Xem Nhiều 12/2022 #️ Đôi Điều Cảm Nhận Về Bài Thơ ” Mẹ Ốm” / 2023 # Top 12 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Đôi Điều Cảm Nhận Về Bài Thơ ” Mẹ Ốm” / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đôi Điều Cảm Nhận Về Bài Thơ ” Mẹ Ốm” / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mọi hôm mẹ thích vui chơiHôm nay mẹ chẳng nói cười được đâuLá trầu khô giữa cơi trầuTruyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nayCánh màn khép lỏng cả ngàyRuộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa.Nắng mua từ những ngày xưaLặn trong đời mẹ đến giờ chưa tanKhắp người đau buốt nóng ranMẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm.Người cho trứng, người cho camVà anh y sĩ đã mang thuốc vàoSáng nay trời đổ mưa ràoNắng trong trái chín ngọt ngào bay hươngCả đời đi gió đi sươngBây giờ mẹ lại lần giường tập điMẹ vui, con có quản gìNgâm thơ, kể chuyện, rồi thì múa caRồi con diễn kịch giữa nhàMột mình con sắm cả ba vai chèoVì con, mẹ khổ đủ điềuQuanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhănCon mong mẹ khỏe dần dầnNgày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ sayRồi ra đọc sách, cấy càyMẹ là Đất Nước, tháng ngày của con.(Trần Đăng Khoa)

Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn rất nhỏ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Trần Đăng Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Trần Đăng Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” được đưa vào sách Tiếng Việt 4- tập 1 cũng vậy.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm:” Mọi hôm mẹ thích vui chơiHôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu.”

Một suy nghĩ hết sức đáng yêu, chân thực mang ý nghĩa như là một lời giới thiệu ngây thơ với mọi người về sự đau ốm của mẹ.

Mẹ ốm cảnh vật cũng buồn theo: Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu…”.

Mẹ vốn là người hay lam hay làm tần tảo sớm khuya. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả là người cảm nhận được rõ nét nhất qua hình ảnh đầy xúc động:

“Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

Từ một cậu bé còn nhỏ tuổi, nhưng đã liên tưởng đến hình ảnh “nắng mưa” cho ta thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm. Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

” Khắp người đau buốt nóng ran

Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm. Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ – em bé Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

“Cả đời đi gió, đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.

Với việc sử dụng thành ngữ “đi gió đi sương” chứng tỏ tác giả hiểu rất nhiều về sự vất vả gian khổ của người mẹ và cũng chứng tỏ tác giả rất yêu thươngmẹ, muốn làm tất cả vì mẹ, để mẹ được vui, chóng khỏi bệnh: “Mẹ vui, con có quản gì Ngâm thơ, kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo”

Đôi Điều Cảm Nhận Về Thơ Xuân Việt Nam Thời Trung Đại / 2023

Con người định vị sự tồn tại của mình trong các quan hệ thuộc cõi nhân sinh và quan hệ với thế giới tự nhiên, với mức độ vô thức và ý thức khác nhau. Ngay trong một đời người thì cảm thức về cùng một mùa thì mỗi năm mỗi khác. Trong vô vàn sự khác biệt đó vẫn có thể khẳng định được rằng mùa xuân là mùa gợi cho người ta nhiều cảm xúc nhất.

Thời Lý là thời cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam. Đây cũng là những năm tháng độc lập của đất nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc ngột ngạt đen tối. Những điều này khiến cho thơ xuân của các Phật tử đương thời có ý vị riêng. Tiêu biểu trong số đó là Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư Lý Trường (1052 – 1096):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân qua trăm hoa rụng

Xuân lại tới và trăm hoa sẽ lại nở.

Sự vật đuổi nhau qua trước mắt,

Cái già sùng sục tới trên đầu.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua, sân trước, một cành mai).

Đây vốn là một bài kệ, một thể văn vần của nhà chùa. Kệ kết thúc chương kinh hay lời thuyết pháp của các vị cao tăng, nhằm tóm lược nội dung trước đó. Khác với đặc điểm phổ biến của các bài kệ là tính khẩu ngữ, bài kệ này nổi trội tính chất của thơ bác học thời trung đại.

