cảnh không hữu tình như Sorrento, không ăn chơi trụy lạc – khét tiếng như Naples… Điểm đặc biệt của thành phố nhỏ xinh này chính là nguồn gốc của câu chuyện tình diễm lệ nổi tiếng nhất thế giới: Romeo và Juliet. Hằng ngày, luôn có hàng ngàn xe hơi của các gia đình, hàng trăm xe tour bus đổ khách về đây chỉ để được viếng thăm căn nhà và ngôi mộ của Juilet. Số lượng du khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về rất đông đã đưa thành phố này trở thành một địa điểm du lịch quan trọng, đông du khách vào hàng bậc nhất ở miền Bắc nước Ý.

Tóm tắt câu chuyện tình diễm lệ Tương truyền vào thời Trung Cổ, khoảng thế kỷ XIII, không xác định được năm tháng, tại Verona có hai dòng họ rất giàu có, sang trọng, vô cùng có thế lực tại địa phương, nhưng họ lại là thù địch của nhau. Chàng trai tuấn tú Romeo và tiểu thơ Juliet xinh đẹp được sinh ra từ hai gia đình ấy. Khi đến tuổi cặp kê, họ tình cờ gặp nhau trong một lễ hội hóa trang và đã yêu nhau. Biết rằng sẽ không bao giờ được gia đình hai bên công nhận và cho phép thành hôn, sau một thời gian yêu nhau đắm đuối, đôi tình nhân trẻ đã tìm đến một vị linh mục xin nhận phép hôn phối một cách bí mật… Đêm đêm, bất chấp sự nguy hiểm của tính mạng nếu bị phát giác, chàng trai si tình Romeo lại trèo lên ban công nơi căn phòng của Juliet để gặp người yêu. Cũng trong thời gian ấy, sự thù địch của hai gia đình vẫn mỗi ngày mỗi tiếp diễn, mâu thuẫn dường như không chịu dừng lại. Trong một lần xung đột lẫn nhau bằng gươm đao (là những vũ khí luôn mang bên mình của quý ông thời Trung cổ như một vật trang sức), Romeo đã lỡ tay giết chết một người bên gia đình Juliet, nên chàng trai phải bỏ trốn. Chẳng bao lâu sau, không hề biết rằng đôi tình nhân đã từng có một phép hôn phối được cử hành trước đó, dòng họ Capulet đã chuẩn bị cho Juliet một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối có gốc hoàng gia. Juliet quá hoảng sợ, chạy đi tìm vị linh mục từng thực hiện phép hôn phối trước kia để cầu cứu. Vị linh mục này đã đưa cho Juliet một liều thuốc ngủ cực mạnh, dặn cô uống vào có thể chìm vào giấc ngủ sâu như chết, điều này sẽ ngăn không cho gia đình cử hành hôn lễ như họ dự tính. Khi gia đình tưởng Juliet đã chết, họ sẽ tổ chức đám ma, đưa xác cô vào nhà mồ. Trong khi ấy, linh mục sẽ tìm cách báo tin cho Romeo đến nhà mồ, đưa nàng đi trốn. Mọi chuyện ban đầu đã diễn ra theo như dự tính, nàng tiểu thơ Juliet xinh đẹp đột ngột qua đời trước ngày cưới gây bàng hoàng cho tất cả. Đám tang của nàng được cử hành rất lớn, sau đó Juliet được đưa vào nằm trong nhà mồ đá của giòng họ… Còn nói về lá thư của vị linh mục báo tin cùng giải thích sự việc cho Romeo lại không bao giờ đến được tay anh ta. Từ một nơi xa, Romeo chỉ biết rằng người yêu đã chết, trong đớn đau tột cùng, anh tức tốc trở về Verona, tìm cách lẻn vào nhà mồ với ý định sẽ quyên sinh chết cùng người yêu. Họ sống không được gần nhau thì khi chết, chàng trai muốn họ phải có nhau mãi mãi. Khi Romeo vào được bên trong nhà mồ, anh gào khóc bên xác bất động của người yêu. Kế đó, anh lôi ra lọ độc dược cất sẵn bên người. Chàng trai si tình, đau khổ nốc chưa cạn hết liều thuốc độc cực mạnh đã đổ gục ngay xuống bên xác người yêu… Oái ăm thay, ngay khi ấy Juliet đang từ từ tỉnh dậy. Nhìn xác người yêu, nhìn chai thuốc độc, cô đã hiểu ra hết câu chuyện, rằng đã có một sự hiểu lầm ghê gớm ở đây. Cũng như Romeo, đối với Juliet, mất người yêu là mất tất cả, trong cơn tuyệt vọng, nàng tiểu thơ đã kề miệng uống hết phần độc dược còn sót lại trong lọ rồi đổ gục xuống, cùng chết bên người yêu. Thân xác họ quấn lấy nhau như lời thề ước. Đôi tình nhân trẻ trước đây chỉ đến được với nhau trong lén lút thì nay họ đã được nằm cùng nhau trong một nhà mồ… Vài hôm sau, gia đình Juliet mở cửa nhà mồ để tiến hành kế tiếp những nghi thức chôn cất. Họ phát giác ra cặp tình nhân Romeo – Juliet nằm chết bên nhau. Theo câu chuyện thì gia đình Romeo đã đến đưa xác anh về chôn cất. Chính vì hai cái chết quá đau thương và thảm thiết này, hai gia đình giàu có và thế lực đã xóa bỏ tất cả những thù hằn mà họ từng có trước đây…

