Xem Nhiều 2/2023 #️ Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm # Top 10 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trở Lại Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm

Từ điền Bách Khoa Việt Nam (NXB từ điển bách khoa HN – 2005) (ở trang 631 (Q4)) không định nghĩa riêng chữ tiếu lâm, mà có truyện tiếu lâm trong định nghĩa chung của truyện cười dân gian Việt Nam (vần T)… Chuyện tiếu lâm (Joke book)

Trong HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN của Đào Duy Anh (Trường Thi xuất bản 1957) có ghi Tiếu Lâm là tên một bộ sách chép toàn truyện cười.

Có người chiết tự chữ Hán ra mà dịch nghĩa : Tiếu (cười), Lâm (rừng) là : Rừng cười.

Lại có người nói Tiếu Lâm là để chỉ riêng cho những truyện cười dân gian có dính dáng đến Dâm và Tục. Như vậy phải hiểu Tiếu Lâm theo định nghĩa nào?

Truyện cười dân gian Việt Nam gần đây đã được xuất bản khá nhiều : Ngoài Bắc có : Tiếng cười dân gian Việt Nam, Truyện Tiếu Lâm, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai Tứ Xuất, Thanh Hoá có : Xiển Bột, Quảng Nam – Đà Nẵng có : Thủ Thiệm. Trong Nam có : Truyện ông Ó, Chú Ba Phi v.v…

Những truyện ấy đã được nhiều người đọc, nhiều người hiểu. Nếu có ai đó kể lại, chẳng qua là thêm thắt vô một ít chi tiết cho có vẻ lạ chút chút thôi. Nghe nhiều lần rồi cũng hết cười.

Trong một buổi làm việc tập thể đào đắp mương ở ngoài trời. Hai tay hai chân lao động liên tục nhưng cái mồm cái tai rất ư rảnh rỗi. Sau khi hát, hò chán chê, mấy phút im lặng chỉ nghe tiếng thở phì phò nặng nhọc. Bỗng có ai đó hô lớn :

– Anh năm ơi, kể chuyện tiếu lâm nghe chơi !

Vừa nghe nói hai tiếng TIẾU LÂM là thính giả đã chuẩn bị cười rồi. Trong dân gian ít có ai nói KỂ CHUYỆN CƯỜI NGHE CHƠI. Vì người ta cho CHUYỆN CƯỜI là chỉ mức độ bình thường, cười vừa phải, không có hoặc ít có yếu tố Dâm Tục. Còn ngược lại, Tiếu Lâm thì có cái đó.

Truyện Tiếu Lâm có thể là do người dân bịa. Bịa ra để cười chơi. Đã là chuyện bịa thì không có giới hạn : Từ đúng đắn cho tới dâm tục. Có khi rất tục. Tục đến nỗi con gái nghe phải đỏ mặt mắc cỡ (nhưng vẫn thích lắng tai nghe thử).

Như vậy, theo chúng tôi, Tiếu lâm là một bộ phận đáng kể trong nguồn TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM. Hơn thế nữa, TIẾU LÂM còn là truyện cười dân gian mang nhiều yếu tố dâm tục. Có nhà phê bình đã nhận xét: Cái Tục là một trong những thuộc tính của truyện cười dân gian loại Tiếu Lâm.

Các quyển truyện cười dân gian hoặc truyện Tiếu Lâm Việt Nam (tập 1 và 2) đã xuất bản, mặc dù ai cũng biết có sự tồn tại hiện hữu trong dân chúng, nhưng ai cũng tránh né không ai ghi ra giấy những truyện tiếu lâm tục (vì có vấn đề gạn đục khơi trong). Nhưng những truyện đó vẫn không hề biến mất. Mới tháng trước đây chúng tôi đã đi tham gia gặt lúa với nông dân huyện Tây Hoà (Phú Yên). Trong khi làm, Người nông dân đã đem những truyện ấy kể cho nhau nghe. Lập tức nhiều trận cười nở ra. Sau cái cười thì mệt nhọc hình như giảm bớt. Việc này chứng tỏ cho ta thấy TRUYỆN TIẾU LÂM (tục) có sức sống dai là có thực chứ không hề tàn lụi trong lòng dân. Họ kể để họ cười vả để làm gì nữa ? Để trước hết là mượn tiếng cười quên mệt nhọc, tăng thêm sức đề kháng cho cơ thể, nhờ đó tăng năng suất công việc. Và cũng là để gián tiếp nhắc nhở nhau THẤY XƯA CHỪA NAY. Làm cho những cái xấu, cái ác, cái bỉ ổi ngày càng ít đi, để cho cái nhân tố mới tốt đẹp hơn có điều kiện sinh sôi nảy nở trong đời sống xã hội. Như vậy, trong một số trường hợp, truyện TIẾU LÂM TỤC cũng có tác dụng góp phần tăng năng suất lao động. Ta không nên phủ nhận nó.

VII/ XUẤT XỨ CỦA TRUYỆN TIẾU LÂM TỤC Ở ĐỊA PHƯƠNG :  

Trước 1945 tỉnh Phú Yên nằm trong giải đất Miền Trung, thực dân Pháp gọi là nước An Nam (từ Thanh Hoá đến Bình Thuận). Ở đây thực dân Pháp vẫn cho duy trì bộ máy cai trị vua quan của Nam Triều, nhưng dưới quyền kiểm soát của nhà nước Bảo Hộ do một viên công sứ Pháp đứng đầu. Và người Pháp Nắm giữ các chức chủ chốt như Lãnh binh, Mật thám, kho bạc… dưới quyền người Pháp, về  phía Nam Triều ở các tỉnh có quan Tuần Vũ, Án sát, bố chánh. Ở các phủ, huyện có quan tri phủ, Tri huyện, thầy đề, thầy lại, lính lệ v.v .. Ở tổng thì có chánh tổng, phó tổng, xuống xã thì có lí trưởng, phó lý, ngũ hương (hương kiểm, hương bộ, hương mục, hương thơ, hương bổn). . Dưới những chức sắc đó, xã hội bấy giờ còn nảy nòi ra nhiều hạng kệch kỡm chuyên môn hiếp đáp, áp bức dân lành, làm cho dân chúng ghê tởm, khinh ghét. Chính đó là những cái đích cho họ đưa vào truyện tiếu lâm. Như hạng trọc phú (ham rể giàu nhưng dốt), phù thuỷ rởm (ham gái), thày lang băm (dâm dục), thày cúng (ham ăn) v.v…

