Xem Nhiều 12/2022 #️ Dịch Lại Bài Thơ “Đợi Anh Về” / 2023 # Top 12 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Dịch Lại Bài Thơ “Đợi Anh Về” / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dịch Lại Bài Thơ “Đợi Anh Về” / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đây là bài thơ rất hay của nhà thơ Xô Viết Xi-Mô-Nốp , đã được nhà thơ Tố Hữu dịch ra tiếngViệt (năm 1947) thông qua một bản dịch bằng tiếng Pháp . Bản dịch của Tố Hữu khá hay, và đã đi vào tâm hồn của biết bao người Việt Nam …

Tuy nhiên tình cờ chúng tôi có được bài thơ này dưới dạng nguyên bản tiếng Nga , vì lòng yêu thích thơ và tiếng Nga tôi thử dịch lại. Bởi tôi thấy rằng bản dịch của Tố Hữu là không thật lột tả được cái hồn, cái chữ của nhà thơ Xô-Viết này.

Bài thơ dịch của Tố Hữu như sau:

Dù bạn viếng hồn Anh Yên nghỉ nấm mồ xanh Nâng chén tình dốc cạnThì Em ơi mặc bạn Đợi Anh hoài nghe Em Tin rằng Anh sắp về.Đợi Anh, Anh lại về Trông chết cười ngạo nghễ Ai ngày xưa rơi lệ Hẳn cho sự tình cờNào có biết bao giờ Bởi vì Em ước vọng, Bởi vì Em trông ngóng Tan giặc, bước đường quê Anh của Em lại về.Vì sao Anh chẳng chết Nào bao giờ ai biết Có gì đâu Em ơi Chỉ vì không ai người Biết như Em chờ đợi.

Em ơi, Đợi anh, Anh sẽ về Dù mưa rơi dầm dề Dù ngày buồn tái tê Thì Em ơi, cứ đợi. Dù gió Đông tuyết dội, Dù nắng Hạ mưa rơi Dẫu ai đó quên rồi Thì riêng Em, cứ đợi.

Đợi Anh dù phương xa Thư Anh thường chẳng lại Dẫu lòng bao tê tái Thì Em ơi, cứ chờ.

Chờ Anh, Anh sẽ về Đừng mong điều tốt đẹp Như Em từng đã biết Có lúc cần phải quên. Hãy nhìn vào mẹ hiền Và con thơ bé dại Em ơi, Em hãy chờ.

Như ai đó vẫn chờ, Ngồi bên ô cửa sổ Ly rượu cay nỗi nhớ, Thì Em ơi uống đi Cho lòng vơi nỗi khổ.Đợi Anh, Anh sẽ về Dẫu kề bên cái chết, Nếu có ai quên hết Chẳng biết đợi chờ ai Đừng trách họ lạt phai Đã không cam chờ đợi.Trong bom rơi lửa dội Chỉ ta biết chờ nhau Em ngã vào lòng đau, Lúc Anh về, Anh biết:Anh biết Anh không chết Đâu phải lẽ tình cờ. Chỉ có Em tha thiết Dẫu dòng lệ cạn khô, Em của Anh biết chờ Không như ai, chẳng đợi.

Жди меня В.С. , 1941

Wait for me, So it will be to Valentina Serova, 1941

Attends-moi

Konstantin Mikhailovich Simonov sinh 1919 tại thành phố Sankt-Peterburg là một nhà văn, nhà thơ và nhà biên kịch Liên Xô nổi tiếng với những tác phẩm viết về Chiến tranh giữ nước vĩ đại. Có lẽ tác phẩm được biết tới nhiều nhất của Simonov là bài thơ Đợi anh về (Жди меня), một trong những bài thơ hay và được biết đến nhiều nhất của Văn học Xô viết trong Thế chiến thứ hai.

Tháng 10 năm 1941, trong khi quân Đức đang tiến như vũ bão về thủ đô Moskva và Hồng quân đang lâm vào thế phải chống đỡ rất khó khăn, Konstantin Simonov đã cho ra đời bài thơ Đợi anh về (Жди меня).

Ban đầu, bài thơ được sáng tác với ý định dành tặng riêng cho người yêu của tác giả là nghệ sĩ Valentina Serova, nhưng tình cờ tâm trạng của người lính trong bài thơ đã trùng với tâm trạng chung của hàng triệu người lính Hồng quân đang chiến đấu trên mặt trận, vì vậy “Đợi anh về” đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở Liên Xô và sau đó là nhiều nước khác trên Thế giới.