Tìm hiểu xuất xứ của câu chuyện tình Đây là câu chuyện dân gian truyền miệng của xứ Ý Đại Lợi trong thời Trung Cổ. Có ít nhất ba nhà văn đã ghi chép lại qua các cuốn sách của họ về câu chuyện tình, có thể kể là The Newly Discovered Tale of Two Young Lovers and of Their Pitiful Death at the Time of Bartolomeo della Scala, do nhà văn Luigi Da Porto viết, xuất bản năm 1531; rồi The Tragical History of Romeus and Julliet của ông Arthur Brooke, xuất bản năm 1562; và Palace of Pleasure của ông William Painter năm 1567. Tuy nhiên khi câu truyện dân gian được đại thi hào người Anh William Shakespeare biên soạn thành vở kịch, trình diễn trên sân khấu, đã trở nên vô cùng nổi tiếng sau đó. Năm 1595-1596 vở kịch Romeo & Juliet lần đầu tiên được trình diễn cho hoàng gia Anh Quốc và nữ hoàng Elizabeth I xem. Cuốn sách dưới ngòi bút của đại thi hào Shakespear có tựa đề The Most Excellent and Lamentable Tragedie of Romeo and Juliet lần đầu tiên xuất bản năm 1599. Tác phẩm sau đó có sửa đổi và hoàn thiện, phát hành lần thứ hai vào năm 1623. Đây là phiên bản mà ngày nay các học sinh được học trong các trường trung học, sinh viên các ngành kịch nghệ nghiên cứu để lên giảng đường và là phiên bản chính thức được sử dụng trong ngành văn chương, giáo dục, và văn hóa của nhiều quốc gia. Thi hào William Shakespeare chưa bao giờ đặt chân đến Verona của Ý Đại Lợi, nhưng ông đã dựa vào các tác phẩm văn xuôi để viết nên kịch bản dành cho sân khấu. Ông cũng đưa thêm vào những tình tiết lâm ly cùng nhiều vai phụ khác nhau… Khi vở kịch trở nên nổi tiếng khắp thế giới thì câu chuyện mới thực sự trở thành huyền thoại của tình yêu bất diệt, được những kẻ yêu nhau đón nhận trong đồng cảm và nước mắt. Câu chuyện có nguồn gốc, xuất xứ từ Verona, không mấy nổi tiếng, nhưng qua ngòi bút của thi hào Shakespeare, kịch bản trở nên nổi tiếng vang dội, đã chu du khắp thế giới, cuối cùng trở ngược về nổi đình nổi đám muộn màng ngay tại chính nơi xuất phát. Nhiều cuốn sách, nhiều kịch bản khác đã được viết thêm bởi các nhà văn khác sau đó. Họ cho thêm nhiều tình tiết khác nhau, thậm chí có dị bản còn cho câu chuyện lùi xa vào thời La Mã Cổ Đại chứ không phải thời Trung Cổ.

Một chuyện vui cũng nên nhắc lại về bức tượng đồng của Juliet được đặc bên ngoài căn nhà. Không biết từ đâu và tại sao mà hàng ngàn du khách khi đến đây xếp hàng chụp hình, ai nấy cũng đều đặt tay lên bộ ngực no tròn của bức tượng đồng và chụp hình, họ bảo đó là “lấy hên”. Tới phiên tôi, tôi nhất định không làm vậy mà chỉ đứng cười toe toét. Hơn 50 bạn đồng hành đồng loại la to “touch it, Hùng” (sờ đi chứ, Hùng ơi), tôi cũng hét lại thật to “No, I can’t, she is only thirteen” (Không được đâu, cô ta mới có 13 tuổi thôi mà)… Mọi người đã cười ngả nghiêng… Vậy mà sau đó, có một cô đến bắt chuyện với tôi, cô tự giới thiệu là giáo viên tại Mỹ. Cô ấy nói đã cảm động với câu nói của tôi, cô bảo tôi đã gởi một lời nhắn nhủ, tuy vui, nhẹ nhàng nhưng cũng là một nhắc nhớ đến cho mọi người có mặt tại đó – rằng trẻ em dưới tuổi vị thành niên cần được bảo vệ khỏi những xâm phạm, nhất là xâm phạm tính dục.

Nhà Mồ chôn Juliet Cũng theo các cuộc nghiên cứu, khảo sát lịch sử do chính quyền thành phố và những nhà sử học thực hiện, họ đã kết luận ngôi giáo đường San Francesco al Corso ngày nay đã từng có một căn nhà mồ dành cho những quý tộc tại Verona trong thời Trung Cổ. Các nghiên cứu cũng cùng đồng ý rằng chiếc hòm đá ấy chính là hòm của Juliet. Trước khi thi thể được đưa vào hòm, Juliet được đặt nằm bên trên một phiến đá (phiến đá này hiện giờ đã mất), là nơi đôi tình nhân cùng nằm chết trước khi các tập tục tẩn liệm được thực hiện. Ngôi giáo đường này hiện giờ được sử dụng như một viện bảo tàng của thành phố. Mái vòm bên trên đã hư đổ theo thời gian. Một phần cũng vì trong nhiều thế kỷ, nhiều cặp tình nhân đến đây đục đẽo, gỡ lấy đá đem về làm kỷ niệm. Vào năm 1868, chiếc hòm bằng đá cẩm thạch ấy đã được dời vào một vị trí bên trong của tòa nhà, mái vòm được xây lại để bảo vệ, và đây không phải là vị trí nguyên thủy của căn nhà mồ. Nhiều kiến trúc nguyên thủy khác bên trong ngôi giáo đường cũng đã bị hư hại vì bom đạn trong chiến tranh thế giới thứ II vào năm 1944-1945. Tòa nhà đã chính thức trở thành một viện bảo tàng, mở cửa cho du khách vào xem từ năm 1970. Ngày nay vào đây, du khách không những chỉ được thăm căn nhà mồ của Juliet mà còn được chiêm ngưỡng các tác phẩm điêu khắc, nghệ thuật của những nghệ sĩ tại thành phố Verona từ thế kỷ XI cho đến cận đại.

Cho dù có tranh cãi về câu chuyện, du khách vẫn nườm nượp đổ về Nước Ý Đại Lợi là một trong những quốc gia có lượng khách du lịch đến thăm nhiều nhất ở Châu Âu (chỉ đứng sau nước Pháp), nhờ vào những danh lam, thắng cảnh, những di tích về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, những câu chuyện cổ tích huyền thoại xưa… Trong nhiều thế kỷ qua, thành phố Verona vẫn luôn có những tranh cãi về câu chuyện tình Romeo và Juliet, người tin, kẻ không tin. Và cho dù đó là một câu chuyện cổ tích, một huyền thoại hay câu chuyện là có thật trong lịch sử, du khách vẫn cứ nườm nượp đổ về đây mỗi ngày. Ngành du lịch và phố xá cũng nhờ du khách mà trở nên sầm uất với các cửa tiệm thời trang sang trọng, khu phố cổ với các tiệm bán hàng lưu niệm, những nhà hàng từ sang trọng cho đến bình dân, rồi hệ thống khách sạn, nhà trọ, các rạp hát trình diễn nghệ thuật luôn sáng đèn hằng đêm, các viện bảo tàng luôn đầy du khách vào thăm viếng, hàng ngàn cuốn sách và các họa phẩm in ấn về Romeo và Juliet được bán chạy như tôm tươi trong từng phút giây, đài phát thanh địa phương còn có cả một mục gỡ rối tơ lòng và thư gởi cho Juliet mà thính giả là những cô cậu choai choai vừa mới biết yêu… Nếu không có hai nhân vật Romeo và Juliet thì sinh hoạt văn hóa và kinh tế của Verona đã không phồn thịnh được như ngày nay. Ngay cả những người không tin rằng Romeo và Juliet là những nhân vật có thật trong lịch sử thì họ cũng vẫn đang sinh nhai và hưởng lợi từ câu chuyện tình lãng mạn này…