Các tỉnh Miền Trung từ lâu đã nghe nói câu : “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa thiên ních hết”. Chính vì vậy ở Phú Yên lưu truyền trong dân chúng những câu truyện về quan xứ kiện đòi ăn hối lộ. Đã ăn hối lộ lại đòi của ngon (chê xôi, đòi ăn thịt) …

Trong truyện TIẾU LÂM (tục) ta thấy rõ vũ khí tiếng cười đã áp đảo kẻ thù bằng cách gây dư luận đả kích chúng mạnh mẽ. Tiếng cười đó đã biến kẻ thù thành Bia Miệng. Mà TRĂM NĂM BIA ĐÁ THÌ MÒN, NGÀN NĂM BIA MIỆNG VẪN CÒN TRƠ TRƠ. Như vậy, Tiếu lâm (tục) vừa gây cười, vừa thể hiện một khoái cảm thắng lợi, vừa hạ diệt (cái xấu). Càng cười thoải mái bao nhiêu, càng đáp ứng được cái khuynh hướng gây hứng thú trong cuộc sống bấy nhiêu.

(Trích bài báo của Đỗ Lai Thuỷ)

KHOÁI CẢM THẮNG LỢI THỂ HIỆN RA CÁC KIỂU CƯỜI

Về kiểu cách cười, trong thiên hạ cũng có nhiều loại cười rất khác nhau :

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI VÔ TƯ SẢNG KHOÁI như : Cười ha hả, cười hả hê, cười sằng sặc, cười dòn tan, cười như nắc nẻ, cười hồn nhiên, cười thoải mái, cười khoái trá, cười rổn rảng, cười sang sảng, cười rạng rỡ, cười cởi mở, cười hở mười cái răng, cười hết cỡ, cười ngặt nghẽo, cười híp mắt, cười dài, cười góp, cười khà, cười khanh khách, cười khè, cười khì, cười nôn ruột, cười ngất, cười phá lên, cười như bắp rang, cười ồ, cười ra rả, cười rè, cười rộ, cười xoà, cười hềnh hệch …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI HÌNH NHƯ RIÊNG Ở NAM GIỚI như: Cười khùng khục, cười hô hố, cười khơ khớ,…

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI TƯỞNG CHỈ DÀNH CHO NỮ GIỚI như : Cười duyên, cười ruồi, cười e ấp, cười e lệ, cười thẹn thùng, cười lỏn lẻn, cười nụ, cười tình, cười rúc rích …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI CHƯA HẾT CỠ, như : cười thầm, cười nửa miệng, cười mủm mỉm, cười chúm chím, cười mím chi, cười rỉ rả, cười khúc khích, cười khục khặc …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI NGHE CHÓI TAI như : cười the thé, cười như xé vải, cười rần rật, cười sặc sụa …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI RA NƯỚC MẮT, như : cười gượng, cười méo xẹo, cười não nuột, (khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt), cười giã biệt, ngậm cười nơi chín suối… cười héo hắc…

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI TỎ RÕ THÁI ĐỘ, như : cười độ lượng, cười mai mỉa, cười ngạo mạn, cười khinh khỉnh, cười khẩy, cười mát, cười mũi, cười nhạt, cười khan, cười khô khốc, cười huề, cười bả lả, cười xã giao, cười đãi bôi, cười đưa đẩy, cười trừ, cười cợt, cười gằn … cười gượng.

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI ĐÁNG GHÉT, như : cười xảo quyệt, cười ranh mãnh, cười gian ác, cười nịnh bợ, cười cầu tài, cười đểu cáng, cười nhăn nhở, cười rậm rật, cười dâm dật, cười đĩ thoã, cười lơi lả, cười lẳng lơ, cười mơn trớn… 

TRONG DÂN GIAN TA CÓ NHỮNG CÂU CA DAO NÓI VỀ CƯỜI :

– Phòng trong sớm mở tối gài,

Ai cười KHÚC KHÍCH để phòng ngoài ngẩn ngơ ?

– Bắp non xao xác trỗ cờ,

Thương nhau xin chớ nhởn nhơ CƯỜI TRỪ!

– Đứng xa kêu bớ em Mười

Thương hay không thương, em nói thiệt, chớ đững CƯỜI ĐẨY ĐƯA!

– Phất phơ ngọn cỏ gió lùa,

Thấy em CƯỜI GƯỢNG anh chua xót lòng !

– Cây tre nhặc mắt, gió quặt, ngọn tre oằn,

Nghe anh cất tiếng CƯỜI GẰN, em trở gót thối lui.

-Thứ Nhứt là đạo làm người

Dù no dù đói vẫn CƯỜI như không.

– Thấy em có cục duyên ngầm

Nụ CƯỜI CÓ NGHĨA, anh quên mần, bỏ ăn.

– Con quạ nó núp vườn chồi

Thấy em đứng CƯỜI LỎN LẺN với ai ?

– Cô kia CƯỜI CỢT ghẹo trai

Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò.

– Cóc nghiến răng còn động lòng trời,

Anh say em có điệu CƯỜI MÍM CHI.

– Bông cúc nở trước sân, con bướm vàng hút nhuỵ

Thấy miệng em CƯỜI HỮU Ý, anh thương.

– Tưởng đâu bến đã gặp thuyền,

Nào hay em CƯỜI LẢNG NHÁCH, anh liền lui ghe.

– Chuồn chuồn đậu ngọn cau tơ,

Anh CƯỜI BẢ LẢ, em ngờ duyên anh.

– Chiều chiều ra đứng vườn cà,

Thấy anh CƯỜI LẠT, trở vô nhà hốt muối em ăn.

– Thà rằng chịu cảnh gông xiềng

Còn hơn có vợ CƯỜI VÔ DUYÊN tối ngày.

– Ra đường lắm chuyện bực mình

Về nhà gặp vợ CƯỜI TÌNH cũng no.

– Thôi thôi tình phải buông lơi,

Chưa chi em đã vội CƯỜI TOÉT TOE.

– Ngó lên búi tóc em tròn

Hàm răng em trắng, miệng CƯỜI GIÒN, anh mê

– Tóc em dài, em cài hoa thiên lý,

Thấy em CƯỜI HIỀN, anh để ý anh thương.

– Con kiến vàng bò ngang đám bí,

Thấy miệng em CƯỜI ẨN Ý, anh đỡ lo.

– Bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu,

Thấy miệng em CƯỜI, trời biểu anh thương.

