Xem Nhiều 12/2022 #️ Đọc Lại Bài Thơ “Nhớ Bắc” Của Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ / 2023 # Top 15 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Đọc Lại Bài Thơ “Nhớ Bắc” Của Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đọc Lại Bài Thơ “Nhớ Bắc” Của Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. “Thi tướng rừng xanh” và bài thơ “Nhớ Bắc”

ỏ hoa rộn ràng dâng hương, phô bày sắc thắm. Đất trời vào xuân, nõn màng tươi mới… Vần thơ, câu chữ trên từng trang dòng như những sinh thể ánh lánh nhiều điều. Bởi Thơ, Văn như con người luôn mang chứa một hành trình, một số phận. Chìm nổi/ thăng hoa… Tất nhiên đây phải là những tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc lớn về nội dung tư tưởng, nghệ thuật làm lay động lòng người mến mộ trong nhiều chiều không – thời gian.

Bài thơ “Nhớ Bắc” của Huỳnh Văn Nghệ là một trường hợp như thế.

Chúng ta đọc lại thi phẩm và cùng ngẫm ngợi.

Tác giả Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977), quê ở Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Từ điển Wikipedia đã có những dòng tóm lược ấn tượng về ông: Nhà báo Trần Ấm, nguyên phóng viên của TTXVN trong một lần đến thăm mộ ông trong nghĩa trang gia đình ở Tân Uyên bên dòng Đồng Nai đã bâng khuâng khi đọc hai câu thơ dưới ảnh chân dung một nhà hoạt động cách mạng và là một chỉ huy quân sự Việt Nam, nổi tiếng về tài thi ca, có những câu thơ được nhiều người truyền tụng. Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì những đóng góp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thật vậy, Huỳnh Văn Nghệ đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân, tài năng, nhiệt tâm vì dân, vì nước. Trên bước đường cách mạng gian nan, ngoài phong cách bản lĩnh cầm quân giết giặc, ở ông còn dạt dào một tâm hồn thơ giản dị, chân thành hào sảng qua những tập thơ, những vần thơ gan ruột (Nhớ Bắc – bài thơ gan ruột – TC Văn học). Cuộc đời cách mạng, ý chí cộng sản kiên cường, tài năng thi ca của nhà thơ – chiến sĩ đất Tân Tịch – Tân Uyên đã làm giặc thù nể sợ, người dân vùng kháng chiến miền Đông Nam Bộ quý trọng, tin yêu gọi ông làThi tướng rừng xanh! ( Tôi là người lăn lóc giữa đường trần Không phân biệt lúc mài gươm múa bút Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực Còn yêu thương là chiến đấu không thôi Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác. Gửi lại bạn những vần thơ trên cát / Và giờ đây tôi qua bến, lên đường và lấy làm tiếc “Giá mà trên tấm bia mộ khắc thêm hai câu Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Bởi theo nhà báo, có hai câu thơ ấy ” thì mới thật là… trọn vẹn nghĩa tình với đất Thăng Long ngàn năm văn hiến… mới xứng danh một người văn võ song toàn của nhà thơ chiến sĩ đất thành đồng Nam Bộ”. Những câu thơ chan chứa niềm vọng quốc, tình yêu cội nguồn đất Tổ thiêng liêng của con dân đất phương Nam không chịu khuất đứng lên chiến đấu giữ gìn đất đai mà 300 năm trước lớp lớp cha ông đã sơn trường khai phá, mở cõi. Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát, Lòng ta say chiến trận đến thành thơ… – Bên bờ sông xanh – Huỳnh Văn Nghệ).

Đó chính là tâm tình mà Anh công nhân họ Huỳnh (Sở hỏa xa) gởi vào bài Nhớ Bắc (Tiễn bạn về Bắc) vào một buổi chiều tại Ga Sài Gòn năm 1940.

(Hiện có hai luồng ý kiến về thời điểm ra đời của bài thơ năm 1946 tại chiến khu Đ, nhưng tư liệu của TS Cù Huy Hà Vũ nhất là tư liệu của gia đình do người con trai trưởng – ông Huỳnh Văn Nam, nguyên TGĐ đài chúng tôi cung cấp năm 1940 là đáng tin cậy).

Một buổi chiều đặc biệt, có thể nói như vậy. Từ người đi/ được vé tham quan xứ Bắc, nhường chuyến cho bạn về cố hương, Huỳnh Văn Nghệ trở thành người tiễn bạn.“ Buổi chiều tà luyến lưu tiễn bạn, khi đoàn tàu dần khuất bóng cuối sân ga Sài Gòn, một cảm xúc man mác buồn cứ ngập tràn tâm trí người ở lại và hình ảnh về một chốn kinh kỳ đô hội, hình ảnh Tháp Rùa nghiêng bóng nước hồ Gươm, hình ảnh những chùm vải chín mọng lúc lỉu trên cành và những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm… qua những câu chuyện kể của người bạn cứ thế ùa về. Và rồi, Huỳnh Văn Nghệ đã phóng bút viết nên những câu được nhiều người ví là “thần thi”. (Bđd – TC Văn học)

2. Những câu “thần thi, tuyệt bút”…

Tôn vinh như thế có quá lời không? Bởi những cụm từ, thần thi, tuyệt bút, hùng văn chỉ dành cho những tác phẩm có tính khái quát lịch sử, giá trị dân tộc – nhân văn sâu sắc, nghệ thuật mẫu mực giàu truyền cảm, hùng tráng như Thơ Thần – Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi, Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền sư, Thơ Trần Nhân Tông… Ở góc độ khác, tôi cho rằng những trang văn, dòng thơ chạm đáy tâm tình, nỗi khát khao, ước mơ cháy bỏng của đông đảo lớp người, của cộng đồng quyết đem sinh mạng của mình giành, giữ lấy sự tồn vong đất trời quê hương, cội nguồn tổ tiên thì chúng mặc nhiên trường tồn xuyên thời gian song hành cùng đất nước, dân tộc. Vì thế, nhà văn – nhà nghiên cứu văn hóa Trần Bạch Đằng đã hồ hỡi thốt lên khi nghe đọc khổ thơ đầu của bài “Nhớ Bắc”, “Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là những câu Thơ Thần – tuyệt bút của thời đại”. (“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ “Nhớ Bắc” – Hoài Nguyễn). Ta hãy lắng lòng mình với những dòng thơ ấy:

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Âm vang thiết tha, hùng tráng vừa bay lên vừa miên man, ngân nga. Nhiều bài viết đã xác tín xúc cảm khó phai ấy.

Nhà phê bình văn học của đất kinh kỳ Hà Nội Phạm Xuân Nguyên trên báo Văn Nghệ Trẻ năm 2000 từng ghi nhận: “Những vần thơ hào sảng mà tha thiết cứ vang trong tâm tưởng người đọc tạo ra những cảm xúc vừa hùng tráng, vừa thiết tha như tan vào dòng máu đang cuộn chảy trong tim những người VN đầy lòng tự tôn dân tộc”. (Bđd – Hoài Nguyễn). “Tâm tư của nhà thơ đã thành tâm tư chung của muôn triệu người đất Việt phương Nam, hơn thế, của muôn triệu người đất Việt muôn nơi, mỗi khi nhớ về quê Việt tổ. Thăng Long đây không chỉ là Thăng Long kinh thành, đó còn là vùng châu thổ sông Hồng – cái nôi của người Việt, của dân tộc Việt”.

đã làm tỏa sáng những câu thơ của Tâm tình cội nguồn – hướng vọng Thăng Long quê Việt Tổ Huỳnh thi tướng. Không chỉ thế, nếu đặt chúng trong bối cảnh năm 40 thế kỷ trước, nước Việt bị giặc thù chia cắt, trong không khí bi tráng của cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa mà sát sườn hơn đặt trong thời kỳ “miền Đông gian lao mà anh dũng” những câu thơ như giấc mơ đẹp “giấc mơ chiến trận của những người dân chân đất đầu trần khát khao độc lập tự do…” (35 năm ngày mất nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ – Bùi Quang Huy) vv… Đó là lớp nghĩa dễ dàng nhận ra, thẩm thấu, cộng hưởng tâm tình dân nước nồng nàn của bao thế hệ Việt dưới trời Nam, cõi Lạc Hồng thậm chí những câu nguyên tác/ dị bản vẫn ngân ru như ca dao, dân ca của người Việt, dân tộc Việt… Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long – Từ thuở mang gươm đi giữ nước/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long.

Giá trị thần thi, tuyệt bút hoàn toàn được khẳng định. Điều đáng suy gẫm là từ dị bản, nhiều bài viết, bài phỏng vấn người con trai trưởng nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ của Tạp chí Văn Học, báo QĐND… cất công làm rõ thời điểm ra đời bàiNhớ Bắc, việc chỉnh sửa (nhà thơ Xuân Diệu): những từ “độ”/ “thuở”; mở cõi”/ “giữ nước”; “Trời Nam”/ “Nghìn , ngàn – năm” lại hé lộ một lớp nghĩa khác.