Tôn Thất Hùng

Cách Cầu Cơ Thành Công 100% – Tìm Hiểu Nguồn Gốc Của Trò Cầu Cơ / 2023

Tìm hiểu về nguồn gốc và cách chơi cầu cơ

1 Nơi bắt đầu mở ra câu truyện về bàn cầu cơ

Tên phát âm là wee-gee theo ngôn ngữ tiếng Pháp/Đức có nghĩa là vâng phải  một dùng cụ dùng để giao tiếp với thế giới tâm linh biết đến đầu tiên tại nước Mỹ. Tồn tại hơn 120 năm nhưng số lượng bán ra của chiếc bảng biết nói không hề dừng lại. Chiếc bảng là một điều bí ẩn trong lịch sử nước Mỹ  những năm 1910 -1920 vì cách thức hoạt động và bí ẩn của nó mà đến nay nhiều người vẫn chưa lí giải được cũng như có nhiều dự đoán rất khác nhau.

Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết về hiện tượng vật dụng cơ (hình trái tim) có thể chạy lòng vòng trên bàn nhưng không ai có thể đưa ra lí lẽ thuyết phục . Theo như lời kể của người đã từng chơi cầu cơ : mặc dù họ không tác động lực vào cơ để cho nó di chuyển tuy nhiên cơ có thể chạy ngẫu nhiên trên bàn và đặc biết hơn nó có thể giải đáp chính xác đến khó tin những câu hỏi mà người chơi đặt ra .

Nhiều người cho rằng đó là sự giải đáp và chỉ dẫn của các linh hồn đã nhập vào cơ để cho họ biết những điều tương lai – quá khứ – hiện thực. Chiếc bảng hấp dẫn đến mức không chỉ các nhà khoa học,nghiên cứu mà một bộ phận lớn người dân đã không ngần ngại bỏ tiền ra mua chiếc bảng biết nói này . Bond và Peters một trong những người đồng hành chế tạo ra bộ trò chơi  đã từng đề xuất ý kiến cấp bằng sáng chế cho nó tại văn phòng ở Washington. Khi đó người đứng đầu văn phòng đã yêu cầu nếu sử dụng bàn cầu cơ có thể đánh vần được tên  ông thì sẽ được cấp bằng sáng chế, thật ngạc nhiên chiếc bảng đánh vần đúng từng chữ cái  trong tên người này . Không hiểu do hai người đóvô tình biết tên vị trưởng phòng hay là sự chỉ dẫn của các hồn ma nhưng ngay hôm sau tức ngày 10/2/1891 thi một vị cán bộ trong văn phòng mặt tái nhợt run rẩy đã trao bằng sáng chế cho Bond , Bàn cầu cơ trên tấm bằng không ghi rõ cách thức hoạt động của trò chơi mà đơn giản chỉ thừa nhận sự xuất hiện của nó.

Năm 1930 hai người phụ nữ ở Buffalo đã giết một người khác chỉ vì nghe lời của chiếc bảng

Năm 1916 bà Peari Curran đã được lên trang nhất khi nói về cuộc đời viết văn thơ của mình nổi tiếng nhờ một linh hồn phụ nữ người Anh đã chỉ dẫn.

Và còn rất nhiều câu chuyện li kì khác về chiếc bảng. Ngày nay chiếc bảng được cấu tạo đơn giản hơn trước, Và ai cũng có thể tạo được 1 chiếc bảng cầu cơ, và chính điều đó đã thu hút một lượng lớn các bạn trẻ tò mò muốn tìm hiểu và chơi để hỏi đáp về các chuyện tương lai-quá khứ của chính mình.

Ở Trung Quốc thì  trò chơi này cũng đã du nhập vào những năm khoảng 1100 trước Công nguyên với hình thức Cầu Cơ Bút.

Về việc chơi cầu cơ ,nếu đối với người bình thường chỉ có thể gọi được những linh hồn,vong linh cấp thấp. Nhưng đối với người tu đạo thì có thể triệu thỉnh được cả 1 vị thần linh tùy theo năng lực của họ.

Riêng về Mật Tông thường nghiên cứu về những câu chú bí mật, phương pháp hành trì và những điều bí ẩn chưa được hé lộ.

Ví dụ như đối với các ngôi chùa hiện nay hầu hết đều có trì chú Đại Bi ( chú này thuộc về Mật Tông). Lịch sử và các câu truyện linh ứng của chú thì rất là nhiều, từng có các bà mẹ cầu có con và đã được linh ứng, từng có những đôi trai gái cầu tình duyên và đã có nhân duyên như ý . Điển hình như mình muốn nhắc đến câu truyện về Thiền Sư Từ Đạo Hạnh cuộc đời ông đã có nhiều giai thoại lớn,nhỏ.