– Chẳng tham nhà ngói rung rinh,

Tham về cái nỗi em xinh miệng CƯỜI

– Miệng cười em đáng mấy mươi,

Chân đi đáng nén, CHÚM CHÍM CƯỜI đáng trăm.

– Đàn bà cười SANG SẢNG tiếng đồng,

Chẳng khó đường chồng cũng khó đường con.

– Ông phật ngồi trên án MỦM MỈM CƯỜI,

Áo em em bận, sao mấy người xỏ tay ?

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Anecdote – Chuyện Tiếu Lâm Xã Hội Chủ Nghĩa

Một năm thời thập niên 70, Đảng Cộng sản Liên Xô công bố một cuộc thi tạc tượng nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhà văn Pushkin.

Giải ba thuộc về một tượng Pushkin đang ngồi đọc sách.

Giải nhì thuộc về một tượng nhà cách mạng Lenin đang ngồi đọc một cuốn sách của Pushkin.

Giải nhất được hoành tráng trao cho một tượng Pushkin đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sách của Lenin.

Có lạ chi mô?

Ừ thì chỉ là… ông Pushkin qua đời 33 năm trước khi ông Lenin ra đời.

***

Smirnova chọn ra 1.290 anekdot từ các tuyển tập anekdot đã được xuất bản bằng tiếng Nga và phân tích các anekdot này để xác định dáng hình của khiếu hài hước Nga (Russian humour) và qua đó, làm nổi bật lên “ý thức văn hóa” (cultural consciousness) của các thế hệ người Nga đã sống qua thời cộng sản trên đất nước họ.

Anekdot trong tiếng Nga có nghĩa là “giai thoại”, “chuyện tiếu lâm” hay “chuyện hài”.

Từ tương đương trong tiếng Anh là từ anecdote, có nghĩa “chuyện ngắn hài hước và thú vị về một sự kiện hay một con người có thật”. Ừ thì cũng là “giai thoại”.

Nghiên cứu về hai từ này đã đưa Anh Cả Lý đến nhiều câu chuyện khác sâu xa và hài hước hơn phía sau chúng.

Trước khi quay lại “khiếu hài hước Nga” chúng ta cùng nhìn vào từ anecdote.

Anecdote và Anecdotal Evidence

Anecdote chính ra không có nghĩa gốc là “chuyện hài” mà vốn có gốc từ nguyên từ Hy Lạp, ghép hai yếu tố: an nghĩa là “không” và ekdotos – “xuất bản” thành anekdota – “những gì không được xuất bản”.

Nguyên gốc anekdota dùng để gọi những quyển hồi ký viết riêng, giữ bí mật không xuất bản cho cả thiên hạ đọc (chắc vì toàn kể xấu thiên hạ) của mấy ông vua bà chúa cổ đại.

Tuy nhiên, anekdota đi vào các ngôn ngữ Châu Âu đã tiến hóa thành “câu chuyện hài hước thú vị”.

Có thể nhiều người Việt Nam không biết từ anecdote, nhưng chắc người Việt Nam nào cũng biết và hay dùng các “giai thoại” trong tư duy hàng ngày rất nhiều.

Hồi đầu tháng này lúc rộ lên tin bắt cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phan Văn Vĩnh, một bài báo được khá nhiều người chia sẻ và tranh cãi là bài “Cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh và những giai thoại phá án cực kỳ thông minh”. Bài này kể về một vài vụ phá án mà ông Vĩnh đã dùng những biện pháp nghiệp vụ có thể xem là “không chắc đã phù hợp với quy định của pháp luật” (cho dù vẫn được khen là “thông minh”), như nhà báo viết.

“Giai thoại” hiện có vẻ vẫn là một chất liệu báo chí ăn khách ở Việt Nam, thậm chí chắc là hơn hẳn những thứ báo cáo, số liệu, tổng hợp “dữ liệu lớn” khô khan.

Có thể đưa ra quan sát như thế khi nhìn vào những bài báo hút khách trên các mục như Góc Nhìn của VnExpress, hay nhìn vào những bài viết của các tay viết thuộc “tổ nghìn like” trên mạng Facebook.

Cũng khó mà trách được, bản tính tự nhiên của con người là thích được nghe, được đọc những câu chuyện được kể hấp dẫn, dễ hiểu, có chi tiết thú vị, gay cấn.

Khi đã bị cuốn vào một câu chuyện như thế, đã xúc động với tình tiết, đã đồng cảm với nhân vật (cho dù nhân vật có thể là một người lạ mà bản thân ta chưa biết có phải là người thật hay không), thì nhiều khi chúng ta dễ đồng tình hơn với thông điệp, quan điểm, hay bài học giáo huấn, mà người kể muốn truyền tải thông qua câu chuyện đó.

Ví dụ, khi muốn thuyết phục người khác rằng “việc thầy cô giáo đánh học trò là chính đáng”, thay vì nhìn vào phân tích đạo đức, pháp luật thì nhiều người hay ngồi kể lể lại rằng hồi nhỏ mình từng hư đốn ra sao, để rồi bị thầy cô đánh phạt thế nào, xong rồi mình sau này mới cảm nhận được “lòng yêu thương” “cho roi cho vọt” của thầy cô ra sao.

Hay khi phản ứng lại những người đang hùng hổ phê bình lực lượng công an Việt Nam, nhiều người muốn bảo vệ ngành công an thay vì giải thích những nỗ lực tự sửa sai, tự cải thiện của ngành này thì hay quay qua kể dài dòng những câu chuyện “sướt mướt” về các anh hùng chiến sỹ công an hy sinh khi làm nhiệm vụ thế nào.

Trong cả hai ví dụ trên, các anecdote hay anecdotal evidence đã được dùng làm công cụ thuyết phục người đọc.

Cụm từ anecdotal evidence hay bằng chứng giai thoại chỉ các bằng chứng “được trình bày theo dạng những câu chuyện mà một người kể là đã xảy ra với họ”, hay là chính họ đã chứng kiến và nay thuật lại cho người nghe.

Trong bối cảnh tòa án, mỗi lời khai nhân chứng (witness testimony) bao gồm lời khai của nạn nhân đều có thể xem về bản chất là anecdotal evidence.

Vì chỉ là lời kể từ một người, một góc nhìn không biết có xác thực hay không, nên thông thường bằng chứng giai thoại khi đứng một mình không có giá trị pháp lý cao.