Cùng một ý tưởng về bản dịch “Đợi anh về”, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Hồng Thanh Quang và bài thơ Tình em lời Ngọc Sơn, nhạc Huy Du gần gũi với bài thơ trên.

Thơ Konstantin Simonov (1915-1979, LB Nga), Hồng Thanh Quang (Theo Văn Nghệ Công An )

…Chỉ nhờ một ngẫu hứng và đồng cảm mà tôi mới đánh bạo thử dịch “Đợi anh về” từ nguyên bản tiếng Nga, Để tưởng nhớ Simonov và tình yêu đau đớn và bất tuyệt mà ông đã dành cho nữ nghệ sĩ Valentina Serova (V.S). Cuộc hôn nhân của họ không kéo dài được tới lúc đầu bạc răng long nhưng đã giúp cho Simonov viết được những bài thơ trữ tình hay nhất của ông, mà đỉnh cao là “Đợi anh về”.

Lời dịch giả: Người Việt Nam chúng ta từ hơn nửa thế kỷ nay đã thân thuộc với bài thơ “Đợi anh về” của nhà thơ, nhà văn Nga Xôviết xuất sắc Konstantin Simonov qua bản dịch từ Pháp văn của nhà thơ Tố Hữu. Đó là một bản dịch tuyệt vời và cũng là một kỷ vật thiêng liêng về một thời không thể nào quên, khi cả dân tộc đứng lên chiến đấu chống xâm lược giành lại nền tự do, độc lập và thống nhất đất nước.

Cũng vì nghĩ như thế nên từ hàng chục năm nay tôi đã không dám dịch lại “Đợi anh về” vì những ấn tượng tuổi nhỏ quá sâu sắc về bản dịch của nhà thơ Tố Hữu. Ngay trong tuyển tập thơ Simonov mà tôi chuyển ngữ và in tại NXB Quân đội nhân dân cuối năm 1996, “Đợi anh về” vẫn là bản dịch cũ của Tố Hữu (được xếp vào phần phụ lục).

Chỉ nhờ một ngẫu hứng và đồng cảm mà tôi mới đánh bạo thử dịch “Đợi anh về” từ nguyên bản tiếng Nga, để tưởng nhớ Simonov và tình yêu đau đớn và bất tuyệt mà ông đã dành cho nữ nghệ sĩ Valentina Serova (V.S). Cuộc hôn nhân của họ không kéo dài được tới lúc đầu bạc răng long nhưng đã giúp cho Simonov viết được những bài thơ trữ tình hay nhất của ông, mà đỉnh cao là “Đợi anh về”. Xin được cung cấp cho bạn đọc như một tài liệu tham khảo.

Đợi anh về

(Tặng V.S)

Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023

I. Lời mở

1. Lâu nay khi đọc những bản dịch thơ “Nam quốc sơn hà” ta thấy ít có bản dịch nào thật hay, đến độ tín, đạt, nhã. Ngay cả bản dịch được xem là khá đạt như bản của cụ Trần Trọng Kim (hay là Hoàng Xuân Hãn?) cũng còn nhiều chỗ phải bàn thêm. (Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! – Bản dịch này có chỗ ghi Trần Trọng Kim, có chỗ ghi Hoàng Xuân Hãn?). Rồi trong cả những bản dịch của các bậc thức giả, các vị quảng bác uyên thâm Hán Nôm như Nguyễn Đổng Chi, Ngô Linh Ngọc, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đăng Thục, Lê Thước, Nam Trân… vẫn còn nhiều chuyện cần trao đổi lại. Như chữ và nghĩa, ý và lời, vần luật và giọng điệu. Sự khác biệt (nếu không muốn nói là sai biệt) ở đây đôi khi lại rất xa.

Đặc biệt gần đây, bản dịch của hai cụ Lê Thước, Nam Trân được đưa vào SGK Văn 7 đã gây nên một cuộc tranh luận chưa có hồi kết. Bởi thế chúng tôi cho rằng, việc dịch lại “Nam quốc sơn hà”, ngõ hầu tìm ra được bản dịch hay, theo tiêu chuẩn tín, đạt, nhã là một việc làm rất cần thiết.