Theo như mình biết thì các câu chú của Mật Tông luôn có những quy tắc và nguyên tắc để tu tập nhưng nếu bạn trì đủ số lượng quy định của mỗi câu chú thì sẽ đạt được năng lực và linh ứng của nó, vì các câu chú được thuyết ra bởi các vị phật nên nó rất chân thật và vi diệu.  Đặc biệt là Chú Đại Bi nếu bạn có tìm hiểu về Quan Thế Âm Bồ Tát thì sẽ biết được 12 đại nguyện lớn của Quan Âm lớn như thế nào. Chú Đại Bi cũng có đi kèm với 42 thủ nhãn ( chính là 42 con mắt soi thấu thế gian,nhìn thấu vạn pháp) trong những cánh tay của ( thiên thủ thiên nhãn Quan Âm – ngàn tay) ví dụ như một số thủ nhãn trong 42 thủ nhãn sau đây.

https://www.facebook.com/groups/chiasetruyentamlinhcothat/

2 Hướng dẫn tự tạo bàn cầu cơ đơn giản và cách sử dụng

Lưu Ý Mạnh Các Bạn phải ghi nhớ những điểm sau :

– Không chơi 1 mình vì như thế sẽ bị ma nhập ( không tin thì cứ thử )

– Phải có một nhóm từ 3 người mới được chơi

– Ghi nhớ từng chữ cái để ghép thành đáp án trả lời

– Vật mà bạn làm cơ có thể tùy ý ( đồng xu , cốc,ván quan tài.. )

– không chơi với Quỷ ( nó sẽ hại mình ai ngu ráng chịu )

– Không nên chơi quá 10 lần

– Không được đẩy đồng xu vì nó sẽ tự chạy ( chỉ nên chạm nhẹ )

Hướng dẫn vẽ bàn cầu cơ

Khá đơn giản các bạn có thể vẽ trực tiếp trên giấy A4 . Có nhiều cách vẽ nhưng sau đây mình sẽ giới thiệu 2 mẫu đơn giản cho các bạn tham khảo

Mẫu 1

Mẫu 2

Hướng dẫn cách chơi cầu cơ

Ở đây mình sẽ hướng dẫn theo mẫu 1 vì  những bạn mới lần đầu chơi thi nó khá đầy đủ.

Trước tiên các bạn hãy đặt đồng xu lên giữa trang giấy sau đó đọc câu thần chú : ” Cầu ma quỷ thánh thần trên thiên đàng dưới địa ngục xin hãy nhập vào đồng xu này, 3 nén hương thắp sẵn. Xin mời người lên chơi, xin mời người lên xơi, làm cho cơ quay cơ chạy vòng vòng. Xin mời người lên chơi,xin mời người cùng xơi “

Còn đây là lời khấn nếu muốn cơ lên ( trước khi khấn hãy đặt tay vào đồng xu  đặt nhẹ thôi nha để hồn có đủ sức di chuyển đồng xu )

Hồn nào ở chốn non bồng

Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi

Dầu hồn dạo khắp mọi nơi

Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian

Cảnh tiên hạc nội mây ngàn

Làm cho hồn cũng ngỡ ngàng kém vui

Cảnh tiên xa lạ bùi ngùi

Sao bằng cảnh tục hồn vui với người

Đờn ca múa hát vui cười

Trà thơm bánh ngọt trái tươi đãi hồn

Hồn ơi hãy ghé qua đây

Tâm tình trăng gió nước mây với hồn

Gió to sóng cả dập dờn

Hồn đi lẻ bóng hoàng hôn một mình

Qua đây bè bạn thêm xinh

Ghé đây bè bạn kết tình âm dương

Hồn dầu ở mấy đường cách trở

Nghe lời cầu xin chớ đắn đo

Mấy lời tâm sự nhỏ to

Hồn ai qua đó thấu cho tấm lòng

Hoặc hồn ở bể sông ngọn suối

Hoặc hồn chơi bụi chuối cành đa

Hoặc hồn nương bóng chiều tà

Hoặc hồn lẩn quất la đà mây xanh

Hoặc hồn ở đầu gành cuối bãi

Hoặc hồn dầm mưa dãi gió mãi

Hoặc hồn vấn vít với ai

Hoặc hồn phiêu lãng lạc loài đâu đâu

Hoặc hồn ở dưới hồ sâu

Hoặc hồn lơ lửng bên cầu gió đưa

Hoặc hồn bị gió mưa dồn dập

Hồn lạnh lùng tràn ngập cô đơn

Hồn ghé lại nguồn cơn cạn tỏ

Hồn đừng ngại đường xa bóng nhỏ

Hồn cùng ta mở ngỏ treo lời

Hồn về ẻo lả chơi vơi

Cùng ta tâm sự chuyện đời muôn năm.

Chơi cầu cơ có nhiều cách khấn: Cầu cơ ma thì ai cũng có thể cầu được còn cơ tiên thì thường những người học đạo mới có thể cầu và cách thức cũng có hơi khác một chút . Khi gọi hồn nhập rồi bạn nên hỏi nó thuộc tầng lớp nào , nếu là quỷ tất cả dùng sức đẩy đồng xu về phía chữ xuất để đuổi nó không nên chơi với quỷ vì nó có thể sẽ hại và chơi xấu. Khung giờ tốt để cầu cơ tiên là từ 3 giờ sáng đến 7 giờ sáng.

Nguồn Gốc Motif Truyện Kể Dân Gian Từ Những Ý Niệm Và Thực Hành Nghi Lễ Nguyên Thủy / 2023

Bắt đầu với lý thuyết tự sản sinh cốt truyện trong nghiên cứu truyện kể dân gian, các nhà nhân loại học Anh thế kỷ 19 đã gắn tác phẩm văn học dân gian với hiện thực lịch sử xã hội của dân tộc mà nó phát sinh và truy tìm cội nguồn văn học từ bản chất tâm lý tộc người, họ xem văn học dân gian là sự phản ánh tri thức và văn hóa của nhân loại. Không như các nhà khoa học của trường phái Phần Lan giải thích sự giống nhau của truyện cổ tích giữa các dân tộc trên thế giới là do các dân tộc có nguồn gốc chung hay do sự vay mượn, truyền bá, di chuyển cốt truyện, mà các nhà nhân loại học cho rằng sự giống nhau của các hiện tượng văn hóa của các dân tộc vốn không có mối quan hệ gì với nhau, cho nên không thể giải thích sự giống nhau đó bằng thuyết vay mượn hay thuyết di chuyển được. Họ nghiên cứu cụ thể đời sống của các dân tộc thời tiền sử và xác định được rằng có những quy luật của tâm lý nhân loại chung cho tất cả các dân tộc và trong những điều kiện sinh hoạt giống nhau thì sẽ sinh ra phản ánh tâm lý giống nhau. Chính những quy luật chung trong quá trình phát triển tâm lý là lý do của hiện tượng đồng nhất, lặp lại của nhiều huyền thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích… ở nhiều dân tộc khác nhau.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa tiền sử người Anh E.Tylor thì có sự thống nhất trong quá trình phát triển lịch sử của loài người , nhân loại nói chung đều phải cùng trải qua những giai đoạn tiến hóa như nhau về mặt tâm sinh lý loài người, nghĩa là quá trình tiến hóa đó chỉ có thể đi từ sự ít hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh hơn và văn hóa tinh thần cũng phải trải qua một quá trình như vậy. Tâm lý nhân loại là thống nhất trong suốt tiến trình phát triển và điều đó quy định tính thống nhất của các hiện tượng văn hóa như ngôn ngữ, tôn giáo, folklore. Kế tiếp theo quan điểm của Tylor, nhà dân tộc học chúng tôi cũng cho rằng đời sống xã hội được cấu thành bởi các thiết chế xã hội, do đó sự giống nhau của các hiện tượng folklore có nguyên nhân từ sự giống nhau giữa các thiết chế xã hội, đóng góp của chúng tôi từ quan điểm này là đã “mở ra khả năng rọi ánh sáng vào nguồn gốc của rất nhiều motif và cốt truyện cổ tích” (1).