Nhiều người chắc đã biết cái tiêu chuẩn “trọng chứng hơn trọng cung” của nhiều nền luật pháp tiên tiến trên thế giới.

Tại các nền luật pháp đó, người đưa ra lời khai tại tòa thì dĩ nhiên thường sẽ bị thử thách bằng thẩm vấn chéo (cross examination), và nếu lời khai đó đứng vững, không vặn vẹo và bóc mẽ gì được thì nó sẽ được các thẩm phán hay bồi thẩm đoàn đánh giá là thật thà. Nhưng đó không phải là tất cả.

Lời cung khai, hay bằng chứng giai thoại, chỉ có giá trị cao hơn (hay hữu dụng cho quá trình truy cầu công lý tại tòa hơn) khi đã được thử thách qua thẩm vấn chéo, đồng thời được dùng chung và được củng cố bởi các bằng chứng khác: bằng chứng hiện vật, pháp y, hình ảnh, băng hình, v.v.

Tòa nào mà cứ xử theo kiểu “tin người vãi lúa”, cứ chỉ nghe anecdotal evidence mà xử thì đúng là nhiều khả năng sẽ đưa ra những phán quyết võ đoán, ít tính “đinh đóng cột” của công lý hơn.

Trong một vụ án khá nổi tiếng, Tối cao Pháp viện Mỹ từng tuyên là để chứng minh được các hành vi phân biệt đối xử (discrimination) ví dụ như phân biệt chủng tộc, thì bên chứng minh phải sử dụng cả anecdotal evidence và statistical evidence, hay bằng chứng thống kê – nói kiểu thời thượng bây chừ là “dữ liệu lớn”, big data.

Tức là phải có số liệu cụ thể cho thấy rõ ràng hiện tượng phân biệt đối xử đã diễn ra nhiều lần trên thực tế trong một khoảng thời gian tương đối dài, chứ không thể chỉ dựa vào một hay nhiều câu chuyện cá nhân của những nạn nhân đã hứng chịu phân biệt đối xử.

Nhưng đó là tòa án thôi.

Trong một số hoàn cảnh khác, anecdote lại có thể có một giá trị khác.

Anecdote và Anekdot của Nga

Trong các nghiên cứu của mình, nhà xã hội học kỳ cựu của Anh là cố giáo sư Christie Davies đã nhiều lần lập luận rằng: chính các anekdot/anecdote của người Nga sống trong thời toàn trị cộng sản là một trong những nguồn bằng chứng khoa học xã hội quan trọng để đánh giá xã hội cộng sản Liên Xô trong quá khứ.

Theo Davies, giới nghiên cứu khoa học xã hội thường đặt quá nặng vai trò của các bằng chứng số liệu, thống kê. Theo đó, nhiều khi họ quá tin tưởng vào các số liệu thống kê do chính nhà nước Nga Xô ban hành, trong khi việc chính phủ này “kiểm soát” thống kê để “làm đẹp cho chế độ” không phải là không có.

Davies cho rằng các nhà nghiên cứu xã hội học phải xem trọng hơn các nguồn anecdotal evidence, quan trọng nhất là các anekdot, những câu chuyện hài hước mà người Nga kể cho nhau nghe và kể cho người nước ngoài nghe.

Bản thân những câu chuyện hài hước đó không quan trọng ở chỗ chúng đã tạo ra được ảnh hưởng lớn gì, mà quan trọng là chúng cho nhà nghiên cứu những kiến giải sâu sắc về xã hội đã tạo ra những câu chuyện hài hước đó.

“Chuyện cười không phải là cái máy điều chỉnh nhiệt độ mà chính là nhiệt kế”, Davies viết.

Quan sát đó có lẽ càng có sức thuyết phục hơn cho những ai đã được đọc các kết quả nghiên cứu của nhà xã hội học Michelle Smirnova.

Không gian xã hội tù túng nghẹt thở thời Xô Viết đã tạo ra một hoàn cảnh đặc thù cho các anekdot đóng một vai trò đặc biệt, mà anecdote tại nhiều xã hội tự do khác có thể không có.

Người Nga thời Xô Viết có thể bị bỏ tù chỉ vì kể chuyện cười, nếu chuyện cười đó bị nhà nước xem là “tuyên truyền chống nhà nước, chế độ”.

Khởi đầu với điều 58 – Bộ luật Hình sự Liên Xô và kéo dài với các điều luật có nội dung và tác động tương tự, nhà nước Xô Viết đã biến hành vi kể chuyện cười thành một môn “thể thao mạo hiểm” tại nước Nga trong nhiều thập niên dài.

Một nghiên cứu năm 1979 cho thấy có đến 200.000 tù nhân chính trị Nga đã bị đày đến các trại tập trung gulag bởi vì lỡ chơi môn “thể thao mạo hiểm” này.

Trong tiếng Nga, anekdot có nghĩa “chuyện hài” nhưng thực tế xã hội đã khiến cho cái nghĩa gốc Hy Lạp bỗng nhiên tỏa sáng nhất: thật sự các anekdot của Nga đúng là những thứ “không được xuất bản”, vì không thể nào được nhà nước Xô Viết cho phép xuất bản.

Bất kể rủi ro phạm pháp đó, người Nga vẫn đã sống cùng các anekdot của họ.

Họ thì thầm cho nhau trên bàn ăn buổi tối hay trong các ngõ phố vắng người.

Cứ thế, các anekdot lan rộng trong xã hội Nga và tạo thành một “diễn ngôn” (discourse) đối kháng lại những “diễn ngôn” mà nhà nước Nga Xô cho phép.

Các anekdot phê phán thực trạng xã hội, công kích chính sách nhà nước; đồng thời là một sự chối từ “lề phải” trong nước Nga cộng sản.

Ví dụ như anekdot đầu bài về Lenin và Pushkin. Smirnova phân tích rằng anekdot đó làm bật lên những biện pháp tuyên truyền lố lăng của nhà nước Xô Viết: trong các nỗ lực “hợp thức hóa” vị lãnh tụ Lenin thành một nguồn cung cấp “căn tính Nga truyền thống” (traditional Russian identity), các quan chức Xô Viết thường không ngại xào nấu lịch sử.

Thế nên, với họ, một bức tượng “nặng tính đảng” tôn vinh Lenin bằng cách cho một nhà văn lớn của nước Nga là Pushkin đọc sách ông ta viết chính là một tuyệt tác nghệ thuật cần biểu dương nhất.