Trong hoàn cảnh chất xuân đang thấm đẫm cả thời gian và không gian, Thiền sư Mãn Giác bộc lộ những suy tư xúc cảm về lẽ luân hồi trong cõi tự nhiên và cõi nhân sinh. Ngôn từ và phương pháp thuyết lý đều thấm nhuần chính đạo, nhưng cả triết học tự nhiên và triết học nhân sinh đều có điểm độc sáng: có một cành mai không theo lẽ thường của muôn loài cây, vẫn khoe sắc khi xuân đã tàn. Tư tưởng nhân sinh mà ngài muốn cho mọi người thụ đắc là người tu hành đến độ viên mãn sẽ thoát khỏi vòng luân hồi. Đạo cao, tâm sáng đã khiến cho vị cao tăng này lĩnh hội được tinh thần khai phóng chân chính của đạo Phật. Hơn nữa mùa xuân của đất trời hòa điệu với mùa xuân phục hưng của dân tộc đã khiến cho tình cảnh riêng (già yếu, bệnh tật) không còn mấy ý nghĩa. Chưa tìm thấy tác phẩm nào khác của Mãn Giác Thiền sư Lý Trường nhưng chỉ cần những dòng xuất khẩu thành chương ngắn ngủi đó, ông đã đủ tư cách một tác giả văn học. Bài kệ – thơ này là một cứ liệu sáng giá trong việc nghiên cứu tư tưởng Phật học ở Việt Nam cũng như đời sống tinh thần dân tộc thời trung đại.

Trong một ngày xuân dạo vườn thượng uyển, cảnh như cũ gợi nhớ người xưa vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290) dạt dào cảm xúc, hạ bút thành một bài thơ chan chứa tình người. Đó là bài Cung viên xuân nhật hoài cựu:

Môn không trần yểm kính sinh đài,

Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai.

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,

Xuân hoa như hứa vị thùy khai?

( Ngày xuân ở vườn trong cung nhớ người cũ

Cửa vắng bụi bao phủ, đường đầy rêu,

Chính giữa ban ngày mà chìm lặng, ít người đi lại.

Nghìn hồng muôn tía luống những đua tươi,

Không biết những hoa xuân kia vì ai mà nở?).

Bài thơ không có những từ ngữ cho biết “người cũ” cụ thể là ai nhưng chúng ta hình dung được người đó thuộc phái đẹp vì rằng hoa xuân muôn hồng nghìn tía gợi đến nàng. Xưa kia bao quanh vua chúa có biết bao nhiêu là người đẹp. Vua chúa sở hữu họ do quyền lợi, do nghĩa vụ, do tình cảm và vì vô vàn lý do khác. Ta không biết người cũ mà nhà vua đang nói đến là hậu, là phi, là tần hay thuộc thân phận khác. Dù ai đi nữa, đó cũng là người may mắn vì người đó là đấng quân vương có tình cảm sâu sắc, vì vắng nàng nhà vua thấy vườn trong cung u tịch như vườn của Thiền viện. Theo lẽ tự nhiên mỗi độ xuân về vườn trong cung ngàn hoa đua nở, vậy mà nhà vua thấy điều đó dường như lạc điệu vì không còn dung nhan kiều diễm của một người cùng hòa điệu khoe sắc.

Trần Nhân Tông (tức Trần Khâm 1258 – 1308) là một vị vua yêu nước và anh hùng, một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của đất nước ta. Ông còn sáng lập ra dòng Thiền Trúc lâm ở Việt Nam. Trần Nhân Tông có nhiều bài thơ viết trong ngày xuân: Xuân nhật yết Chiêu Lăng, Xuân hiểu, Xuân cảnh, Xuân vãn…

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài và oanh liệt của dân tộc ta, mãi mãi sáng ngời hào khí Đông A. Trong Hán tự, chữ Đông và bộ A là chiết tự chữ Trần. Hào khí Đông A là hào khí của quân dân ta đời Trần. Hào khí đó thấm nhập cả trong thơ xuân của vua Trần Nhân Tông, tiêu biểu ở bài Xuân nhật yết Chiêu Lăng:

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

(Ngày xuân thăm Chiêu Lăng

Quân thị vệ như hùm gấu, trước nghìn cửa đứng nghiêm túc,

Áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm.