Vào giữa thế kỷ 20, trường phái nghi lễ – huyền thoại với đại diện là nhà nhân loại học người Anh James George Frazer và trường phái chức năng với đại diện là Malinowski đã ra đời và phát triển mạnh mẽ ở Phương Tây. Lý thuyết nghiên cứu của hai trường phái này về cơ bản gần gũi với nhau: “Về nguyên tắc, huyền thoại và nghi lễ trong các nền văn học nguyên thủy và cổ đại hợp thành một thể thống nhất (về thế giới quan, chức năng, cấu trúc). Trong xã hội nguyên thủy, huyền thoại không có nội dung lý luận, không phải là một phương tiện nhận thức khoa học, huyền thoại chỉ thực hiện một chức năng thực tiễn đơn thuần là duy trì truyền thống, duy trì sự liên tục của nền văn hóa bộ lạc, bằng cách hướng tới cái thực tại siêu nhiên của những sự kiện tiền sử” (2).

1. Motif truyện kể dân gian từ những ý niệm nguyên thủy

Trong khi tìm kiếm nguồn gốc lịch sử xã hội của các motif truyện kể dân gian, các nhà nghiên cứu folklore đã nhận thấy truyện cổ tích không phải là sự phản ánh trực tiếp của lịch sử xã hội và lịch sử xã hội cũng không phải là “hình tượng thực tế sống” của folklore. Đồng thời không phải bất kỳ motif truyện kể nào cũng có thể tìm thấy được nguồn gốc của nó trong phong tục nghi lễ mà có khi nguồn gốc của nó lại nằm ở những điều chưa từng được thực hiện, hay chưa từng có thật trong thực tế lịch sử. Đ ể chứng minh quan điểm này, chúng tôi dẫn lại ở đây thí dụ của nhà nghiên cứu folklore học người Nga V.Ia.Propp. Ô ng đưa ra thí dụ về hình tượng con ngựa có cánh, ngôi nhà đứng trên chân gà, những ống sáo thần, những dãy núi đánh nhau, những tên khổng lồ một mắt… và ông cho rằng đừng mất công tìm kiếm sự phản ánh của các hình tượng này trong lịch sử vì chắc chắn là nó không tồn tại. Cái mang tính lịch sử cần được giải thích ở đây chính là lý do của sự xuất hiện những hình tượng đó, cần phải giải thích cho được cơ sở của những quá trình tư duy nào đó của con người mà chúng ta còn chưa được biết đến đầy đủ , những quá trình tư duy đã đưa đến sự xuất hiện của các hình tượng “không có thật” kia trong truyện cổ tích. Nghĩa là để giải thích cho được nguồn gốc của những motif truyện cổ tích nêu trên, nhà nghiên cứu cần tìm đến những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của những ý niệm nguyên thủy về các hình ảnh đó.

Nói đến nguyên nhân đã gợi lên tư duy của người tiền sử về hình tượng con ngựa có cánh, Propp cho rằng đó là do sự kết hợp giữa ngựa và chim, sự kết hợp đó xuất hiện là do cùng với việc thuần dưỡng ngựa, vai trò vật thờ phụng đã chuyển từ chim sang ngựa. Hoặc với hình tượng con thú mình ngựa đầu hươu thì theo Propp đó là sự kết hợp giữa hươu và ngựa, vì trong quá khứ đã từng có thời kỳ mà hươu được dùng làm phương tiện di chuyển. Dù sự kết hợp đó không hề xẩy ra trên thực tế nhưng con người đã luôn hình dung, tưởng tượng về nó mạnh mẽ đến nỗi, nó trở thành một hình tượng mang tính sáng tạo được đưa vào văn học dân gian (4). Chúng ta thấy rằng, trong luận điểm này của mình, Propp đang muốn nói đến sự xuất hiện của các motif truyện kể dân gian từ những ý niệm của con người tiền sử.

Ngoài ra Propp còn tiếp tục làm rõ quan điểm motif có nguồn gốc từ những ý niệm nguyên thủy bằng cách phân tích cấu tạo và ý nghĩa của m otif sinh đẻ thần kỳ . Đây là một motif đặc trưng và rất phổ biến trong truyện kể dân gian t hế giới, motif này xuất hiện không chỉ trong truyện cổ tích thần kỳ mà cả trong thần thoại, truyền thuyết và thậm chí là trong sử thi về các nhân vật anh hùng, dũng sĩ… Đây được xem là một motif rất quan trọng trong bất kỳ cốt truyện nào có chứa đựng nó, vì motif này thường xuất hiện ở đầu câu chuyện, giới thiệu hoàn cảnh xuất thân thần kỳ của nhân vật chính trong truyện. Những hình thức đa dạng của sự thụ thai có tính thần kỳ mà Propp đưa ra trong bài viết của mình là: thụ thai do ăn trái cây, do cầu nguyện, do uống nước, do người chết đầu thai, do người mẹ ăn phần thân thể còn lại của người chết… Hay thụ thai do tiếp xúc, đụng chạm, do nuốt giọt máu hay cục máu đông, do nuốt ngọc trai hoặc đá, do ánh nắng mặt trời hoặc nước mưa, do thức ăn của cầm thú hoặc trứng, đặc biệt còn có hình thức người vợ thụ thai do ăn hai cọng cỏ mọc trên mộ chồng và sinh ra được hai đứa con trai hay một cô gái mang thai khi thần chết bước vào lều của cô và bé gái mà cô sinh ra chính là con của thần chết (5).