3. “Trời Nam thương nhớ…” – âm vọng hào sảng chủ quyền

Theo TS Cù Huy Hà Vũ (con ruột nhà thơ Huy Cận, con nuôi nhà thơ Xuân Diệu), cả nguyên tác lẫn dị bản đều đậm chất văn học (Trời Nam/ Nghìn năm), đều đắt, đều hay đọng sâu và mở ra mênh mang tâm tình vọng quốc của lớp người con đất Bắc Nam tiến cũng như hiện nay luôn chặt lòng thủy chung son sắt với cội nguồn Rồng Tiên, Âu Lạc. Tuy vậy, so sánh nào dù tinh, dù khéo đến mấy cũng có độ vênh. Ta thử đọc xem sao:

. Còn ông Huỳnh Văn Nam thì nêu lại những chia sẻ của cha mình lúc sinh thời, “…”Trời Nam”, dù muốn hay không thì khái niệm những người con xa quê cũng bị bó hẹp trong một vùng đất, một không gian nhất định. Trong khi đó “nghìn năm” mở rộng phạm trù xa xứ đến vô cùng đối với tất cả những ai mang trong mình dòng máu Lạc-Hồng dù ở chân trời hay góc bể” (Bđd – TCVH) “…Từ “trời Nam” dùng ở đây ý nghĩa rộng hơn. “Trời Nam” không phải là sự bó hẹp về không gian mà là một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của người Nam đã được “thiên định” như ông cha ta đã từng khẳng định trong Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo hay Nam quốc sơn hà. “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” – đó là tâm hồn, tư tưởng người Việt tự ngàn đời hướng về gốc gác giống nòi… Hồn thơ thức tỉnh những mơ hồ về Tổ quốc” (Bđd – TCVH). Đó chính là lớp nghĩa khác, lớp nghĩa cốt tủy của những câu thần thi: âm hưởng chủ quyền. Âm hưởng, hào khí 4000 năm“non sông giống Lạc Hồng/ đất Thăng Long” lặn sâu trong tâm tưởng từng con dân Việt, nay bừng dậy mãnh liệt, hào hùng hơn bao giờ. Âm vang của những Thơ Thần, Hịch, Cáo giục giã tự hào quyết xông lên giữ gìn chủ quyền Trời Nam, nước Việt vẹn toàn Âm vang chủ quyền còn vọng vang hùng tráng trong những ca khúc đi cùng năm tháng của nhạc sĩ tài hoa Lưu Hữu Phước, Tạ Thanh Sơn…: Lên Đàng, Bạch Đằng Giang, Nam Bộ Kháng Chiến. Âm hưởng chủ quyền hào hùng ấy còn lắng đọng ở cuối bài thơ:…Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi/ Bao giờ mang kiếm trả dân ta? Những câu thơ lấp lánh truyền thuyết về người anh hùng áo vải đất Lam Sơn – Lê Lợi được trao kiếm Thuận Thiên cùng hào kiệt, nhân dân đánh đuổi giặc Minh ròng rã hai mươi năm giành lại chủ quyền, Tổ quốc Trời Nam, nước Nam.

Cũng chính vì vậy mà nhà văn Hoàng Văn Bổn, người đồng hương, đồng nghiệp, đồng ngũ thời kháng chiến chống Pháp với Huỳnh thi tướng, đã khẳng định: Nguyên tác bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ là “Trời Nam chứ không phải “Nghìn năm. “Trời Nam” mới đúng chất của anh Tám Nghệ. (theo Trần Ấm). Một ý kiến khác cũng chỉ ra điều đó: Cần trả lại đúng văn phong, nguyên chất cho người sáng tạo những câu thần thi ấy.

(“… Có ba chữ hay bị đọc sai trong hai câu này: “độ” thành “thuở”, “trời Nam” thành “nghìn năm”, và nhất là “cõi” thành “nước”. “Cõi” đây là cõi giang sơn, vùng lãnh thổ, công nghiệp mở mang bờ cõi đất nước của bao đời tiền nhân, những con người ra đi từ sông Hồng đến lập ấp bên dòng Cửu Long. Biên tập sửa lại câu chữ như thế có vẻ làm câu thơ nghe mênh mang hơn, nhưng không hợp với tên bài thơ và nỗi niềm tác giả gởi gắm trong đó khi sáng tác. Và đặc biệt không tôn trọng nguyên văn một tác phẩm”.(“Trời Nam Thương Nhớ Đất Thăng Long” – Phạm Xuân Nguyên). Thậm chí“ Con trai của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ “Nhớ Bắc”– báo QĐND – Thanh Kim Tùng thực hiện phỏng vấn). “Ý kiến” này xin dành cho người yêu thơ thẩm định! Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam”.

Tôi lại cho rằng, không chỉ ” không hợp với tên bài thơ và nỗi niềm tác giả gởi gắm khi sáng tác” mà còn làm mất đi âm hưởng chủ đạo, hồn cốt của nguyên tác. Đó là âm hưởng chủ quyền – hào khí, hào sảng Trời Nam, đất và người Nam Bộ, thành đồng Tổ quốc nguyện “hiến thân, liều thân cho nước” đau đáu vọng gởi, khát hòa hồn thiêng Thăng Long đất Tổ…

Bài thơ “Nhớ Bắc” nhất là khổ thơ đầu đã từng là sách gối đầu giường, hành trang ý chí, khát vọng của những đoàn quân Nam tiến, của bao chiến sĩ vệ quốc thời kỳ chống Pháp, Nhật. Quả là hạnh phúc cho người cầm bút. Và những người mến mộ Huỳnh thi tướng cũng chung niềm hạnh phúc ấy vì những câu tuyệt bút trong trong buổi chiều đặc biệt xuất thần tại Sài Gòn 70 năm trước của tác giả đã trở về với nguyên bản và được khắc bia. (theo Thanh Kim Tùng).

Tháng năm chồng lớp tháng năm. Dòng đời thản nhiên trôi chảy… Huỳnh thi tướng đã “lên đường” vào ngày 5/3/1977 hoàn tất “cuộc đời như tác phẩm”(Triệu Từ Truyền). Tính đến nay đã hơn 30 lần giỗ của ông. Tụ về là những bậc cán bộ lão thành, các vị đương chức, đương quyền nhưng đông nhất vẫn là đồng chí, đồng đội của bộ đội Tám Nghệ đã từng sát cánh, chung lòng xông pha giết giặc. Và còn có cả những dân thường đến viếng, hoài niệm ở nhà riêng đường Hai Bà Trưng – chúng tôi ở nghĩa trang gia đình Tân Uyên – Bình Dương, ở Đồng Nai. Bởi cuộc đời của ông gắn lền với nhiều chiến công lẩy lừng, múa gươm vung bút giữa chiến trường miền Đông Nam Bộ, oai hùng và lung linh huyền tích, huyền thoại. Mà“huyền thoại nào cũng đẹp, huyền tích nào cũng hấp dẫn” (Bùi Quang Huy). Và giữa những ngày xuân mới sang, trời phương Nam như lộng xanh hơn. Những cánh rừng chiến khu Đ, những vạt rừng Tân Uyên năm xưa rì rào hát. Dòng Đồng Nai như chậm trôi… lắng nghe vó ngựa Thi tướng sãi nhịp cùng quân dân miền Đông ra trận. Những câu thần thi, tuyệt bút như lại thiết tha, vọng vang tâm tình nguồn cội Thăng Long đất Tổ, âm hưởng chủ quyền Trời Nam, Nước Việt muôn mãi vẹn toàn.

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

(1) “Người Bình Xuyên” – Nguyên Hùng, “Huỳnh Văn Nghệ, Tác giả và Tác phẩm” – Bùi Quang Huy.