Nhà nước càng muốn thần thánh hóa các lãnh tụ như Lenin bao nhiêu thì người dân Nga càng nghĩ ra lắm chiêu trò trong các anekdot của họ để “dìm hàng” lãnh tụ.

Giáo sư Davies chỉ ra rằng cái giai đoạn bùng nổ số lượng anekdot về cụ Lenin nhiều nhất chính là dịp kỷ niệm ngày sinh Lenin năm 1970, dưới thời Tổng bí thư cộng sản Leonid Brezhnev.

Một trong những anekdot “láo” nhất thời đó chính là:

“An old priest died and went to heaven. He was asked if he had one last wish before entering. He replied that he would like to have a conducted tour of hell. They began in one of the deepest pits reserved for those whose lives had been utterly evil. There he saw a lake of boiling shit in which stood Hitler and Stalin. Stalin was up to his waist in it and Hitler up to his nose.

“That’s outrageous,” said the priest. “Why should Hitler be punished more than Stalin? I suffered under both and Stalin was just as evil as Hitler.”

“You don’t understand,” said his guide, “Stalin is standing on Lenin’s shoulders.””

Dịch:

“Một ông cha đạo chết và lên thiên đường. Ông được hỏi có ước nguyện gì trước khi vào thiên đường không. Ông bèn nói là ông muốn được đi tham quan địa ngục một chuyến. Thế là ông được đưa xuống một trong những hang địa ngục sâu nhất dành riêng cho những con người cực kỳ độc ác. Tại đó ông thấy một cái hồ đầy phân đang sôi sùng sục.

Trong hồ có Hitler và Stalin đang đứng. Trên mặt hồ, Stalin lộ phần thân từ thắt lưng trở lên, còn Hitler thì chỉ lộ có nửa mặt tính từ mũi.

“Thật quá quắt,” vị cha đạo nói. “Sao Hitler lại bị phạt nặng hơn Stalin? Tôi đã chịu khổ đau dưới cả hai và Stalin cũng ác như Hitler vậy thôi.”

Ông hướng dẫn viên bèn giải thích: “Cha không hiểu rồi, Stalin đang đứng trên vai Lenin đó.”

Thi hài Lenin vẫn nằm rất trang trọng trong lăng tẩm, nhưng một số người dân Nga ngay từ những năm 70 có lẽ đã không hề có sự tôn kính nào dành cho cái vị trí trang trọng đó.

Trong một anekdot khác do Smirnova tuyển chọn, Lenin lại được nhắc đến:

“A student is taking an oral exam in Soviet history. He is apparently doing well until the professor asks him:

“When was the Bolshevik revolution?”

“I don’t know”

“Well then, who wrote DAS KAPITAL?”

“No idea.”

“Who was Comrade Lenin?”

“I’ve never heard that name before,” said the student unabashedly.

“Well, young man, you must be able to tell me this: Who is Comrade Brezhnev?”

“Br-, Br-, who?”

“Listen, where are you from?”

“I’m of the village Petrovka in Siberia…”

The professor is thoughtful now, “Petrovka, Petrovka… sounds like a heavenly place!””

Dịch:

“Một cậu học sinh đang thi kiểm tra vấn đáp về lịch sử Xô Viết. Đang trả lời tốt thì ông giáo sư hỏi:

“Cách mạng Bolshevik diễn ra năm nào?

“Em không biết”

“Rồi, thế ai viết Tư Bản Luận?”

“Không rõ”

“Đồng chí Lenin là ai?”

“Em chưa nghe tên người này bao giờ,” cậu học sinh trả lời không bối rối.

“Này cậu trai trẻ, cậu phải trả lời được câu này: Đồng chí Brezhnev là ai?”

“Br-, Br- gì cơ?”

“Nghe này, cậu từ đâu đến hả”

“Em đến từ làng Petrovka ở Siberia.”

Vị giáo sư mặt chợt đầy suy tư, lẩm bẩm “Petrovka, Petrovka… Nghe cứ như tên một chốn thiên đường ấy nhỉ!””

Theo Smirnova, anekdot này thể hiện một sự từ chối hoàn toàn những “biểu tượng quốc gia” (national symbols) vốn được nhà nước Xô Viết tạo ra nhằm đoàn kết người dân toàn nước Nga.

Người Nga thời Brezhnev có vẻ là chán ghét thực tế xã hội đầy bất công của họ đủ đến mức phải mường tượng là họ có thể ganh tỵ thế nào với một chú bé đến từ miền Siberia băng giá xa xôi nơi chú ta chưa bao giờ phải biết những “biểu tượng quốc gia” kia.

Không chỉ thể hiện sự phản kháng bằng chán ghét thụ động, theo Smirnova, các anekdot của Nga đặc biệt thường mang một màu sắc phê phán sâu cay và đầy tính trí thức khi có nội dung so sánh nước Nga cộng sản với các nước phương Tây tự do, đặc biệt là kẻ đại địch Hoa Kỳ:

“This is Armenian Radio! Our listeners asked us:

What is the difference between the constitutions of the USA and the USSR? Do not both countries guarantee the freedom of speech?

Our answer: Yes, but the USA’s constitution guarantees freedom after speech.”

Dịch:

“Đây là Đài Radio Armenia! Bạn nghe đài hỏi chúng tôi:

Sự khác biệt giữa hiến pháp của Hoa Kỳ và hiến pháp Liên Xô là gì? Chẳng phải cả hai nước đều đảm bảo tự do ngôn luận đấy ư?

Chúng tôi trả lời: Đúng, nhưng hiến pháp Hoa Kỳ còn đảm bảo tự do sau khi đưa ra ngôn luận.”

Đúng nhỉ? “Chúng tôi cho các người tự do nói đó, còn làm gì với các người sau khi các người nói thì lại là chuyện của chúng tôi!” Hoàn toàn có thể tưởng tượng một vài quan chức Nga Xô từng thực sự tư duy theo một cách lố bịch về khái niệm “tự do” như thế.

***

Đã có ai nghiên cứu các câu chuyện tiếu lâm chính trị của người Việt Nam từ giác độ văn hóa và xã hội học như các nhà nghiên cứu Davies và Smirnova đã làm với các anekdot của người Nga chưa nhỉ?

Nếu chưa thì đây đúng là một mảng hay ho cho các bạn sinh viên khoa học xã hội.

Bạn có thể đóng góp cho Luật Khoa một ly cà phê hoặc một cuốn sách mỗi tháng?