Theo Propp : ” M otif này không chỉ thấy có trong truyện cổ tích mà theo sự phán đoán hiện nay thì quan niệm về sự thụ thai trinh khiết phổ biến trong mọi tôn giáo trên thế giới – từ những tôn giáo nguyên thủy và xưa nhất cho tới những tôn giáo sau này, kể cả đạo thiên chúa” . Motif sinh đẻ thần kỳ xuất phát từ ý niệm về sự thụ thai trinh khiết của người phụ nữ, từ niềm tin nguyên thủy cho rằng đứa trẻ không phải là kết quả trực tiếp của hành động giao phối nam nữ. Mà trong trường hợp này thì “bất cứ sự cố nào (như có một con thú chạy qua, có một cơn gió nổi lên, người phụ nữ nuốt phải hòn sỏi nhỏ hoặc hột hồ đào…) theo cách nghĩ của người nguyên thủy đều được coi là nguyên nhân sinh ra đứa trẻ . Trong một thí dụ khác, khi nghiên cứu về ” phản ảnh tiếng cười ma thuật dựa trên ý niệm cho rằng người chết không cười, chỉ có người sống cười mà thôi “. Tiếng cười nghi lễ trong folklore Nga, Propp đã tìm kiếm nguồn gốc lịch sử xã hội của motif nàng công chúa không cười và ông khẳng định rằng motif này

Có thể làm rõ thêm quan niệm motif có nguồn gốc từ ý niệm nguyên thủy bằng motif những đứa trẻ bị ăn thịt, tất nhiên chúng ta khó có thể tìm thấy trong hiện thực lịch sử có một phong tục nào diễn ra y hệt như thế mà chỉ có thể dựa vào tư duy nguyên thủy để tìm hiểu vì sao có sự hình dung đó. Thử đặt ra giả thuyết rằng trong tư duy của người nguyên thủy thì cái chết (đối với những đứa trẻ thành niên) có ý nghĩa như là sự “làm lại”, đứa trẻ được sinh ra sau khi chết sẽ là một đứa trẻ đã trưởng thành. Gắn liền với quan niệm này là một loạt những hành vi ma thuật, những nghi lễ thể hiện quá trình bị ăn thịt của những đứa trẻ do thú dữ, yêu tinh, thần mặt trời hay thần rừng… thực hiện.

Ở Việt Nam, khi tìm kiếm nguồn gốc lịch sử xã hội của motif người dì ghẻ, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên trong bài viết hi nghiên cứu về hình tượng Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám đã nhận thấy rằng “quan niệm chết do bị dội nước sôi để trở nên trắng đẹp hơn xưa là một quan niệm có thực, hay đúng hơn, đã từng có thực trong thế giới quan của con người thời xưa” (8). Bên cạnh đó, k “r ất có thể sự xuất hiện thường xuyên của hình ảnh các con vật với vai trò cái lốt, vai trò là nhân vật chính trong motif người mang lốt ở các cốt truyện về đề tài này đã phản ánh một cách gián tiếp và khá phức tạp sự du nhập vào truyện cổ tích thần kỳ một phong tục, tín ngưỡng xa xưa của nhiều dân tộc. Đó là quan niệm sùng bái loài vật bắt nguồn từ tín ngưỡng tôtem vật tổ thời nguyên thủy mà nay đã không còn giữ nguyên ý nghĩa dân tộc học của nó nữa. Mặc dù đã phai nhạt dấu vết nguyên thủy nhưng nếu suy nguyên cặn kẽ và thận trọng, ta cũng có thể tìm ra các lớp nghĩa tối cổ của nó để từ đó chúng ta thêm hiểu được vai trò và tác dụng của motif người mang lốt một cách sáng rõ và chắc chắn hơn trong hình tượng nhân vật xấu xí mà tài ba” (9). Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế cũng đã đưa ra một vài lý giải ban đầu về nguồn gốc phong tục, tín ngưỡng của motif người mang lốt. Theo bà

Ta có thể nhận thấy rằng sự trùng hợp giữa motif và phong tục ở đây là do truyện cổ tích đã phản ánh thực tế lịch sử hay nói cách khác là do motif truyện kể dân gian được sản sinh ra từ những thực hành nghi lễ. Đồng thời những biểu hiện của các motif xoay xung quanh chức năng điều cấm kị không chỉ cho thấy các hình thức thực hành nghi lễ trong quá khứ mà còn cho thấy những ý niệm của người xưa về cái chết.

Đồng thời, k hi nghiên cứu về sự diễn hóa của motif dũng sĩ diệt rắn trong kiểu truyện Thạch Sanh ở Việt Nam và Đông Nam Á, Nguyễn Bích Hà thấy rằng hình tượng con rắn và quan niệm của dân gian về vai trò của rắn đã có nhiều thay đổi khi motif hiến tế dân g nộp vật hy sinh chuyển từ thần thoại sang truyện cổ tích. Bà cho rằng, “từ quan niệm thần thoại suy tôn rắn tượng trưng cho nước – tự nhiên sinh lợi và gây hại cho con người mà có nghi lễ thờ cúng hiến tế”. Theo bà chi tiết cống nộp sinh mạng người sống cho rắn chính là dấu vết của tục hiến tế vật hy sinh trong đời sống của cư dân cổ. Để tỏ lòng tôn kính và trung thành tuyệt đối của mình, con người phải lấy thân xác mình làm vật hiến tế thần linh (sau đó khá lâu, vật hiến tế mới được thay thế bằng súc vật và hoa quả). Đồng thời, motif hiến tế này khi chuyển từ thần thoại sang truyện cổ tích đã có sự thay đổi rõ rệt theo trình độ phát triển của tư duy loài người ngày một tiến bộ. Lễ hiến tế dâng nộp vật hy sinh cho rắn thần từ trang nghiêm, tự nguyện với ước mong giải hạn của dân chúng đã được chuyển thành sự cống nộp đầy đau khổ và không thể cưỡng lại được của con người cho ác vật. Từ đó xuất hiện thêm nhiều chi tiết mới, motif mới trong cốt truyện cổ tích Thạch Sanh, đó cũng là lý do cho sự xuất hiện của nhân vật dũng sĩ trong kiểu truyện này. Đó là các chi tiết: lừa gạt để trốn cống nộp, bị lừa gạt để trở thành vật hy sinh không tự giác và là kẻ đối nghịch bất đắc dĩ, mượn tay người khác để thoát khỏi nạn cống nộp (gặp dũng sĩ và nhận được l ờ i hứa cứu mạng) (11).