(2) Bài viết của các tác giả Trần Ấm, Phạm Xuân Nguyên., Nguyễn Huy Hùng…; các bài phỏng vấn của TC Văn Học, báo QĐND…

Đọc Lại Thơ Sóng Hồng / 2023

Đồng chí Trường Chinh viết báo, làm thơ từ những năm 20 của thế kỷ trước, khi còn là học sinh Trường Cao đẳng tiểu học ở Nam Định. Ông từng là chủ bút Báo Dân cày (1928), viết nhiều bài, in nhiều thơ trên Báo Búa liềm, Tạp chí Công hội đỏ (1929), Lao tù tạp chí, Tạp chí Cộng sản (1931-1932); chủ bút Con đường sáng và Đuốc Việt Nam (1931-1932), viết bài in thơ trên các tờ: Suối reo (1933), Lao tù (1933); chủ bút Báo Giải phóng (1936-1939), trực tiếp phụ trách Báo Tin tức (1938), viết bài và in thơ trên Báo Ngày mới (1938), Cờ Giải phóng, Tạp chí Cộng sản và cả những tờ báo tiếng Pháp như: Le Travail, Rassemblement…

Với bút danh Sóng Hồng, ông đã cho đăng hơn 200 bài thơ trên các báo bí mật có, công khai có ngay từ đầu những năm 20, 30 của thế kỷ trước, sau này được tập hợp lại thành tập Thơ, tập 1 (năm 1966), tập 2 (năm 1974) và Thơ Sóng Hồng (NXB Văn học, năm 1983)…

Thơ Sóng Hồng là “thi ngôn chí”, là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý và tình-lý tưởng cách mạng và tâm hồn của người nghệ sĩ đúng như những lời tâm sự của ông trong lời tựa Cùng bạn đọc cho tập Thơ, in lần thứ hai (NXB Văn học, 1983) rằng: Thơ ông là tâm tư tình cảm, là kết tinh của “Niềm hy vọng của cả một dân tộc, những ước mơ của nhân dân, vẽ nên nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế của lịch sử loài người”. Thơ Sóng Hồng luôn gắn liền với thực tiễn cuộc sống, tham gia giải quyết những vấn đề bức thiết của cuộc sống và là vũ khí sắc bén để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng; đồng thời cũng thật giàu xúc cảm và đậm chất nhân văn, tinh thần lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Với nhà thơ Sóng Hồng, thơ và cách mạng không tách rời, trong đó nổi trội hơn cả là niềm say mê với lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Niềm say mê ấy được thể hiện ngay từ những bài thơ đầu tay của ông: Chim xuống cho ta còn mượn cánh/ Để ta bay khắp bốn phương trời… (Bài “Nhớ bạn”-1927). Và niềm say mê lý tưởng ấy được ông nuôi dưỡng đến cả cuộc đời như một thứ men say, như một sự gắn bó máu thịt:

Đấu tranh men đã nồng say

Xa nhau mấy độ sum vầy, em ơi

Tự do hạnh phúc giống nòi

Là niềm ước nguyện suốt đời của ta

Tình thương non nước bao la

Năm châu vô sản chan hòa anh em

(Bài “Nhân ngày sinh của vợ”, 12-5-1960)

Đi làm cách mạng giải phóng dân tộc, nhà thơ hiểu rõ ấy là một cuộc dấn thân. “Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Là gươm kề tận cổ, súng kề tai”, nhưng với đồng chí Trường Chinh-nhà thơ Sóng Hồng-thì lao tù, ngục tối luôn là trường học để trui rèn ý chí như trong bài “Tin tưởng” ông làm năm 1931, lúc cách mạng đang bị kẻ thù thực hiện “khủng bố trắng”:

Quản chi nếm mật nằm gai

Trời biển mênh mông vẫn đợi người

Chí lớn nấu nung trong ngục tối

Sẽ đem thi thố một ngày mai

Tinh thần lạc quan ấy còn được thể hiện trong nhiều bài thơ khác của Sóng Hồng thời kỳ này. Rõ nhất là bài “Lấy củi” năm 1935: Rủ nhau lấy củi sườn non/ Chim kêu vượn hót, bồn chồn ruột gan/ Đồng bào đau xót lầm than/ Mà ai nắng xế sương tan qua ngày/ Đốt cho tiêu kiếp tù đày/ Cho bừng lửa hận, biết tay anh hùng/ Có về không, có về không?/ Bước mau, mau bước non sông đợi chờ… Bài thơ là tiếng nói được cất lên từ hồn thơ của một người chiến sĩ cách mạng. Ở Nhà tù Sơn La, những năm 30 đen tối, hằng ngày ông và các tù nhân phải vào rừng lấy củi, đốt than. Công việc thật nặng nhọc và vô cùng buồn tẻ. Song, theo tác giả thì nỗi cực nhọc, buồn tẻ của cá nhân chưa phải là điều lớn nhất. Với những người tù cộng sản bấy giờ, nhất là với nhà thơ chiến sĩ Sóng Hồng thì nỗi day dứt, bồn chồn không giây phút nào nguôi ngoai là cuộc sống cơ cực của nhân dân, là tiếng gọi giải phóng non sông đất nước. Do đó, từ việc “lấy củi, đốt than” tẻ nhạt, đã cháy sáng lên một tình thương lớn, một khát vọng lớn… Cùng với tinh thần lạc quan còn là ý chí gang thép, là khí phách ngoan cường của những người cộng sản luôn: Nhằm sẵn trong đầu ba khẩu hiệu/ Chờ khi quyết liệt thét vang trời! Để rồi “thời cơ đến”, bước sang năm 1945, tình hình trong nước và thế giới chuyển biến mau lẹ, có lợi cho thế và lực của cách mạng nước ta. Chớp thời cơ thuận lợi có một không hai ấy, Ðảng ta và Tổng bộ Mặt trận Việt Minh đã kịp thời kêu gọi toàn dân vùng dậy giành độc lập, tự do hoàn toàn cho dân tộc:

Xiềng xích chặt kỳ hết, Gông cùm đập cho tan! Tiêu trừ quân cướp nước. Ðừng tha lũ Việt gian!

(Bài “Ðứng lên” – tháng 1-1945)

Thơ Sóng Hồng hầu hết là thơ chính trị, chủ yếu phục vụ công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Sóng Hồng rất thành công ở những bài thơ loại này, kể cả với bài “Là thi sĩ”. Nhiều nghiên cứu mới đây cho rằng, Sóng Hồng viết bài thơ “Là thi sĩ” để bút chiến với Xuân Diệu. Đó là một nhận định khiên cưỡng, thiếu cơ sở. Bởi chính tác giả bài thơ đã từng viết: “Năm 1942, tôi hoạt động bí mật ở ngoại thành Hà Nội. Các anh chị em vận động binh lính đang tìm cách tuyên truyền một anh thư ký của nhà binh Pháp. Anh này hay làm thơ lãng mạn, than mây khóc gió, tiếc ngọc thương hoa. Một hôm, đồng chí Hoàng Văn Thụ và tôi đến cơ quan binh vận Trung ương ở quận 6 ngoại thành. Một chị binh vận đưa cho chúng tôi xem một bài thơ lãng mạn của anh thư ký nhà binh kia. Tôi bảo chị: “Anh này thích thơ, để tôi làm một bài thơ nói về nhiệm vụ của nhà thơ, rồi chị đưa cho anh ta xem, họa chăng có giúp các chị một phần nào để cảm hóa anh ta chăng”. Dĩ nhiên là chị binh vận kia hoan nghênh ý kiến của tôi và giục tôi làm mau bài thơ đó. Vài hôm sau, tôi đưa cho chị bài thơ “Là thi sĩ”. Chị reo lên vì sung sướng. Sau tôi được biết bài thơ đó đã có tác dụng nhất định trong công tác binh vận của Đảng và trước hết là trong việc giác ngộ anh thư ký nhà binh nói trên. Bài thơ “Là thi sĩ” đã được đăng trên báo bí mật, ký là Sóng Hồng…, sau Cách mạng Tháng Tám lại được đăng trên báo công khai ở Hà Nội” (xem Trường Chinh-Tuyển tập văn học-tập II-trang 295, 296, NXB Văn học, 1997).

Nhưng thơ Sóng Hồng không chỉ thể hiện cái ý chí, niềm tin và sự can trường. Cũng như thơ Bác Hồ, vần thơ của ông là những “vần thơ thép”, nhưng cũng thật “mênh mông bát ngát tình” như cách nói của nhà thơ Hoàng Trung Thông. Trong hoàn cảnh rất ngặt nghèo và khẩn trương của cách mạng, năm 1943, vẫn vang lên tiếng ca xuân trong trẻo, dịu dàng, thú vị của nhà thơ Sóng Hồng:

Xuân đã về

Sáng nay Xuân đã về

Gieo mầm non, hoa thắm khắp sơn khê

Và thổi gió ấm vào tâm hồn chiến sĩ

Vì nhân quần nên chiến đấu say mê!

Hỡi chiến sĩ!

Hãy tạm dừng gót giang hồ

Cho nàng Xuân phủi tuyết sương trên áo

Và dâng cả một bầu trời tạnh ráo

Rất đậm hương và tràn ngập ý thơ!

A! Tiếng cười trong như pha lê!