2. Theo nhiều người tìm hiểu và nghiên cứu thì “Nam quốc sơn hà” có khoảng 35 dị bản. Việc xác định đâu là bản nguyên tác (hoặc gần với bản nguyên tác) là điều thiết yếu và vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, về thời điểm ra đời của áng thơ bất hủ này cũng còn nhiều điều chưa thật thống nhất. Những tồn nghi, tranh luận về tác phẩm, tác giả rất cần sự tham gia của những nhà chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu văn chương trung đại, các nhà sử học, đặng làm sáng tỏ thêm, xác tín thêm giá trị của kiệt tác “Nam quốc sơn hà”.

Những người dịch thơ xưa nay, dù đạt hay chưa đạt đến độ hay của bản chữ Hán, thường coi bản hiện hành là chuẩn. Trong khi chờ đợi khảo cứu văn bản để đi đến một sự thống nhất chung, chúng tôi xin lấy bản chữ Hán trong Châu bản triều Nguyễn làm bản gốc. Bởi lẽ, xét trên nhiều bình diện, bản này được xem là có nhiều ưu điểm nhất (từ câu chữ đến ý tứ và giọng điệu đều hợp cách và hay).

Trong bài viết này, chúng tôi không bàn đến tác giả, cũng như không bàn đến những dị bản khác (Phiên âm Hán Việt – Châu bản triều Nguyễn: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên phân định tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”).

II. Đôi điều về một số bản dịch thơ

1. Trước hết, chúng ta khẳng định những bản dịch thơ ra tiếng Việt dùng chữ “đế” (Nam đế) như trong bản chữ Hán được coi là chuẩn nhất. Nó nói đúng ý của tác giả bài thơ. Người xưa dùng “Nam đế” là để đối sánh với “Bắc đế”. Dùng chữ đế với nghĩa là hoàng đế, là vua nước lớn thể hiện đúng và hay tinh thần tự chủ, tự cường của dân tộc ta từ thời dựng nước độc lập (sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc). Chữ “Nam đế” thấm đầy tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của cha ông ta. Tinh thần ấy sau này lại được Nguyễn Trãi khẳng định đầy kiêu hãnh trong “Bình Ngô đại cáo”: “Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên làm đế một phương”

– Trước đây dịch “mỗi bên hùng cứ một phương”. Và gần hơn là trong tinh thần của thời đại Tây Sơn với Hoàng đế Quang Trung vĩ đại .

2. Đương nhiên, trong một số bản dịch thơ, nhiều dịch giả dùng chữ “vua/ vương” để dịch chữ “đế” (trong Nam đế) cũng được coi là hợp lý. Song, có ý kiến cho rằng, chữ “đế” (trong “hoàng đế”) cao hơn chữ vương/ vua. Bởi vì, “đế” là vua nước lớn (phân biệt với “vương” là vua nước nhỏ hoặc vua chư hầu). Cho nên dịch “Nam đế” là “vua nước Nam/ vua Nam” cũng chưa thật sát nghĩa, đúng nghĩa của tác giả trong bản Hán văn (tạm gọi là nguyên tác như đã xác định ở phần trước).

Ví như câu thơ dịch “Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự” (Ngô Linh Ngọc), hay câu “Sông núi nước Nam, Nam đế chủ” (Bùi Văn Nguyên), tuy giữ được chữ “đế” nhưng chữ “ngự” dù có hợp nghĩa khi đi với chữ “đế” lại vẫn mất vần luật. Vần bằng trong nguyên tác đã đổi ra vần trắc. Đó là chưa nói dùng vần trắc ở đây làm nhẹ đi, yếu đi chất hùng văn đĩnh đạc, đàng hoàng đầy hào khí vốn có trong giọng thơ của câu mở đầu. Vần bằng (cư) cao (phù bình) vang ngân xa. Vần trắc (ngự, chủ) thấp, khép, ngắn.

Ở câu thơ thứ 2 “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (hay “Tiệt nhiên phân định tại thiên thư”?), trong nhiều bản dịch thơ ngỡ như không phải bàn thêm vì ngữ nghĩa lời thơ khá rõ. Dẫu thế, theo thiển nghĩ của chúng tôi, có hai điểm cần tham chiếu sâu hơn.