Chú thích:

(1),(7),(8). Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian – Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, NXB Giáo Dục, HCM, tr.256, 454, 433.

(2). Nhiều tác giả (2007), Huyền thoại và văn học, NXB ĐHQG, TPHCM, tr.14.

(3). E.M. Melentisky (1958), Nhân vật truyện cổ tích thần kỳ – nguồn gốc của hình tượng, NXB Văn học Phương Đông (Phạm Nguyên Trường dịch, Chu Xuân Diên hiệu đính).

(4),(5),(6). Tuyển tập chúng tôi Propp (2003), tập 2. NXB. Văn hóa Dân tộc, tr.759, 655, 657

(9), (12). Nguyễn Thị Huế (1999), Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, H. tr.74, 100.

(10). Tuyển tập chúng tôi Propp (2003), tập 1, NXB.Văn hóa Dân tộc, tr.213.

(11). Nguyễn Bích Hà (1998), Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, NXB. Giáo Dục, H, tr.360.

Nguồn: Nhân học và cuộc sống, tập 2, NXB. ĐHQG TPHCM, 2014

Người Đi Tìm Hình Của Nước / 2023

Thơ Chế Lan Viên giàu chất suy tưởng, triết lý, phong phú về hình ảnh, với một cảm xúc tinh tế đi liền với một trí tuệ sắc sảo.

“NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC” là một bài thơ hay, đặc sắc, thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Chế Lan Viên.

NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC I / Mở bài : Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Thơ Chế Lan Viên giàu chất suy tưởng, triết lý, phong phú về hình ảnh, với một cảm xúc tinh tế đi liền với một trí tuệ sắc sảo. "NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC" là một bài thơ hay, đặc sắc, thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Chế Lan Viên. Nhà thơ đã diễn tả tâm trạng nhớ thương quê hương, đất nước da diết, khôn nguôi của Bác Hồ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước và niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng của Người khi đã tìm được chân lý cách mạng "Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác! Khi bờ bãi dần lui, làng xóm khuất, Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre. Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ? Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương! Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở, Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương! Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con! Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp! Một mái nhà yêu rủ bóng xuống tâm hồn. Trǎm cơn mơ không chống nổi một đêm dày Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi Lòng ta thành con rối Cho cuộc đời giật dây! Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ Tìm đường đi cho dân tộc theo đi. Hiểu sao hết Người đi tìm hình của Nước Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người Một góc quê hương, nửa đời quen thuộc, Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi... Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai Thế đi đứng của toàn dân tộc Một cách vinh hoa cho hai mươi lǎm triệu con người. Có nhớ chǎng, hỡi gió rét thành Ba Lê? Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa bǎng giá Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya? Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi, Những đất tự do, những trời nô lệ, Những con đường cách mạng đang tìm đi. Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa. Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây? Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử? Bao giờ dải Trường Sơn bừng tỉnh giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây? Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao?... Ơi, độc lập! Xanh biếc mấy là trời xanh Tổ quốc Khi tự do về chói ở trên đầu. Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc Sao vàng bay theo liềm búa công nông. Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin. Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: "Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!" Hình của Đảng lồng trong hình của Nước. Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười. Bác thấy: dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt Ruộng theo trâu về lại với người cày Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, biển bạc... Không còn người bỏ xác bên đường ray. Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát Điện theo trǎng vào phòng ngủ công nhân Những keó quê mùa đã thành trí thức Tǎm tối cần lao nay hóa những anh hùng. Nước Việt Nam nghìn nǎm Đinh, Lý, Trần, Lê Thành nước Việt nhân dân trong mát suối Mái rạ nghìn nǎm hồng thay sắc ngói Những đời thường cũng có bóng hoa che. Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc Tuyết Matxcơva sáng ấy lạnh trǎm lần Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt Lênin mất rồi! Nhưng Bác chẳng dừng chân. Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai." II / Thân bài : Khổ 1: Hình ảnh Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước : "Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi" Cách ngắt nhịp thơ 5/5 và dấu chấm giữa câu làm cho dòng thơ mở đầu mười chữ bị ngắt làm hai đoạn nói lên tình cảnh bức bách và tâm trạng quyến luyến Đau xót trước cảnh quê hương, "đất nước đẹp vô cùng" đắm chìm trong cảnh lầm than, nô lệ nên "Bác phải ra đi". Trong bóng Người mang nặng nỗi đau mất nước, nhân dân đau khổ, tủi nhục dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nó thôi thúc Bác quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Với niềm xúc động chân thành, Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc cuộc hành trình trên đại dương bao la. Nhà thơ như muốn hóa thân thành con sóng đưa Bác vượt trùng khơi : "Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác" Câu thơ đến đột ngột thể hiện tâm trạng vội vàng, cuống quýt như muốn kịp theo chân Bác để cùng chia sẻ những nỗi vất vả, gian truân trong cuộc hành trình. Hình ảnh tưởng tượng làm sống lại giây phút lịch sử thiêng liêng. Nó thể hiện lòng kính yêu, lưu luyến của tác giả Con tàu đưa Bác xa dần, xa dần "Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất Bố phía nhìn không một bóng hàng tre" Hình ảnh "bờ bãi", "làng xóm", "hàng tre" có giá trị gợi cảm là biểu tượng cho quê hương xứ sở Từ "bốn phía" gợi không gian mênh mông, rộng lớn. Các từ "dần lui", "khuất", "không một bóng" diễn tả tâm trạng bồi hồi, nỗi cô đơn, bơ vơ của người ra đi Động từ "nhìn" biểu lộ tâm trạng nhớ nước nhớ quê nhà pha lẫn nỗi đau thương da diết, nỗi nhớ đầy đau thương như thấm sâu vào lòng người xa xứ Khổ hai: Tiếp tục khơi sâu tình cảm, tâm trạng buồn đau nhớ nước của Bác: "Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương" Trong "Đêm xa nước đầu tiên" ấy, lòng Bác trĩu nặng nỗi nhớ thương quê hương da diết khôn nguôi. Người trằn trọc, thao thức không sao chợp mắt bởi nỗi nhớ của người ra đi thật sâu sắc và thấm thía. Sóng nước nơi nào cũng là sóng nước. Nhưng trái tim có lý lẽ riêng: đã không phải nước trời quê hương thì tất cả đều xa lạ, ngỡ ngàng: "Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương". Và người ra đi chỉ nằm nghe sóng vỗ ở mạn tàu. Tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên Tâm trạng con người giữa trùng dương mênh mông đi tìm đường cứu nước đang mang nặng tình quê hương sâu nặng : " Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương " Lòng lưu luyến khi từ biệt làm cho đất nước đẹp vô cùng, khi xa mảnh đất quê hương, xa đất nước thân yêu mới càng thấm thía đất nước đau thương. Hai câu thơ nhẹ nhàng, tha thiết như lời tâm sự sâu lắng của người con nhớ quê hương đất nước da diết, khôn nguôi. Tình yêu nước đó rất đỗi nồng nàn, thiết tha, sâu sắc. Khổ ba: "Đêm mơ nước ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà" Với những câu thơ giàu hình ảnh, Chế Lan Viên đã thể hiện thực tinh tế tình cảm yêu nước sâu nặng và nỗi day dứt về vận mệnh đất nứơc, dân tộc của Bác . Đang sống giữa châu Âu tuyết trắng, giữa những hàng cây trơ trụi lá vàng xứ lạnh, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn Bác, trong tiềm thức, làng quê nhiệt đới bốn mùa xanh tươi vẫn hiện về đêm đêm. Giấc chiêm bao "xanh sắcbiếc quê nhà" thể hiện khát khao cháy bỏng của người con xa đất nước. Bác luôn trăn trở, day dứt trước tình cảnh đất nước đang đắm chìm trong cảnh lầm than, nô lệ: "Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa" Hình ảnh đối lập, tương phản "Ăn miếng ngon" _ "đắng lòng vì Tổ quốc", "chẳng yên lòng"_ "ngắm một nhành hoa" cùng với lời thơ chứa chan cảm xúc đã gợi trong lòng người đọc niềm xúc động trước tâm trạng lo lắng, trăn trở nghĩ suy về vận mệnh đất nước của Bác. Người ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghĩ về Tổ quốc đang chịu nhiều thương đau. Trái tim giàu lòng yêu nước của Bác cùng đau với nỗi đau của dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Khổ bốn: Trải qua bao gian lao, thử thách trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Bác đã tìm được chân lý cách mạng: "Luận cương đến Bác hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê Nin" Chuyển biến tâm lý của Bác đã được nhà thơ miêu tả thật tinh tế và xúc động. Qua giọt nước mắt sung sướng, cảm động Chế Lan Viên tài tình đặt ra mối quan hệ giữa hai nhân vật vĩ đại của cách mạng vô sản: Lê Nin và Bác Hồ. Thật sung sướng và hạnh phúc biết bao khi Bác Hồ đã tìm ra con đường cứu nước chân chính. Chủ nghĩa Mác_Lê Nin đã soi sáng tâm hồn Bác. Người đón nhận chân lý cách mạng ấy với tất cả trái tim, khối óc của mình: "Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách Tưởng bên ngòai đất nước đợi mong tin" Hình ảnh nhân hóa sinh động, giàu sức biểu cảm "Bức tường im nghe Bác lật từng trang sách" và "đất nước đợi mong tin" đã thể hiện niềm cảm thông sâu sắc. Tất cả như cùng chia sẻ, hòa cùng niềm sung sướng, hạnh phúc của Bác. Tác giả đã tập trung tái hiện giờ phút Bác Hồ đọc Luận cương của Lê Nin, đây là một thời khắc có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Khổ năm: Bác đã tìm ra hình của Nước. Niềm vui mãnh liệt trào dâng trong lòng Bác: "Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc Cơm áo là đây ! Hạnh phúc đây rồi !" Dòng thơ "Cơm áolà đây ! Hạnh phúc đây rồi !" có hai câu cảm liên tiếp, ngắt nhịp 4/4 đã diễn tả niềm vui náo nức, nồng nhiệt. Nhịp thơ nhanh, lời thơ sảng khóai phù hợp với việc diễn tả niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng của Bác trong giờ phút lịch sử thiêng liêng, trọng đại" "Hình của Đảng lồng trong hình của Nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười" Hình ảnh "Hình của Đảng lồng trong hình của Nước" thật đặc sắc, độc đáo, mới lạ mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Đó là biểu tượng cho vận mệnh đất nước gắn với vận mệnh của Đảng. Đảng cộng sản Việt Nam là linh hồn của dân tộc. Ánh sáng cách mạng cảu Đảng sẽ soi sáng cho dân tộc vững bước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do. Nhà thơ đã bày tỏ niềm tin tưởng mãnh liệt, niềm tự hào về Đảng quang vinh. Cảm nhận sâu xa niềm vui sướng, hạnh phúc bất tận của Bác khi tìm ra con đường cứu nước chân chính, Chế Lan Viên đã viết: "Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười". Hình ảnh đối lập, tương phản trong câu thơ đã tạo được ấn tượng sâu sắc và niềm xúc động trong lòng người đọc. Những giọt nước mắt hạnh phúc và nụ cười sung sướng của Bác còn đọng mãi trong trang sách và cuộc đời hôm nay và mai sau. III / Kết bài: "Người đi tìm hình của Nước" là một bài thơ hay, đặc sắc. Bài thơ là kết quả của sự sáng tạo nghệ thuật mới lạ, độc đáo và cảm xúc tinh tế của Chế Lan Viên. Với các biện pháp tu từ đặc sắc phong phú đạt hiệu quả nghệ thuật cao và hình tượng thơ giàu tính thẩm mĩ, Chế Lan Viên đã tạo nên hình tượng Bác Hồ _ Người đi tìm hình của Nước, khơi dậy trong lòng người đọc niềm xúc động chân thành trước tấm lòng yêu nước thiết tha, sâu nặng và tinh thần phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng Cách mạng của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Đọc bài thơ, en càng thêm yêu kính, cảm phục, biết ơn Bác Hồ, nguyện sống xứng đáng là lớp tuổi trẻ của thành phố được vinh dự mang tên Bác kính yêu .

Bạn đang xem bài viết Đi Tìm Nguồn Gốc Tình Sử Romeo Và Juliet / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!