Sau Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến thành công, những bài thơ tình của Sóng Hồng xuất hiện nhiều hơn. Ấy là những bài thơ viết về tình yêu đôi lứa, tình anh em, bè bạn, đồng chí đồng bào mà tiêu biểu là các bài: “Đan áo”, “Gửi người chị cách mạng”, “Viếng mộ anh Hoàng Văn Thụ”… Trong bài “Viếng mộ anh Hoàng Văn Thụ” có câu:

Nhớ những khi ấp ủ giữa lòng dân

Chia bát cơm khoai, bẻ đôi củ sắn;

Nhớ những phen thoát vòng vây địch

Ngủ bờ ngủ bụi

vượt mọi chông gai…

Đèo cao xóm vắng đêm rằm,

Nhìn trăng anh khẽ gọi thầm: Em ơi!

Rồi ngày sum họp cũng đến. Kháng chiến thành công, hòa bình được vãn hồi, nhà thơ mặc dù bận việc nước việc dân vẫn có những phút giây thật hạnh phúc:

Bờ Hồ em bước bên anh

Ta đi trong ánh bình minh cuộc đời

Nói về thơ Sóng Hồng, bên cạnh cái “lý”, cái “tình” còn phải nói tới nghệ thuật sử dụng ngôn từ và hiệu quả của nó. Để nhanh chóng chuyển tải tư tưởng, đường lối của Đảng, chính sách của cách mạng đến với quần chúng nhân dân, ông thường sử dụng thể thơ lục bát truyền thống của thơ Việt. Tuy nhiên, lục bát trong thơ Sóng Hồng là thứ lục bát không phải mềm mại du dương mà là sôi nổi, hùng hồn biểu hiện một ý chí gang thép, một tinh thần tiến công và một niềm tin mãnh liệt. Là thế nên nhiều câu, nhiều bài có sức lôi cuốn mạnh mẽ quần chúng người đọc. Là những lời hiệu triệu, thậm chí là khẩu hiệu, là “những tiếng thét vang trời”, nhưng thơ ông lại thật giàu hình ảnh và vô cùng gần gụi:

Cách thềm măng mọc lô nhô

Giáo gươm du kích trước giờ xuất quân

Tiếng kèn giục giã chiều xuân

Lệnh đâu tập hợp như gần như xa

Mưa hè, suối cuốn bên nhà

Ầm ầm binh mã xông ra chiến trường

Thu sang lá rụng đồi sương

Tiễn đưa chiến sĩ lên đường lập công

Đêm đông lần lữa bên song

Mải mê đọc sách đèn chong canh tàn

(Bài “Ở căn cứ Việt Bắc” – 1951)

Bài thơ có cái thật riêng, thật cá nhân nhưng lại toát lên cái chung, cái bao quát, cái lớn lao, Ở đây, nhà thơ đã bày tỏ cảm xúc của mình thật giản dị, thật chân thành. Trong những bài thơ làm những năm sau, Sóng Hồng ít dùng thể lục bát hơn, bớt đi nhiều ngôn từ của lối thơ cổ phong, nhưng vẫn mang tính triết lý sâu sắc, vẫn gần gụi với người đọc. Ví như bài “Đi họp” làm tại Việt Bắc mùa đông năm 1953. Bài thơ làm theo lối thơ mới giàu nhịp điệu, khỏe khoắn; là thơ tự do nhưng mỗi chữ, mỗi câu đều được lựa chọn cẩn thận nhằm giãi bày cảm xúc của mình trong một cảnh huống rất bình thường – cưỡi ngựa đi họp:

Rì rầm tiếng suối reo,

Xuống đèo trời mới tối

Vằng vặc mảnh trăng treo

Ngựa mỏi đi bước một

Người suy nghĩ vấn vương

Nhiều khi ý kiến lớn

Vụt đến lúc đi đường…

Đường xa cơn gió rít,

Xao xác chim cầm canh,

Hội nghị mai họp sớm

Băm băm ngựa bước nhanh

Thơ của Sóng Hồng là thơ giàu xúc cảm và đậm chất nhân văn, trữ tình, luôn luôn hàm chứa một tinh thần lạc quan, một niềm tin mãnh liệt vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng và thể hiện khí phách của một người cán bộ cách mạng nhiệt huyết, kiên trung.

Đọc lại những bài thơ của một thời chưa xa ấy, thấy rõ một tâm hồn nghệ sĩ-nhà thơ Sóng Hồng trong con người chiến sĩ-đồng chí Trường Chinh! Là một nhà thơ đồng thời là một nhà văn hóa lớn, Sóng Hồng đã đồng cảm sâu sắc với các nhà thơ lớn của dân tộc ta như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Được biết, Sóng Hồng là nhà thơ rất tâm đắc và kính phục ý chí cũng như tài thơ của Cao Bá Quát. Ông đã bỏ nhiều công phu để dịch một số bài thơ của Chu Thần…

Đọc lại hơn 200 bài thơ của Sóng Hồng vào dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của ông, chúng ta như được thấy lại một thời từ nô lệ đau thương và “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” của dân tộc. Người đọc cũng gặp lại một điệu đàn, một phong cách thơ riêng khác, có một vị trí, một chỗ đứng nhất định trong nền thơ Việt Nam hiện đại, mặc dù thơ chỉ chiếm một vị trí rất nhỏ trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Đọc lại thơ Sóng Hồng, người đọc hôm nay cũng gặp một tâm hồn thơ đôn hậu cùng ý chí, cùng tấm lòng của một người cộng sản.

NGÔ VĨNH BÌNH

Đỗ Phủ Thương Đọc Lại / 2023

Đỗ Phủ tượng ở Du Fu caotang Thành Đô, Tứ Xuyên (ảnh: Fanghong)

ĐỌC ĐỖ PHỦ NHỚ ĐẶNG DUNG

Ngày 8 tháng 12 năm 757, Đỗ Phủ về kinh thành Trường An làm quan trong triều vua Đường Huyền Tông sau loạn An Sử.  Bài thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ ‘Xem người đẹp múa kiếm’ gợi cho người Việt Nam nhớ bài thơ bi tráng ‘Thuật hoài’ đêm thanh mài kiếm của Đặng Dung  Bài này đã được giới thiệu tại “Đọc Đỗ Phủ nhớ Đặng Dung” .

Đỗ Phủ thi Thánh thời nhà Đường Trung Hoa với bài thơ Xem người đẹp múa kiếm ca ngợi tài nghệ múa kiếm tuyệt luân của mỹ nhân Công Tôn Đại Nương. Đọc thơ Đỗ Phủ liên tưởng tới bài thơ ‘Thuật hoài’ của tráng sĩ Đặng Dung, danh tướng thời Hậu Trần của Việt Nam m đêm thanh mài kiếm, ngẫm kỹ thấy có sự tương đồng. Ôi, danh sĩ tinh hoa đức độ tài năng thời nào cũng có, gặp thời nhiễu loạn, đành vàng lầm trong cát, nhưng nhân cách vẫn lồng lộng như gương trời buổi sớm.

Xem người đẹp múa kiếm Đỗ Phủ(Bản dịch của Nguyễn Minh)

Người đẹp họ Công Tôn thủa trướcMúa kiếm lên cả nước rung rinhVững lòng như núi cũng kinhĐất trời cũng phải vị tình ngả nghiêng.

Sáng như Nghệ bắn văng vầng nhậtUyển chuyển như tiên đáp lưng rồngTới như sấm sét bão bùngNgưng như biển lặng sông trong hiền hòa.

Tài hoa mãi cũng ra mai mộtHọc trò cưng sau rốt truyền nghềNữ nhi Lâm Dĩnh quán quêTới thành Bạch Đế diễn phô kiếm tài.

Câu hỏi đáp cùng người trao đổiNhìn người nay thương tới người xưaTám ngàn cung nữ của vuaCông Tôn múa kiếm mới vừa long nhan.

Năm mươi năm như bàn tay lậtGió bụi nay phủ khắp cung rồiLê Viên phường hát tàn phaiDư âm nữ nhạc còn nơi chiều vàng.

Gò Kim Túc cây hàng cung kínhCỏ xác xơ thành đá Cù ĐườngTiệc hoa đàn sáo chợt ngưngSau vui buồn đến, mặt trăng ló rồi.

Thân già về chẳng có nơiChân chai núi vắng rã rời bước đi.

Nguyên tác Đỗ Phủ

七言古詩

杜甫

觀公孫大娘弟子舞劍器行并序

大歷二年十月十九日夔府別駕元持宅見臨潁李十二 娘舞劍器,壯其蔚跂。問其所師,曰︰余公孫大娘 弟子也。開元三載,余尚童稚,記於郾城觀公孫氏 舞劍器渾脫。瀏灕頓挫,獨出冠時。自高頭宜春梨 園二伎坊內人,洎外供奉,曉是舞者,聖文神武皇 帝初,公孫一人而已。玉貌錦衣,況余白首!今茲 弟子亦匪盛顏。既辨其由來,知波瀾莫二。撫事慷 慨,聊為劍器行。昔者吳人張旭善草書書帖,數嘗 於鄴縣見公孫大娘舞西河劍器,自此草書長進,豪 蕩感激。即公孫可知矣!