Thứ nhất là hai chữ “tiệt nhiên”. Các bản dịch phần lớn là theo nghĩa: rõ ràng, hoàn toàn, phân biệt đâu ra đấy, nên thường dịch là “rành rành” (hay “Rõ/ hiển nhiên/ vằng vặc/…). Dịch như thế cũng coi là hợp lý. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở câu thơ này ý nghĩa sâu xa của nguyên tác nằm trong 4 chữ “tiệt nhiên” và “thiên thư”. Bốn chữ này có thể coi là “nhãn tự” (chữ mắt/ mắt chữ) mà không sợ nói quá lên. Hiểu thế, ta sẽ thấy ý nghĩa tư tưởng lớn lao của bài thơ hội tụ ở câu thơ này. Bởi lẽ, hai chữ “tiệt nhiên” theo “Hán – Việt từ điển” của cụ Đào Duy Anh có nghĩa là: “Đạo lý chính đáng, không di dịch được”. Như vậy, câu thơ nguyên tác toát lên vẻ đẹp của tư tưởng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” như một nguyên lý, một chân lý. Đạo lý chính đáng ấy đã được “phân định ở sách Trời”, không di dịch được, “không ai chối cãi được” (mượn chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Khi ấy ta có thể khẳng định “Nam quốc sơn hà” là áng “thiên cổ hùng thi”, là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Đại Việt ta là hay, là chính xác và đầy sức thuyết phục. Đã là “phân định tại Thiên thư” thì dẫu là “thiên tử” (con trời) thì cũng không “cãi” được Trời và sách Trời.

3. Câu 3 và câu 4, từ ngôn ngữ, ý nghĩa đến tư tưởng đều được biểu hiện khá rõ ràng, minh bạch. Hai chữ “nghịch lỗ” dịch là: nghịch tặc hay lũ giặc, giặc dữ… đều hợp lý, chấp nhận được. Tất nhiên, chữ “nghịch tặc” (từ Hán – Việt) hàm nghĩa là bọn giặc, lũ giặc làm trái, làm ngược với đạo lý chính đáng (ở câu trên), trái với “Thiên thư” (sách Trời) càng làm rõ thêm mạch ý tưởng của bài thơ. Và như thế ở câu 4, hai chữ “nhữ đẳng” (chúng mày/ bọn mày/ bọn bay…) chỉ có thể là nói, là chỉ bọn giặc xâm lược, cướp nước, hợp logic (ý nghĩa) hình tượng thơ hơn. Khó có thể hiểu hai chữ “nhữ đẳng” là chỉ quân ta được.

Riêng chữ “hành”, chữ Hán cùng một chữ viết nhưng có 4 cách đọc và hàm nghĩa khác nhau. Theo sách “Hán – Việt tự điển” của Thiều Chửu (NXB Thanh niên – tái bản lần thứ 6), chữ “hành” có thể đọc: hành/ hạnh/ hàng/ hạng. Ở đây chúng tôi tập trung vào cách đọc thứ nhất: hành. Ba cách đọc còn lại không hợp nghĩa bài thơ. Chữ “hành” ngoài những nghĩa cơ bản như: Bước đi/ đi/ thi hành ra/ bài hành (ca hành)/ lối chữ hành… còn có một nghĩa rất đáng lưu ý là: sắp tới, dần đến.

Và chữ “khan” (khán), ngoài nghĩa: coi, xem/ giữ/ coi, đãi… còn một hàm nghĩa là: hãy thử coi một cái (dùng như trợ từ).

Xem xét nhiều bình diện nghĩa của chữ “hành” và chữ “khan”, chúng ta thấy khi chúng đi cùng nhau, trong một cách dùng (hành khan), chúng ta có thể hiểu là: Hãy xem đây/ hãy coi đây/ hãy chờ xem/ sắp tới đây/ rồi đây hãy chờ xem.

Vì thế chúng tôi cho rằng, câu kết của bài thơ “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” nên dịch nghĩa là: Chúng bay hãy chờ xem sẽ chuốc lấy bại vong.

III. Bản dịch thơ của chúng tôi

1. Điều đầu tiên chúng tôi muốn nói thêm cùng bạn đọc khi đưa ra bản dịch thơ mới của mình là: trong nhiều bản dịch thơ trước nay, người dịch không giữ được thật đúng hoặc làm sai lệch ít nhiều vần luật trong bản (tạm coi là) nguyên tác. Bản nguyên tác: Luật trắc vần bằng (tác giả gieo vần bằng: cư – thư – hư). Hơn thế, có những bản lại đổi cả thể tài bài thơ sang song thất lục bát hoặc lục bát, làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp mạnh mẽ, đanh thép, hào hùng, vang ngân của giọng điệu thơ nguyên tác – đặc biệt là ở câu thơ đầu.