Đóng góp $2 mỗi tháng

Truyện Tiếu Lâm Việt Nam

Truyện tiếu lâm Việt Nam là tuyển tập hơn 300 truyện cười với nhiều đề tài khác nhau: từ sinh hoạt, sản xuất, tình yêu thậm chí cả tình dục cho tới các khuôn phép đạo lí, đạo đức, giáo dục, ứng xử… Được sưu tầm, biên soạn và tuyển chọn bởi những soạn giả có uy tín, cùng với minh họa ngộ nghĩnh, hài hước, Truyện Tiếu lâm Việt Nam xuất bản lần đầu sẽ giúp các bạn có những giây phút thư giãn thoải mái.

Truyện tiếu lâm của dân tộc ta hầu như có mặt mọi tầng lớp, đối tượng. Trong đó, nông dân là nhân vật xuất hiện nhiều nhất. Tiếng cười ở mảng truyện này thường mộc mạc, dễ hiểu, thoải mái. Chuyện anh nông dân định ăn vụng khoai lang nướng còn đang nóng, thấy vợ về, vội giắt  vào cạp quần, nóng quá cứ nhảy tâng tâng lên, miệng thì la: “Tao thấy u nó về, tao mừng quá đấy mà!” trong truyện Ăn vụng khoai là một thí dụ tiêu biểu. Tất nhiên, bên cạnh cung bậc cười ấy, không phải là không có truyện phê phán thói hư tật xấu của người nông dân. Nhưng nhìn chung, dù có phê phán các nhược điểm chăng nữa thì tiếng cười ở đây vẫn là cười sảng khoái, hả hê với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, thân thiện.

Ở loại truyện tiếu lâm về tầng lớp tiểu thương, trí thức rởm như các thầy đồ, thầy lang, thầy cúng, thầy bói, thầy địa lí, các sư, các sãi thì cung bậc cười lại mang sắc thái khác. Trong  những truyện như Đi tu mà chẳng trọn đời, Đậu phụ cắn.. tính chất cảm thông, thương hại đã nhạt đi rất nhiều và nhường chỗ cho tiếng cười chế giễu, mỉa mai, đả kích.

Trái với hai mảng đề tài trên, cung bậc tiếng cười của truyện tiếu lâm dành cho tầng lớp quan lại cường hào lại mang màu sắc khác. Tiếng cười ở những truyện này rất quyết liệt, trực diện, ít khoan nhượng. Những truyện như Hai kiểu áo, Nấu cháo mà ăn… tiếng cười trở thành ý nghĩa chống đối, kêu gọi lật đổ, thay đổi.

Bên cạnh ba mảng truyện trên, còn nhiều đối tượng, nhiều cung bậc cười khác nữa trong những truyện về các anh học trò, các bà vợ goá, các chú lính dịch, chàng mõ… Mỗi mảng mang một sắc thái khác nhau. Tất cả làm nên một tuyển tập phong phú đa dạng.

Tuyển tập Truyện Tiếu lâm Việt Nam được sắp xếp theo thứ tự abc. Cách xếp này cùng với việc đặt tên lại cho hợp nội dung truyện sẽ giúp bạn đọc tra tìm lần giở nhanh nhất. 

Truyện Tiếu Lâm Cười Ra Nước Mắt Số 21

Truyện cười hay và hài hước nhất

21. Anh hùn. Tương ngộ

[Bộ Những Truyện Cười Hay, Truyện Tiếu Lâm An Nam]

Có một anh rất làm biếng, không làm ăn gì cả. Đói cũng chẳng buồn đi ăn mày mà ăn; đến nằm ngửa ở dưới gốc cây sung, há mồm ra, đợi cho quả sung chín rơi vào mồm mà ăn. Nằm mãi cũng chẳng thấy quả nào rơi vào mồm cả. Bụng thì đói, nhưng mà lười, chẳng muốn thò tay nhặt những quả sung rơi ở bên cạnh mình.Đến sau đói quá, thấy có một anh ở đâu lững thững đi qua đấy. Anh làm biếng ta mới gọi mà bảo rằng:– Nhờ anh bỏ hộ quả sung vào mồm cho tôi.Chẳng ngờ anh kia cũng là một phường lười: lại gần lấy chân quặp quả sung bỏ vào mồm cho anh nọ, chứ cũng chẳng buồn cúi xuống.Anh lười nọ thấy thế, tức mình, mới chửi rằng:– Đ… mẹ cái đồ làm biếng ở đâu ấy ạ!

22. Anh vô tâm

Có một anh tính hay quên, chẳng làm ăn gì được cả. Vợ nó mới bảo rằng:– Bây giờ không có lẽ lại cứ ngồi đó mà ăn không được. Phải tìm nghề nghiệp gì làm ăn, chẳng có thì đi lên rừng đẵn củi về để thổi, cũng đỡ khỏi mất tiền mua. Chứ ai lại ở dưng thế vậy?Anh ta nghe lời vợ, vác dao vào rừng kiếm củi. Lúc đi, vợ nó dặn rằng:– Tính hay quên thì phải giữ gìn cẩn thận con dao, đừng có bỏ mất!Đi đường, anh chàng ta mót đại tiện, xuống ruộng, cắm con dao ở bên cạnh mình, rồi ngồi ỉa. Nhưng mà có cái nón đeo ở sau lưng, lại quên không bỏ ra, cho nên ỉa cả vào nón.Xong rồi, đứng dậy, trông thấy con dao; quên mất là dao của mình, tưởng là dao của ai bỏ quên;mừng lắm, reo lên rằng:– A! a! a! đ… mẹ đứa nào bỏ quên con dao, ông bắt được!Nhảy nhót thế nào đụng phải nón đeo ở sau lưng; ngoảnh cổ lại nhìn, thì thấy nón đầy những cứt;giận lắm, chửi rằng:– Đ… mẹ đứa nào ỉa cả vào nón ông!

23. Dốt có chuôi

Một bác thầy cúng đến cúng cho nhà chủ tên là Nguyễn văn Tròn. thầy cúng dốt, không biết viết chữ“Tròn” thế nào, vòng khuyên một cái “O”.Có người nghịch, lấy bút sổ một nét, thành ra “O”.Đến khi thầy cúng đọc sớ, trông thấy như cái gáo, cứ Nguyễn văn Gáo mà đọc mãi. Chủ nhà bảo:– Không phải, tên tôi là Nguyễn văn Tròn kia mà! thầy cúng ngượng, gắt rằng:– Đứa thổ tả nào mới tra cái chuôi vào đây thế này?