昔有佳人公孫氏, 一舞劍器動四方。 觀者如山色沮喪, 天地為之久低昂。 霍如羿射九日落, 矯如群帝驂龍翔, 來如雷霆收震怒, 罷如江海凝清光。 絳唇珠袖兩寂寞, 晚有弟子傳芬芳。 臨潁美人在白帝, 妙舞此曲神揚揚。 與余問答既有以, 感時撫事增惋傷。 先帝侍女八千人, 公孫劍器初第一。 五十年間似反掌, 風塵澒洞昏王室。 梨園子弟散如煙, 女樂餘姿映寒日。 金粟堆前木已拱, 瞿塘石城草蕭瑟。 玳筵急管曲復終, 樂極哀來月東出。 老夫不知其所往? 足繭荒山轉愁疾。

Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ kiếm khí hành Tích hữu giai nhân Công Tôn thị Nhất vũ kiếm khí động tứ phương. Quan giả như sơn sắc trở táng, Thiên địa vi chi cửu đê ngang. Quắc như Nghệ xạ cửu nhật lạc, Kiểu như quần đế tham long tường. Lai như lôi đình thu chấn nộ, Bãi như giang hải ngưng thanh quang. Giáng thần châu tự lưỡng tịch mịch, Vãn hữu đệ tử truyền phân phương. Lâm Dĩnh mĩ nhân tại Bạch Đế, Diệu vũ thử khúc thần dương dương. Dữ dư vấn đáp ký hữu dĩ, Cảm thì phủ sự tằng uyển thương. Tiên đế thị nữ bát thiên nhân, Công Tôn kiếm khí sơ đệ nhất. Ngũ thật niên gian tự phản chưởng, Phong trần hồng động hôn vương thất. Lê viên đệ tử tán như yên, Nữ nhạc dư tư ánh hàn nhật. Kim túc đôi tiền mộc dĩ củng, Cù Đường thạch thành thảo tiêu sắt. Đại diên cấp quản khúc phục chung, Lạc cực ai lai nguyệt đông xuất. Lão phu bất tri kỳ sở vãng, Túc kiển hoang sơn chuyển sầu tật.

Dịch nghĩa

Bài hành xem học trò của đại nương Công Tôn múa điệu kiếm khí

Xưa có người đẹp họ Công Tôn, Mỗi lần múa điệu kiếm khí, bốn phương rung động. Người xem vững như núi cũng khiếp đảm. Trời đất theo nhịp múa mà lên cao xuống thấp. Sáng rực như Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời, Vững vàng như các chúa tiên cỡi rồng lượn. Đến khi sấm sét thu hết cơn giận dữ, Dừng như sông bể đọng ánh sáng trong veo. Làm môi thắm, tay áo ngọc nay đã vắng tênh, Về già có cô học trò để truyền nghề. ấy là người đẹp xứ Lâm Dĩnh ở thành Bạch Đế. Múa khúc tuyệt diệu này, thần thái hiên ngang. Cùng ta trò chuyện trong chốc lát, Cảm thời thế nhiều ngang trái mà xót thương ! Thị nữ của tiên đế có tám nghìn người, Kiếm khí của Công Tôn đứng hàng đầu. Khoảng năm chục năm trôi qua tựa như trở bàn tay, Gió bụi tơi bời tối tăm cả cung vua. Đệ tử Lê viên tan tác như khói, Phong tư đội nữ nhạc chỉ còn ánh nắng lạnh lẽo. Trước gò Kim Túc, côi cối chầu hầu, Nơi thành đá Cù Đường, cỏ xác xơ buồn bã. Trên tiệc, khúc sáo dồn dập đã dứt Vui xong sinh buồn, trăng mọc trời đông. Già này chẳng biết sẽ đi về đâu, Chân chai lê trong núi hoang theo nỗi sầu.

Thuật hoài Đặng DungBản dịch của Phan Kế Bính

Việc đời bối rối tuổi già vay, Trời đất vô cùng một cuộc say. Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. Vai khiêng trái đất mong phò chúa, Giáp gột sông trời khó vạch mây. Thù trả chưa xong đầu đã bạc, Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Nguyên tác Đặng Dung

感懷世事悠悠奈老何無窮天地入酣歌時來屠釣成功易運去英 雄飲恨多致主有懷扶地軸洗兵無路挽天河國讎未報頭先白幾度龍泉戴月磨

Phiên âm Hán-Việt:

Cảm hoài Thế sự du du [2] nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca[3]. Thời lai đồ điếu[4] thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ[5] hữu hoài phù địa trục[6], Tẩy binh[7] vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo[8] đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền[9] đới nguyệt ma.

Chép theo Ngữ văn 10 (nâng cao), sách đã dẫn. Có bản chép khác: Thế lộ (câu 1), Nhập thù ca (câu 2), Sự khứ (câu 4), Trí chúa hữu tâm (câu 5), vị phục (câu 7).

Dịch nghĩa:Việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào?Trời đất mênh mông đắm trong cuộc rượu hát ca.Khi gặp thời, người làm nghề hàng thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công,Lúc lỡ vận, bậc anh hùng đành phải nuốt hận nhiều.Giúp chúa, những mong xoay trục đất lại,Rửa vũ khí không có lối kéo tuột sông Ngân xuống.Thù nước chưa trả được mà mái tóc đã bạc sớm,Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng.

THIẾU LĂNG THƠ “BÁT TRẬN ĐỒ”

Bát trận đồĐỗ Phủ Bản dịch của Phan Kế Bính

Công trùm thế tam phân,Tiếng thơm đồ bát trận.Nước chảy đá trơ trơ,Đánh Ngô còn để giận.

功蓋三分國,名成八陣圖。江流石不轉,遺恨失吞吳。

Bát trận đồ

Công cái tam phân quốc,Danh thành Bát trận đồ.Giang lưu thạch bất chuyển,Di hận thất thôn Ngô.

Dịch nghĩa

Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba,Nổi danh trận đồ Bát quái.Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển,Để lại hận đã thất kế thôn tính Ngô.

ĐỖ PHỦ THI THÁNH THI SỬ

Năm Chí Đức thứ 2 ( 757) đời Đường, Đỗ Phủ bị kẹt lại trong thành Tràng An đã lọt vào tay loạn tướng An Lộc Sơn. Núi sông vẫn như cũ nhưng nước mất nhà tan. Xuân về nhưng thành Tràng An hoang tàn sau nguy biến. Đỗ Phủ xuân vọng lời thơ cảm khái và bi thương. Khoảng 1500 bài thơ của ông lời vào châu ngọc như sử thi khắc vào đá. Văn hóa Trung Quốc cổ điển, văn học Nhật Bản rất trọng bút pháp sử thi tuyệt diệu này

Xuân vọng  Đỗ Phủ Bản dịch của Trần Trọng Kim

Nước phá tan, núi sông còn đó Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu Cảm thời hoa rỏ dòng châu Biệt ly tủi giận, chim đau nỗi lòng Ba tháng khói lửa ròng không ngớt Bức thư nhà, giá đắt bạc muôn Gãi đầu tóc bạc ngắn ngun Dường như hết thảy, e khôn búi tròn.

Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB Văn hoá thông tin, 1995

國破山河在,城春草木深。感時花濺淚,恨別鳥驚心。烽火連三月,家書抵萬金。白頭搔更短,渾欲不勝簪。

Xuân vọng

Quốc phá sơn hà tại,Thành xuân thảo mộc thâm.Cảm thì hoa tiễn lệ,Hận biệt điểu kinh tâm.Phong hoả liên tam nguyệt,Gia thư để vạn kim.Bạch đầu tao cánh đoản,Hồn dục bất thăng trâm.