Khi dịch, chúng tôi cố gắng giữ vần luật như trong nguyên tác. Để làm được như thế, ý trong hai câu thơ thứ nhất và thứ hai cần phải thay đổi. Bên cạnh đó, bản nguyên tác gieo vần bằng – vần chính, như đã nói ở trên. Bản dịch của chúng tôi cố gắng chỉ đạt được “vần thông” (tương đối). Vì thế có điều gì chưa hay, xin bạn đọc chỉ giáo thêm. Kỳ vọng lần dịch lại sau sẽ cố gắng dịch tốt hơn.

2. Về hai chữ “hùng cư” chúng tôi dịch là xuất phát từ ý tứ và giọng điệu, vần luật trong bài thơ nguyên tác mà chúng tôi cảm nhận. Chữ “hùng” không có trong nguyên tác. Nhưng ý “hùng cư” theo thiển nghĩ của chúng tôi, là nó toát ra từ thời đại anh hùng của dân tộc (thời Tiền Lê hay thời Lý). Và nó cũng toát ra từ tâm thế của những bậc anh hùng thời đại cũng như trong cảm quan của tác giả bài thơ. Chính từ suy nghĩ ấy mà chúng tôi mạnh dạn dịch câu thơ đầu là: “Nam đế hùng cư sông núi Nam”. Ý và lời câu thơ dịch không chỉ giữ được như nguyên tác mà giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ, vang ngân của câu thơ cũng như cả bài thơ sẽ làm nổi bật thêm tính chất tuyên ngôn độc lập của tác phẩm. Xét trên nhiều bình diện của sáng tạo thi ca, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng điệu và nội dung tư tưởng, bài thơ “Nam quốc sơn hà” (hay Thơ Thần?) thật xứng danh là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta. Tác phẩm ấy thật xứng đáng là áng “Thiên cổ hùng thi” của dân tộc anh hùng.

3. Cuối cùng, ở câu thơ kết khi dịch, sau 4 chữ “Bay cứ chờ xem” chúng tôi đưa vào đây dấu hai chấm (:) ngõ hầu làm cho ý thơ trở nên mạch lạc hơn mà giọng điệu thơ vẫn giữ được như trong nguyên tác.

Về tên bài thơ nên lấy là “Thơ Thần” như nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất hoặc giữ nguyên là “Nam quốc sơn hà”. Chúng tôi xin chọn: “Thơ Thần”.

Phiên âm Hán Việt:NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,Sông núi nước Nam thì Nam đế ngự trị,Rành rành phân định ở sách Trời (không thay đổi được).Cớ sao lũ giặc bạo ngược sang xâm phạm?Chúng bay cứ chờ xem: sẽ chuốc lấy bại vong. Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa: SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Nam đế hùng cư sông núi Nam,Sách Trời phân định thật đàng hoàng.Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?Bay cứ chờ xem: chuốc bại vong.

(Trần Nguyên Thạch dịch)

Hải Phòng – Đông xuân 2016-2017

Trần Nguyên Thạch(Q. Lê Chân – TP. Hải Phòng)Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 522

Bài Thơ Việt Nam Chống Dịch Covid / 2023

Đại dịch COVID-19 đã lan khắp toàn cầu. Nhiều quốc gia phải căng mình chống dịch và đang có những diễn biến đáng lo ngại. Việt Nam chúng ta là một trong những nước ra quân chống dịch từ rất sớm và rất bài bản. Do vậy, chúng ta đã có những thành công bước đầu trong việc ngăn dịch lây lan. Cảm nhận được những cố gắng tuyệt vời của các cấp, các ngành, các cá nhân khắp đất nước trong chiến dịch này, tác giả xin gửi đến toàn thể mọi người lòng biết ơn của những người dân đối với những người ở tuyến đầu chống dịch qua bài thơ sau đây.

VIỆT NAM CHỐNG DỊCH

Vừa qua tổ chức WHO Công bố đại dịch,… ôi trời lo ghê. Từ thành phố tới nhà quê Ai ai cũng sợ dịch về “nhà ta”. Iran cho tới Ita lia Nơi nào dịch cũng xem ra khó lường.

Việt Nam đã rất khẩn trương Không cho COVID có đường lây lan. Các khu du lịch, nhà hàng Đã ngừng đón cả khách sang, khách giầu. Học sinh nghỉ học đã lâu Không lên lớp nữa, bắt đầu on lai.

Thông kê ca mắc chẳng sai Khoanh vùng, dập dịch là bài thuốc hay. Công an, quân đội có ngay Cách li ngăn dịch cả ngày lẫn đêm.

Cám ơn Thủ tướng quyết tâm Dịch như giặc đến, toàn dân lên đường. Chống ngay giặc đó khẩn trương Không cho đại dịch có đường vào ta.