Người lính già đầu bạc,

Thường kể lại chuyện đời Nguyên Phong).

Chiêu Lăng là lăng vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần. Nhà vua đã lãnh đạo quân dân ta đương thời đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông (năm 1257) và có công trên nhiều lĩnh vực để bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam.

Bài thơ không lấy cảm hứng từ thiên nhiên trong mùa xuân – mùa đẹp nhất trong năm – mà lấy cảm hứng từ một việc làm có ý nghĩa long trọng của người đứng đầu triều đình là bái yếu lăng mộ tiền nhân trong dịp mùa xuân. Lăng mộ thường gợi cho người ta những ý tưởng và cảm xúc về quá khứ và về cõi chết, vì thế thường có vẻ lạnh lẽo. Những điều đó hầu như không thấy ở đây. Sự oai nghiêm của quân thị vệ hòa điệu với sự rộn ràng của đông đảo các quan văn võ theo hầu nhà vua (những điều này là tất yếu, trong các hoạt động tương tự đều có). Năm Nguyên Phong thứ 7 (1258) quân dân ta chiến thắng giặc Nguyên lần thứ nhất. Niềm tự hào về võ công oanh liệt bảo vệ Tổ quốc đã thấm nhập đến cả người lính già, trở thành sức mạnh thường trực, khiến cho chuyện nhiều năm trước mà như thời sự. Cả bài thơ chỉ có một chữ xuân ở nhan đề nhưng cảm giác về sự sống nồng ấm thấm đượm toàn bài nhờ sự hòa hợp: hòa hợp giữa đất trời và lòng người, hòa hợp giữa những người ở các giai tầng rất khác nhau trong niềm tự hào về quá khứ giữ nước oanh liệt và niềm kỳ vọng về tương lai tốt đẹp.

Lịch sử Việt Nam kể từ khi mở nước cho đến tận hôm nay việc dựng xây luôn đi đôi với bảo vệ đất nước. Bởi vậy thời trung đại những tác giả gắn bó với số phận của dân tộc, thơ xuân có âm buồn nhiều hơn hẳn. Sớm nhất và tiêu biểu nhất về mặt này là thơ xuân của Lê Cảnh Tuân (? – 1416?).

Hiện vẫn chưa biết năm sinh của Lê Cảnh Tuân, chỉ biết ông đỗ thái học sinh (tiến sĩ) dưới triều Hồ (năm 1400). Năm 1406 giặc Minh kéo quân sang dưới chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” (giúp đỡ nhà Trần, tiêu diệt nhà Hồ) nhưng thực chất là xâm lược nước ta. Một người bạn của Lê Cảnh Tuân là Bùi Bá Kỳ – vốn là một cựu thần nhà Trần – tin vào nhà Minh, được chúng cho làm quan. Lê Cảnh Tuân viết Vạn ngôn thư (Bức thư vạn chữ) để cảnh tỉnh bạn. Giặc Minh giam ông ở kinh đô Lăng Kim. Ông chết trong ngục sau năm năm bị giam giữ, đày đọa. Đến nay mới biết được mười hai bài thơ của ông, trong đó có hai bài trong nhan đề có chữ xuân, hai bài trong nhan đề có các chữ nguyên nhật (ngày đầu năm). Bốn bài thơ xuân trong số mười hai bài, tỉ lệ ấy hình như xưa nay chưa có. Những bài thơ này đều biểu thị tình cảnh và tâm trạng đau buồn của một chí sĩ khi đất nước đang chìm đắm trong cảnh nô lệ lầm than, bản thân bị đọa đày trên đất kẻ thù. Bài thơ Nguyên nhật (Ngày đầu năm) đã thực sự tạo nên nghịch lý: câu chữ thì không thể ngắn gọn hơn, còn những nỗi buồn đau thì chồng chất:

(Vẫn làm khách ở nơi quán trọ,

Mùa xuân năm ngoái lại trở về.