Dịch nghĩa

Núi sông còn đó mà nước mất rồi,Thành ngày xuân hoang tàn, cỏ cây rậm rạp.Cảm thương thời thế mà hoa ướt lệ,như con chim bị tên, kinh sợ sự chia lìa.Khói lửa báo giặc giã cháy suốt ba tháng liền.Thư nhà lúc này đáng vạn đồng.Gãi mái đầu bạc thấy càng thêm thưa, ngắn,Muốn cài trâm mà chẳng được.(Năm 757)

Mao ốc vị thu phong sở phá ca  là kiệt tác Thi Thánh của Đỗ Phủ. Hiện nay, bảo tàng Du Fu Caotang, nằm bên cạnh Công viên Huanhuaxi ở quận Qingyang của Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên có lưu giữ những di vật của ông. Bảo tàng Du Fu Caotang có diện tích 24 ha,  được công bố thành lập vào ngày 4 tháng 3 năm 1961 là đợt đầu tiên của các địa điểm bảo vệ di tích văn hóa trọng điểm quốc gia Trung Quốc. Tái công bố là địa điểm bảo vệ di tích văn hóa đầu tiên ở tỉnh Tứ Xuyên vào ngày 7 tháng 7 năm 1980

Lều tranh bị phá do gió thu Đỗ Phủ Bản dịch của Nguyễn Minh

Gió mùa thu hú cơn cuồng nộ Cuốn phăng ngay mái cỏ nhà tôi Qua sông cỏ rải tơi bời Trên cao vướng mắc khơi khơi trên cành Dưới thấp thì chìm trong ao nhỏ Trẻ xóm nam khi dễ ông già Nỡ làm giặc cướp trước nhà Ngang nhiên ôm cỏ mang qua nhà mình Kêu khô cổ không giành được chúng Trở về nhà gậy chống thở than Lát sau gió mạnh cũng tan Trời chiều đen tối, không gian mịt mù Chăn vải cũ lạnh như tấm sắt Con cưng nằm đạp rách tan hoang Đầu giường nước dột mênh mang Hạt mưa không ngớt rơi tràn thâu đêm Từ khi loạn ít đêm ngủ được Nay mưa rơi ướt át chịu sao Uớc chi có một toà nào Rộng ngàn căn hộ, bọc bao muôn người Mưa gió lớn khôn lay chuyển nổi Vững như non mãi mãi an toàn Bao giờ toà đó thành hoàn Thì nhà mái lật, cũng cam lòng này.

八月秋高風怒號,卷我屋上三重茅。茅飛渡江灑江郊,高者掛罥長林梢,下者飄轉沉塘坳。南村群童欺我老無力,忍能對面為盜賊。公然抱茅入竹去,唇焦口燥呼不得,歸來倚杖自歎息。俄頃風定雲墨色,秋天漠漠向昏黑。布衾多年冷似鐵,驕兒惡臥踏裡裂。床頭屋漏無干處,雨腳如麻未斷絕。自經喪亂少睡眠,長夜沾濕何由徹!安得廣廈千萬間,大庇天下寒士俱歡顏,風雨不動安如山!嗚呼!何時眼前突兀見此屋,吾廬獨破受凍死亦足!

Mao ốc vị thu phong sở phá ca

Bát nguyệt thu cao phong nộ hào,Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao.Mao phi độ giang sái giang giao.Cao giả quái quyến trường lâm sao,Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao.Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực,Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc.Công nhiên bão mao nhập trúc khứ,Thần tiều khẩu táo hô bất đắc.Qui lai ỷ trượng tự thán tức.Nga khoảnh phong định vân mặc sắc,Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc.Bố khâm đa niên lãnh tự thiết.Kiều nhi ác ngoạ đạp lý liệt.Sàng đầu ốc lậu vô can xứ,Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt.Tự kinh táng loạn thiểu thuỵ miên,Trường dạ chiêm thấp hà do triệt.An đắc quảng hạ thiên vạn gian,Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,Phong vũ bất động an như san.Ô hô, hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc,Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc.

Dịch nghĩa

Tháng tám, trời thu cao, gió giận dữ gào thét,Cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta.Cỏ tranh bay qua sông, rải xuống miền đất bên sông.Cao thì vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng;Thấp thì tả tơi rơi chìm xuống ao nước.Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu,Nhẫn tâm làm giặc cướp ngay trước mặt ta.Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc;Ta khô môi rát miệng, kêu thét mà không được.Trở về, chống gậy, thở than.Một lát sau, gió yên mây đen như mực.Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà.Chiếc chăn vải dùng nhiều năm, lạnh như sắt,Bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang.Ở đầu giường mái nhà dột, không chổ nào khô;Vết mưa nhiều như gai vẫn còn chưa hết.Từ khi gặp cơn loạn lạc, mình ít ngủ,Suốt đêm dài ướt đẫm, biết làm sao hết được!Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn,Để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẻ,Không bị kinh động vì mưa gió, yên ổn như núi non!Hỡi ôi, biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt,Dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ, mình có chịu rét đến chết, cũng thoả lòng!(Năm 761)

Video yêu thích KimYouTube

Trở về trang chính Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Những Bài Thơ Tiểu Học Mà Bạn Nên Một Lần Đọc Lại / 2023

Những bài thơ tiểu học thường gợi lại những kỉ niệm xa xăm thuở bé thơ. Ngày đó chúng ta không có những toan tính, bon chen như khi đã lớn khôn. Đọc lại những bài thơ thuở nào, ta bỗng phải suy ngẫm thật nhiều.

1. Ngưỡng cửa ( Vũ Quần Phương )

 NGƯỠNG CỬA         

  Nơi này ai cũng quen  Ngay từ thời tấm bé  Khi tay bà, tay mẹ  Còn dắt vòng đi men 

Nơi bố mẹ ngày đêm  Lúc nào qua cũng vội  Nơi bạn bè chạy tới  Thường lúc nào cũng vui

Nơi này đã đưa tôi Buổi đầu tiên đến lớp  Nay con đường xa tắp  Vẫn đang chờ tôi đi

(Vũ Quần Phương)

2. Nói với em ( Vũ Quần Phương )

NÓI VỚI EM

Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,

Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,

Tiếng lích rích chim sâu trong lá,

Chim chìa vôi vừa hót vừa bay.

Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,

Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,

Thấy chú bé đi hài bảy dặm,

Quả thị thơm cô Tấm rất hiền.

Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,

Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,

Tay bồng bế sớm khuya vất vả,

Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay.

(Vũ Quần Phương)

3. Trăng ơi từ đâu đến? ( Trần Đăng Khoa )

TRĂNG ƠI… TỪ ĐÂU ĐẾN?

Trăng ơi… từ đâu đến?

Hay từ cánh đồng xa

Trăng hồng như quả chín

Lửng lơ lên trước nhà.

Trăng ơi… từ đâu đến?

Hay biển xanh diệu kì

Trăng tròn như mắt cá

Chẳng bao giờ chớp mi.

Trăng ơi… từ đâu đến?

Hay từ một sàn chơi

Trăng bay như quả bóng

Bạn nào đá lên trời.

Trăng ơi… từ đâu đến?

Hay từ lời mẹ ru

Thương Cuội không được học

Hú gọi trâu đến giờ!

Trăng ơi… từ đâu đến ?

Hay từ đường hành quân

Trăng soi chú bộ đội

Và soi vàng góc sân.

Trăng ơi… từ đâu đến?

Trăng đi khắp mọi miền

Trăng ơi, có nơi nào

Sáng hơn đất nước em…

(Trần Đăng Khoa)

4. Nàng tiên ốc (Phan Thị Thanh Nhàn)

NÀNG TIÊN ỐC

Xưa có bà già nghèo, Chuyên mò cua bắt ốc. Một hôm bà bắt được, Một con ốc xinh xinh. Vỏ nó biêng biếc xanh, Không giống như ốc khác. Bà thương không muốn bán, Bèn thả vào trong chum. Rồi bà lại đi làm, Đến khi về thấy lạ. Sân nhà sao sạch quá, Đàn lợn đã được ăn. Cơm nước nấu tinh tươm, Vườn rau tươi sạch cỏ. Bà già thất chuyện lạ, Bèn có ý rình xem. Thì thấy một nàng tiên, Bước ra từ chum nước. Bà già liền bí mật, Đập vỡ vỏ ốc xanh. Rồi ôm lấy nàng tiên, Không cho chui vào nữa. Hai mẹ con từ đó, Rất là yêu thương nhau.

 (Phan Thị Thanh Nhàn)

5. Gió từ tay mẹ

Gió từ tay mẹ

Ru bé ngủ say

Thay cho gió trời

Giữa trưa oi ả

6. Ai dậy sớm ( Võ Quảng)

AI DẬY SỚM

Ai dậy sớm 

Bước ra vườn

Hoa ngát hương 

Đang chờ đón! 

Ai dậy sớm 

Đi ra đồng 

Cả vừng đông 

Đang chờ đón! 

Ai dậy sớm 

Chạy lên đồi 

Cả đất trời 

Đang chờ đón!