24 . Dương phù, âm trợ

Có một anh, yếu như sên, nhát như cấy, đi thi cử võ, không đỗ. Đến sau nhờ có thần thế, lo chạy, được bổ làm chức Phó Lãnh binh. Khi đi đánh giặc, mới trông thấy hơi bóng giặc, đã cắm đầu, ù té chạy. Giặc đuổi theo, anh ta sợ run, cuống cẳng, chạy không được. Sắp sửa bị quân giặc bắt, bỗng tự nhiên nghe có tiếng bảo rằng: “Có ta giúp đây, đừng sợ!” Anh ta ngoảnh cổ lại nhìn, thì không thấy giặc đâu nữa, mà cũng chẳng thấy ai cả; mới chắp tay, vái rằng:– Không biết ông thần nào anh linh, cứu tôi khỏi chết vậy? Tiếng văng vẳng nói rằng:– Ta là thần Bia đây!– Vậy chứ tôi có công đức gì cảm động đến ngài, mà Ngài cứu tôi? – Ta cứu nhà ngươi là vì rằng: kỳ thi võ mới rồi, nhiều người bắn ta khổ lắm; duy chỉ có một mình nhà ngươi là không nỡ bắn trúng ta thôi, cứ bắn ra ngoài xa cả. Bởi thế cho nên bây giờ ta trả ơn nhà ngươi đấy.

25. Ông thầy chữa mắt

26. thầy đồ với thầy cúng

Xưa có một người đàn bà góa, chồng mới chết, đến tháng bảy, đốt mã cho chồng; đón thầy cúng đến nhà để cúng và mời cả thầy đồ dạy học con lại chơi.Phải anh thầy cúng dốt; thấy ông đồ ở đấy, thì sợ rằng cúng sai, ông ấy bẻ, cho nên cứ chàng màng,giở hết khoa nọ, kinh kia; lần lữa mãi đến tối mịt mới vào cúng, hóa ra cỗ bàn thiu cả.Nguyên ở trong sách cùng, vẫn hay đề trống “Tín chủ Mỗ… ” Chữ “Mỗ” viết đơn, anh thầy cúng trông như cái thẹo. Đến lúc cúng cứ “Tín chủ Nguyễn thị thẹo” mà đọc.Ông thầy biết vậy, nhưng mà cũng không nói gì suốt cả.Cúng vái, ăn cỗ xong, thì đã khuya rồi; ông đồ và thầy cúng không về được phải ngủ ở đấy. Hai thầy nằm ở nhà ngoài; còn mẹ con nhà chủ vào buồng đóng chặt cửa lại. thầy đồ xơi phải cỗ thiu, đêm đến đau bụng, mót ỉa cuống cả lên. Nhưng mà nhà đàn bà hóa, cửa ngõ chận kỹ, lại có chó dữ. thầy đồ ta mót quá, không thể nào nhịn được, phải tính liều: “Không có lẽ mình lại bậy ra ở đây được! Sáng dậy nó biết, thì làm thế nào? Chi bằng tương vào đít thằng thầy cúng, rồi mặc kệ nó!” Mới lại sờ đít anh kia. Chẳng may lại sờ phải mồm nó; thấy râu ria xồm xoàm, chắc là chỗ nọ, vội vàng chụt quần ỉa phứa ngay vào. Cứt thì cứt tháo dạ, toé vung đầy cả mặt anh thầy cúng. Anh ta vùng trở dậy, mồm miệng măt mũi be bét những cứt thối hoăng; giận quá, chu lên, rằng:– Đ… mẹ đứa nào ỉa cả vào mồm ông thế này?Thầy đồ nghĩ bụng rằng: “Chỉ có mình với nó ở đây thôi. Dẫu mình chối cũng không được! Mà chẵng có lẽ mình lại cứ im! thôi thì ông cũng liều với mày!” Mới lên tiếng rằng:– Ông ỉa đấy!– Làm sao mày lại ỉa vào mồm ông?– Sao ban tối mầy dám đọc tên mẹ học trò ông là Nguyễn thị thẹo? Bây giờ ông ỉa vào mồm mầy đấy, để từ rày cho mày chừa!

27. Nói khoác, gặp thời

28.Thằng bé ngu tối

29. Ăn nói khoan thai

31. Kém gì Lý Bạch

32. Phải mắng oan

Hai vợ chồng trẻ, đương độ thanh xuân. Một đêm, gió mát trăng trong, chồng hỏi nhỏ vợ rằng:– Những lúc đấy muốn thì làm thế nào cho đây biết được?– Hễ lúc nào đỏ mặt lên là chính lúc ấy đương.. Anh chồng biết vậy.Đến hôm giỗ bố, vợ phải chui đầu vào bếp, hì hục làm cỗ cả ngày, hóa ra mặt đỏ như quả gấc chín. Khi cỗ làm xong, đệ lên giường thờ cúng; chồng đương khúm núm qùy khấn ở trước bàn, bỗng đâu vợ lù lù ra.Chồng nhìn thấy mặt vợ đỏ gay, tức quá; tái mét mặt lại, đứng ngay phắt dậy, mắng rằng: “Sao mầy hư thế? Hôm nay là ngày giỗ bố tao, mà mầy cũng không biết nể! Mầy lại nhè giữa lúc tao đương khấn vái, mà mầy… đỏ mặt mầy lên! Đồ quạ mổ ở đâu đấy a!”

33. Thằng đầy tớ nỡm

Ngày xưa có một bà Huyện đến chơi nhà chị em bạn; có thằng đầy tớ đi theo hầu. Đương ngồi nói chuyện, đông đủ cả mọi người, bà Huyện ta tự nhiên vãi ngay ra một cái rắm.Thằng đầy tớ đứng hầu ở sau lưng, thấy bà mình đánh rắm, phì cười ra. Nhưng mà lúc bấy giờ các bàngồi chơi đấy thì đông, mà đầy tớ đứng hầu chung quanh cũng nhiều, cho nên lộn xộn, không biết rõ là rắm ai.Tuy vậy, bà Huyện cũng ngượng, bẽn lẽn cáo lui ra về; trong bụng căm thằng đầy tớ quá. Muốn chừng như về đến huyện, thì đem băm vằm ngay nó ra được!Thế nhưng mà đi đường, dần dần bà nguôi cơn giận. Cho nên khi về đến dinh, chỉ gọi nó vào nhà trong, mà chửi mắng nó đáo để một hồi, rằng: “Đồ ngu! đồ dại! đồ không ra gì! Mầy như người ta thì mầy nhận là của mầy, có được không! Việc gì mầy lại nhe răng ra mà cười, như con đông sơn vậy? Đồ ăn mày ở đâu ấy a? Bận này bà tha cho, bận sau mà còn thế nữa, thì bà đánh lột xương ra!… ” Rồi đuổi nó: “Bước ngay ra đường kia, nỡm!”Anh nỡm ta sợ mất vía, vội vàng lui ra; xăm xăm chạy một mạch đến nhà kia, nói với đông nhan cả mọi người rằng:– Thưa các Bà, cái rắm bà con đánh ban nãy, là rắm con đấy!…