Nhiều ngày, vài tháng đã qua Trung tâm chống dịch nước ta rất cừ. Điều hành nhanh nhạy giống như Tướng quân ở bộ chỉ huy chiến trường.

Cám ơn nhiều lắm Trung ương Cám ơn nhiều lắm địa phương, nhiều ngành. Cám ơn các Mạnh thường quân Chung tay cả nước góp phần thắng to.

Cho dù còn đó nỗi lo, Bước đầu chặn dịch làm cho nức lòng. Phía xa còn lắm khó khăn Dịch còn đây đó không ngăn được lời Người dân tâm huyết chúng tôi Quyết tâm thắng dịch…tuyệt vời Việt Nam.

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2020

Tác giả: Đỗ Lệnh Điện (nguyên hiệu trưởng trường chuyên Hà Nội – Amsterdam)

Thơ Hay Về Công An Chống Dịch Covid / 2023

Chiến trường nào cũng biết bao gian khó

Trận chiến nào cũng có bao mất mát hi sinh

Trong trận chiến nơi tuyến đầu chống dịch

Những chiến sĩ an ninh với hi sinh thầm lặng

Vì nước quên thân đêm ngày thức trắng

Vì dân phục vụ dãi dầm mưa nắng

Ăn lán, ngủ rừng chiếc bánh, gói mì

Giữ yên bình nơi điểm chốt, khu cách ly

Bao gian lao trên vai người chiến sĩ

Tội phạm hoành hành, giặc dã hiểm nguy

Những kẻ côn đồ tim ma, máu quỷ

Lẩn khuất nơi nơi gieo tội ác đồng bào

Nào ma túy tuồn vào nội địa

Nào tin đốn thất thiệt tung ra, kẻ ích kỷ độc mồn lăng mạ

Kẻ nhẫn tâm mang theo mầm bệnh đến quê nhà

Vì nhân dân anh sẵn sàng lăn xả

Bao ngày tháng anh chưa thể về nhà

Đứa con thơ ngóng cha về mỗi tối

Người vợ hiền đêm ngày mòn mỏi

Cha yếu mẹ già sớm tối âu lo

Trận chiến nguy nan từng phút từng giờ

Cả dân tộc ta đang đồng lòng chống dịch

Đánh giặc vô hình, gian nan nguy kịch

Bệnh tật bủa vây bất cứ khi nào

Người chiến sĩ an ninh trung- hiếu, tự hào

Chữ trung với Đảng trọn đời trao gửi

Chữ hiếu với dân đêm ngày không mỏi

Trước mọi kẻ thù anh dũng xông pha.

DẤU CHÂN NGƯỜI CHIẾN SĨ CÔNG AN

Em viết về anh, người chiến sĩ công an

Người mang bình yên cho đất nước, đồng bào

Mọi gian nguy ở bất cứ nơi nao

Anh sẵn sàng xông pha vào tuyến lửa

Giữa đại dịch bao khó khăn chất chứa

Anh xung phong ra mặt trận tuyến đầu

Cắm chốt đêm ngày giữa chốn rừng sâu

Lối mở, đường mòn canh phòng chặt chẽ

Bao nhiêu khó khăn tháng ngày dâu bể

Ngăn chặn covid tràn vào nội địa

Bảo đảm an toàn bao khu vực cách ly

Tuyên truyền nhân dân hiểu về đại dịch

Để mỗi mái nhà hạnh phục yên bình

Bước chân các anh ngay đêm không nghỉ

Nhiệm vụ canh tuần sớm tối anh đi

Vất vả gian lao in vào lối phố

Bao nhiêu khó khăn chất chồng còn đó

Tệ nạn đua xe ngoài kia nhức nhối

Đồng đội mãi ra đi sau trận chiến chống hung thần

Anh nén chặt nỗi đau dấu vào tâm thức

Diệt ác, trừ gian sẵn sàng túc trực

Vì Tổ quốc vì hạnh phúc đồng bào

Mặc nỗi nhớ nhà cồn cào da diết

Anh lại lên đường không kể thời gian

Trận chiến covid khốn khó vô vàn

Giấc ngủ chẳng tròn, bữa cơm vội vã

Lời thề kiên trung, nhân dân là tất cả

Anh trọn một lòng chiến đấu không ngơi.

Nguyễn Hồng Miên @ 10:17 03/05/2020 Số lượt xem: 39

Bạn đang xem bài viết Dịch Lại Bài Thơ “Đợi Anh Về” / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!