( Võ Quản

Đọc Lại Thơ Đường: Tương Tiến Tửu Của Lý Bạch / 2023

Nguồn: Đặc San Lại Giang 2010

Tôi muốn mượn bài thơ Đăng U Châu Đài Ca của Trần Tử Ngang thời Sơ Đường bên Trung Hoa để nói lên sự vận hành của vũ trụ do luật tuần hoàn chi phối:

Tiền bất kiến cổ nhân Ngoảnh lại trước: người xưa chẳng thấy Trông về sau: quạnh vắng người sau Ngẫm hay trời đất dài lâu Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan Sông Hoàng Hà lưng trời tuôn nướcNgô Tất Tố (dịch) Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai Nước non nặng một lời thề Nhân sinh đắc ý tu tận hoan Mạc sử kim tôn không đối nguyệt Việc đời tựa giấc chiêm bao Nhân sinh hữu tài tất hữu dụng Thiên kim tán tận hoàn phục lai Phanh dương tể ngưu thả vi lạc Ta về trên lưng rượu Trừu đao đoạn thủy, thủy tự lưu Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu Đến đâu thì đến đâu Chung cổ soạn ngọc bất túc quý Cổ nhân thánh hiền giai tịch mịch Lý Bạch nhất đấu thi bách thiên Triều hồi nhật nhật điển xuân y Khỏi bệ vua ra cố áo hoài Tản Đà(dịch) Bên sông say khướt tối liền mai Nợ tiền mua rượu đâu không thế Sống bảy mươi năm đã mấy người Mỗi nhật giang đầu tận túy quy Tửu trái tầm thường hành xứ hữu Nhân sinh thất thập cổ lai hy Trường An thị thượng tửu gia miên Thiên tử hô lai bất thượng thuyền Tự xưng thần thị tửu trung tiên Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh Đản nguyện trường túy bất nguyện tinh. Có ai say để quên sầu Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn Hội tu nhất ẩm tam bách bôi … Dữ quân ca nhất khúc Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thinh Làm chi cho phải lao đao nhọc nhằn Vậy nên say suốt hôm mai Bên cây cột lớn nằm dài khểnh chân Nước đi đi mải không về cùng non Bôn lưu đáo hải bất phục hồi Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát. Triêu như thanh ti, mộ thành tuyết. Xuống biển rồi có ngược lên đâu Lầu cao, gương xót mái đầu Sớm còn tơ biếc, tối hầu tuyết pha Vui cho trọn khi ta đắc ý Dưới vầng trăng đừng để chén không Sinh ta trời có chỗ dùng Nghìn vàng tiêu hết lại trông thấy về Chén đi đã trâu dê cứ giết Ba trăm ly phải hết một lần Khâu, Sâm hai bác bạn thân Rượu vào xin chớ ngại ngần ngừng thôi Ta vì bác hát chơi một khúc Bác vì ta hãy chúc bên tai Ngọc vàng chuông trống mặc ai Tỉnh chi ? chỉ muốn cho dài cuộc say Bao hiền thánh đến nay ai rõ Phường rượu ta tên họ rành rành Trần Vương bữa tiệc quán Bình Mười phần đấu rượu thỏa tình đùa vui Chủ nhân chớ ngậm ngùi tiền ít Mua rượu ta chén tít cùng chau Ao cừu, ngựa gấm để đâu ? Gọi con đem đổi vài bầu rượu ngon Hậu bất tri lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc sảng nhiên nhi thế hạ

Nghĩa:

Đất trời dài lâu man mác ‘thiên địa chi du du‛ mà đời người thì giới hạn ‘doanh hư, tiêu trưởng‛. Những bài thơ Đường đã vượt cả không gian và thời gian để tồn tại đến ngày nay. Bao thế kỷ đã trôi qua, bao triều đại hưng vong, bao lớp người đã sinh ra rồi mất đi. Bất chấp tất cả, những bài thơ Đường mãi mãi là những bông hoa tươi đẹp nhất chẳng những những trong vườn văn học Trung Hoa mà còn cả văn học thế giới.

Trong quyển ‘ Vang Bóng Một Thờ i‛ nhà văn Nguyễn Tuân có kể chuyện về một khách phong lưu ngày xưa nhà rất nghèo mà không chừa được thói quen thắp nến bạch lạp trong đêm khuya thanh vắng để đọc Đường Thi in thạch bản. Trên thế giới ít có quan hệ văn chương nào đặc biệt như quan hệ giữa thơ Đường với thơ Việt, chỉ có thơ Đường chứ không phải toàn bộ thi ca Trung Hoa đã ảnh hưởng sâu xa, phong phú và lâu dài đối với thơ Việt, không phải chỉ ngày xưa mà đến cả ngày nay. Có thể nói không một nhà thơ lớn nào của nước ta lại không cưu mang một món nợ tâm hồn ít nhiều thơ Đường. Người ta đã nói đến ‘nguồn Đường‛, ‘hồn Đường‛, ‘giọng Đường‛ trong thơ Việt như một hệ lụy dài lâu.

Đọc lại thơ Đường để mà nhớ lại những gì tổ tiên chúng ta đã từng mến yêu trân trọng. Tâm hồn Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan … đều có dấu ấn thơ Đường. Rồi đến những nhà thơ cận đại như Tản Đà, Quách Tấn … chịu ảnh hưởng thơ Đường quá rõ rệt. Hồn thơ Đường vẫn ẩn hiện ở những nhà thơ Tây học không thông thạo chữ Hán như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Chế Lan Viên… Có thể nói rằng thiếu kiến thức thơ Đường, chúng ta sẽ không hiểu thấu đáo thi ca Việt Nam cả cổ điển lẫn hiện tại.

Đọc lại thơ Đường để tâm hồn rung cảm với ‘sắc liễu bên bờ sông Dương Tử‛, những ‘nhành mai đợi tuyết ở núi Cô Sơn‛, ‘tiếng chuông khuya của chùa Hàn Sơn‛, ‘chòm mây trắng trên lầu Hoàng Hạc‛… Hôm nay đọc lại thơ Đường là tìm về cái say của Lý Bạch trong Trương Tiến Tửu để suy niệm về thời gian trôi qua trong mỗi sát-na của nhà Phật, nước chảy như thế nầy đây ngày đêm không dứt của Khổng Tử và người ta không tắm hai lần trong một giòng nước của một triết gia Tây Phương. Thơ Lý Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng rất đặc biệt. Phong cách ấy gắn liền với nội dung tư tưởng các bài thơ mà cũng gắn liền với nhân cách của nhà thơ. Lời thơ của ông không sắp đặt, trau chuốt nhưng đẹp một cách tự nhiên. Ông là người chống khuynh hướng hình thức chủ nghĩa của thời Tề Lương, một khuynh hướng thi ca chỉ chú trọng về thanh luật, đối ngẫu còn nội dung thì ủy mị, vô vị. Ông đã thực hiện được chủ trương trên vào thi ca của mình, bởi ông là người có thực tài nên đã làm cho chủ trương đó thắng lợi. Sống vào thời Thịnh Đường mà ông ít sáng tác các bài thơ theo thể Đường Luật. Thơ ông chủ yếu là nhạc phủ, ca hành, cổ phong nghĩa là thể thơ không gò bó theo một khuôn khổ nào, câu dài câu ngắn xen nhau. Dài hay ngắn tùy ý thơ, tùy cảm hứng chứ không lệ thuộc vào vần điệu. Qua bài thơ Tương Tiến Tửu của ông, chúng ta đã thấy được điều nầy

Quân bất kiến, Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Bôn lưu đáo hải bất phục hồi Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát Triêu như thanh ti, mộ thành tuyết. Nhân sinh đắc ý tu tận hoan Mục sử kim tôn không đối nguyệt Nhân sinh ngã tài tất hữu dụng Thiên kim tán tận hoàn phục lai Phanh dương, tể ngưu thả vi lạc Hội tu nhất ẩm tam bách bôi Sàm phu tử Đan Khâu sinh Tương tiến tửu Bôi mạc đình Dữ quân ca nhất khúc Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thinh Chung cổ soạn ngọc bất túc quý Đản nguyện trường túy bất nguyện tinh Cổ nhân thánh hiền giai tịch mịch Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh Trần Vương tích thời yến Bình lạc Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền Kính tu cô thủ đối quân chước Ngũ hoa mã Thiên kim cừu Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu

Dịch :

‘Sắp Mời Rượu‛ là tên một ca khúc cổ, Lý Bạch đã mượn ca khúc nầy làm tựa đề cho bài thơ của mình. Quách Mạt Nhược nhận xét : ‘Hầu hết những bài thơ hay của Lý Bạch phần lớn được làm trong khi say‛. Khi say con người như vượt thoát mọi kiềm chế, lời nói chếnh choáng sa đà. Trong những lời nói đó có những thành ý mà lúc tỉnh người ta không muốn nói ra hoặc không thể nói ra. Tương Tiến Tửu là một bài thơ lớn vì nó đã phơi bày một cách chung nhất của một đời người ngắn ngủi, hiện hữu trong một vũ trụ bao la bất di bất dịch. Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh, một ẩn dụ sinh động triết lý :

Nước sông Hoàng Hà từ trên trời chảy lại rồi chảy xuôi về biển và không bao giờ trở lại, và nếu có trở lại chăng thì đâu có còn nguyên vẹn dòng nước ban đều. Trong bài thơ Thề Non Nước, Tản Đà đã viết :