34 . Khóc chồng

Có một chị, chồng mới chết.Khi người chồng còn sống, cứ mỗi bận đi lại với vợ thì bỏ một hột gạo vào trong cái hũ. Đến lúc chồng chết, chị ta đem hũ ấy ra, đổ gạo vào đấu thì chưa được lưng đấu. Mới ngồi khóc rằng:“Ới anh ơi, là anh ơi! Anh lấy tôi chưa được lưng thưng vực đấu, mà anh đã bỏ tôi anh đi, anh ơi, làanh ơi!…”

35. Ông khách nói mát

Mọi nhà có giỗ, mời khách đến ăn cỗ. Khách đến đông đủ cả rồi, dọn cỗ ra, thiếu mất một đôi đũa. Một người cầm đũa, mời nhau. Còn người khách không có đũa, đứng dậy, bảo người nhà rằng:– Múc cho tôi xin một chậu nước lã.Chủ nhà nghe thấy, chạy lại, hỏi lấy nước lã làm gì. Ông khách nói rằng:– Tôi rửa tay cho sạch để bốc đồ ăn!…

36. Ông già thật thà

37. Vỏ quít dày, móng tay nhọn

Hai ông thầy, một ông thầy bói và một ông thầy thuốc, không biết làm sao mà hằn thù nhau.Một hôm, có mụ đàn bà, chồng ốm, thuốc thang cúng vái làm sao cũng không khỏi, cùng đường, đến nhờ ông thầy bói xem hộ có phương kế nào cứu được chồng chăng.Ông thầy gieo quẻ xong, bảo chị ấy cứ đến xin thuốc ông lang nọ cho chồng uống thì khỏi ngay. Nhưng mà bụng ông thầy muốn xỏ ông lang, mới dặn mụ ấy rằng:– Hễ lại nhà ông lang, thì phải nói ông ấy: “Có phải thật ông là ông lang mà dao cầu mạng nhệnchằng và ô thuốc mốc, không? ” Hỏi thế rồi hãy kể bệnh xin thuốc, thì thuốc mới hay. Mụ ấy xin vâng. Hỏi thăm đến nhà ông thầy thuốc nọ, rồi cũng nói như lời ông thầy bói đã dặn.Ông lang thấy nó hỏi thế thì tức quá, đoán rằng hẳn lại thằng thầy bói xỏ mình đây; cho nên mới hỏi lại mụ nọ rằng có phải ông thầy bói dặn thế không. Mụ nọ bảo phải. Ông lang căm lắm, nhưng mà cứ lẳng lặng bốc thuốc cho mụ ấy. Tay bốc thuốc, bụng nghĩ cách để xỏ lại anh thầy bói kia. Lúc đưa thuốc cho mụ ấy, mới dặn rằng:– Phải bắt cho được một con ruồi ở mép ông thầy bói ấy, mà làm thang thì thuốc này mới nghiệm.Mụ ấy xin vâng; vội vàng trở lại hàng ông thầy bói, ngồi chực xem hễ có con ruồi nào đến đậu mép ông thầy thì bắt. Nhưng mà ngồi đợi mãi cũng chẳng thấy con ruồi nào đến. Nóng ruột quá!. Trời đã chiều rồi, mà chồng thì ốm nằm đợi ở nhà!May làm sao, có hàng bánh rán rao qua. Ông thầy bói ngồi buồn, gọi vào mua ăn; ăn nhồm nhàm, mật dính cả vào râu: Bổng có một con ruồi xanh ở đâu bay lại, đậu ngay vào mép.Mụ kia mới rón rén lại gần, giơ thẳng cánh, vả ông thầy bói một cái “đốp” lòi cả bánh rán ra. Ông thầy bói kêu vỡ làng nước, rằng:“Ông làm gì đứa nào mà đánh ông?”Mụ kia vội vàng nói đầu đuôi cho ông ta nghe, rồi một mạch chạy thẳng về nhà…

38. Thơ cóc

39. Được cả đơn liền kép

Một chị có chồng, phải lòng anh hàng xóm. Một hôm, chồng đi vắng, chị ta đón nhân ngãi về nhà. Đương trò chuyện ở trong màn, sực thấy anh chồng đẩy cửa về, anh nọ vội vàng chui ngay xuống dưới gầm giường còn chị kia thì giả cách đau bụng, kêu lăn kêu lộn ở trong màn, gọi chồng bảo rằng:– Có mau mà giắt tôi ra đường sau đi đồng, không thì chết mất.Chồng vội vàng giắt vợ vào nhà trong. Vào đến nơi, chị nọ làm bộ cố rặn mà nói rằng:– Mầy không ra mau thì chết cả tao liền mầy!Anh kia nghe thấy thế, vội vàng chui ra, chạy về. Chẳng may sân nhà nó lắm rêu, trượt chân, ngã đánh“huỴch” một cái bằng trời giáng.Anh ta lập tức bấu ngay một ít rêu, viên tròn lại, đứng dậy, chạy vào bảo chồng chị kia rằng:– Tôi ở bên nhà, nghe thấy bác gái kêu đau bụng từ sớm đến giờ, mà chưa khỏi. Đây tôi có viên thuốc này hay lắm, đưa sang để cho bác gái uống thử xem có khỏi không.Rồi đưa viên rêu bảo chị kia nhai mà nuốt đi. Chị kia nuốt chưa đến cổ, đã kêu khỏi rồi. Anh chồng không biết lấy gì mà trả ơn anh láng giềng được. Hôm sau bàn với vợ, đi mua một buồng cau non đem sang tạ.

40. Anh chàng lẩn thẩn

Còn tiếp..mời bạn đón đọc những câu chuyện cười ra nước mắt vào các bài đăng sau.

Đọc truyện số 1 đến 20 của bộ truyện này.

Bạn đang xem bài viết Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!