Hai nhà thơ Việt và Hoa đã có những tư duy giống nhau về giòng chảy của thời gian bởi cuộc đời qua tháng năm mới buổi sáng mái tóc còn tơ xanh, buổi chiều đã ngã màu tuyết trắng để rồi đi vào cõi già, cõi chết. Những ai đã bước vào tuổi năm mươi trở đi mà Khổng Tử đã định vị ‚ngũ thập nhi tri thiên mệnh‛ chắc hẳn đã giác ngộ sâu sắc điều nầy để từ đó mọi người nên nhìn lại cách sống đẹp hơn, vị tha hơn :

Người xưa nói rằng : ‘Kẻ sĩ vì người tri kỷ mà chết‛ (sĩ vị tri kỷ giả tử). Tri kỷ có thể là ‘bằng hữu tri kỷ‛, có khi là ‘hồng nhan tri kỷ‛. Trong Tương Tiến Tửu, Lý Bạch đã cùng hai người bạn tâm đắc Sàm Phu và Đan Khâu ngồi uống rượu, và xem cuộc đời chỉ là một giấc mộng lớn :

Dịch

Vốn là một người cuồng phóng, Lý Bạch không chịu một sự trói buộc nào. Vào đời ông theo một con đường hết sức đặc biệt. Các nhà thơ thời nhà Đường thường tiến thân bằng khoa bảng để ra làm quan. Nhưng Lý Bạch mặc dù học rất giỏi, mười lăm tuổi đã học hết sách Bách Gia Chư Tử và các loại kỳ thư, ông không chịu vào kinh ứng thí, chỉ ở nhà luyện kiếm rồi lên núi cầu tiên phỏng đạo. Ong tin rằng nếu người ta có thực tài thì sẽ được trọng dụng, và nghìn vàng nếu có mất đi rồi sẽ có trở lại :

Hơn một nghìn tám trăm bài thơ của Lý Bạch được in thành ba mươi quyển, hầu hết nhà thơ đều lấy đề tài uống rượu, du tiên, ca tụng cảnh thiên nhiên, ca vịnh nhân vật lịch sử, về tình bằng hữu …

Rượu đối vơi thi nhân là một chất kích xúc tác (stimulant) để làm thơ. Rượu vào thi ra (tửu nhập thi xuất), và những bài thơ làm trong lúc say là những thi phẩm hay nhất, vi diệu nhất. Cái say của Lý Bạch là cái say của chừng mực, chứ không phải sa đà, trụy lạc, mặc dù từ say tới trụy lạc rất gần. Với tư tưởng phù sinh nhược mộng, nhân thế vô thường không phải là nhân sinh bi quan, yếm thế của nhà thơ, ông đã dùng nó như một phương tiện để phản kháng uy thế của bọn quyền thần hầu đạt được cứu cánh sống trong một chế độ tự do nhân bản. Ong đã từng xác định ‚ông không bỏ đời, mà đời đã bỏ ông‛ (ngã bản bất khí thế, thế nhân tự khí ngã). Tiếc thay xã hội mà ông đang sống đầy bất công, không được như ý nên ông đã ‚xỏa tóc ngồi trên thuyền cho bay theo gió‛ (nhân sinh tại thế bất xứng ý, minh triêu tản phát lộng biên chu). Nếu đời không đạt được những gì mình mong ước, nhà thơ hoặc ngồi dưới trăng uống rượu một mình (nguyệt hạ độc chước) hoặc đồng ẩm với bạn bè khi gặp cuộc vui:

Dĩ nhiên khi say người ta nói quá lời, nhưng không vì thế mà ta phải câu nệ từng lời, từng chữ đối với người say. ‘Kỵ hổ nan hạ‛ mà ‘kỵ tửu‛ thì càng khó xuống hơn. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã bày tỏ ý niệm đó qua những câu thơ :

Phải chăng nhà thơ họ Vũ đã ảnh hưởng sâu đậm ý thơ của Lý Bạch tiên sinh :

Lấy dao chém nước, nước vẫn chảy, nâng chén giải sầu, sầu vẫn sầu. Ô hay! ‘Dục phá thành sầu khiển dụng tửu‛ đã không còn hiệu nghiệm! Lý Bạch là một người có bản tính bộc trực, khi ghét ông dám nói thẳng rằng : ‘triều đình đã lấy châu ngọc mà mua tiếng cười điệu hát và lấy tám cám nuôi dưỡng hiền tài‛ ( châu ngọc mãi ca tiếu, tao khang dưỡng hiền tài ), và trong thời phong kiến, cũng chỉ có Lý Bạch mới gan dạ đặt Đạo Chích cạnh Nghiêu Thuấn trong cùng một vần thơ :

Thế vô tẩy nhĩ ông Thùy tri Nghiêu dữ Chích ( Đời mà thiếu Hứa Do, Nghiêu và trộm nào ai rõ).

Do đó mà ông xem thường bọn quyền qúy, quan lại, xem thường tiếng chuông, tiếng trống ầm ĩ trong những cuộc đại yến ở triều đình :

‘Tỉnh chi chỉ biết cho dài cuộc say‛! Say để hòa nhập với đời khi hoài bảo chưa thành. Nhà thơ không muốn mình làm kẻ ngu trung như một Khuất Nguyên khi mà mọi người đều say chỉ có mình ta tỉnh (chúng nhân giai túy, ngã độc tỉnh). Người đời đều say mình phải ăn luôn cả hèm, nuốt luôn cả bã rượu để cùng say thì mới là người thức thời.

Uống rượu mà danh lưu thiên cổ thì cũng đặc biệt, đem người uống rượu mà so sánh với bậc thánh hiền lại càng đặc biệt hơn. Phải chăng khi say lời nói cường điệu, thái độ ngông nghênh điều nầy dành cho kẻ phàm phu tục tử. Với Lý Bạch, một đấu rượu làm thơ cả trăm thiên, vua gọi về triều chẳng lên thuyền và cho mình là một trong tám vị tiên trong rượu. Bài ‚Tửu Trung Bát Tiên Ca‛ của Đỗ Phủ đã đề cập và minh chứng điều nầy :

Ngựa ngũ hoa và áo hồ cừu giá nghìn vàng từ xưa vốn là của quý. Nhà thơ đã gọi trẻ đem đổi lấy rượu ngon để cùng với các bạn uống cho tiêu sầu vạn cổ. Bốn câu cuối của bài thơ đã đồng điệu với Đỗ Phủ trong bốn câu đầu của bài Khúc Giang :

Dịch :

Hai nhà thơ, hai tư tưởng đã gặp nhau như chia xẻ những bức bách cơm áo của đời thường, những bon chen danh lợi nơi Xuân Canh Dần 2010 70 Đặc San Lại Giang triều chính. Rượu như một phương tiện giải tỏa chăng những tiêu sầu khiển muộn mà còn thể hiện cái hào khí của mình trong một xã hội đầy ắp bất công khi mà đời sống dân chúng bị bào mòn đến rã rời từ thể xác đến tinh thần.

Viết về Lý Bạch chỉ một bài thôi không đủ bởi trong cái thế giới thi ca của ông mênh mông quá. Đọc thơ ông khó biết ông sáng tác trong hoàn cảnh nào, ông để trí tưởng tượng, tình cảm của mình bao trùm lấy cảnh vật. Có người ví thơ Lý Bạch như ‚con ngựa trời bay trên mấy từng mây‛ (thiên mã hành không), có người ví thơ ông như ‘sóng dữ vỗ bờ‛ (nộ đào hồ lãng). Nhưng có lúc thơ ông êm ả dịu dàng với những ‚âm thanh ngoài dây tơ‛, ‘mùi vị ngoài mùi vị‛ (huyền ngoại âm, vị ngoại vị) mà các nhà thơ đương thời và sau nầy khó mà bắt chước.

Một người tài hoa học rộng, giỏi kiếm cung như ông mà đến khi say khướt vẫn không quên được mối sầu vạn cổ. Mối sầu đó chính là nỗi bất mãn khôn ngui với một xã hội đầy dẫy bất công, bất hợp lý: tài năng bị coi rẻ, người hiền bị chèn ép, kẻ tầm thường dựa quyền thế lộng hành, tác oai, tác quái.

Là vóc dáng thi sĩ lớn thời Đường Huyền Tông, ông đã để lại cho đời sau, qua bao thế hệ, những bài thơ không có tuổi thọ, trong đó bài ‚Tương Tiến Tử‛ đã làm cho tên tuổi ông danh lưu thiên cổ.

Bạn đang xem bài viết Đọc Lại Bài Thơ “Nhớ Bắc” Của Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!