Ngày về biết lúc nào,

Những cây mai nơi vườn cũ đã cỗi hết).

Mỗi khi tết đến xuân về, theo lẽ thường người ta được đoàn tụ ở nơi quê nhà với những người thân thiết. Tác giả thể hiện một cảm thức khác thường về mùa xuân đang về, đó là mùa xuân năm ngoái ( khứ niên xuân). “Mùa xuân năm ngoái” không đơn thuần chỉ là một trong bốn mùa của trời đất mà cộng vào đó là cảm thụ của con người. Mùa xuân thì như cũ mà thân phận của tác giả đã khác. Không chỉ mùa xuân này không được đón xuân nơi quê nhà, mà ngay cả việc có còn được gặp lại cố hương hay không cũng không biết. Trong tình thế nhuốm màu tuyệt vọng đó, hình ảnh những cây mai già nơi vườn cũ nối kết tác giả với cố hương, cố quốc và những tháng ngày đã qua. Mai là cây của mùa xuân, là bạn của những thi nhân thời trung đại. Đôi bạn cố tri, giờ kẻ thì phiêu bạt chân trời tính mạng do người ta định đoạt, kẻ thì già cỗi, thật cám cảnh!

Âm điệu buồn đau trong thơ xuân vì nước mất nhà tan, cũng thấy ở thơ Nguyễn Trãi – một người đỗ đồng khoa Thái học sinh với Lê Cảnh Tuân. Ngay cả khi đất nước đã sạch bóng ngoại xâm thì cũng không tìm thấy âm điệu vui vẻ, hứng khởi trong thơ xuân của ông. Bài thơ Trại đầu xuân độ (Bến đò ngày xuân đầu trại) là một ví dụ:

Độ đầu xuân thảo lục như yên,

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

Cô chu trấn nhật các sa miên.

(Cỏ xuân ở bến đò đầu trại xanh như khói,

Lại thêm có mưa xuân nước vỗ vào nền trời.

Đường đồng nội vắng tanh, ít người đi lại,

Con thuyền đơn chiếc gác đầu lên bãi cát ngủ suốt ngày).

Trại là vùng đất còn ít được khai phá. Bài thơ của Nguyễn Trãi như một bức tranh đẹp nhưng buồn. Trong không gian rộng rãi khoáng đạt ngày xuân, cỏ cây tràn đầy sức sống. Xanh như khói là một màu xanh động. Dường như cây cỏ từng phút giây lớn lên trước mắt người. Hòa điệu với điều đó là nước sông mùa xuân như vỗ róc rách tận chân trời. Tuy nhiên hoạt động của con người thì ngược lại. Người qua lại ít ỏi càng trở nên thưa vắng trong không gian rộng lớn. Con thuyền vốn là một hình ảnh của sự sống con người, ở nơi đây ít đến độ không thể ít hơn được nữa và suốt ngày nằm ngủ trên bãi cát.

Nguyễn Du có nhiều bài thơ viết trong mùa xuân, chủ yếu để bộc lộ tâm trạng của mình. Những bài thơ trong nhan đề có chữ xuân hoặc những tín hiệu nói về mùa xuân là: Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Thanh minh ngẫu hứng, Xuân tiêu lữ thứ. Các bài thơ này đều buồn, vì các nguyên cớ khác nhau. Bài Quỳnh Hải nguyên tiêu (Đêm rằm tháng Giêng ở Quỳnh Hải) như sau:

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,

Y y bất cải cựu thuyền quyên.

Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc,

Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên.

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.

Cùng đồ liên nhứ dao tương kiến,

Giác hải thiên nhai tam thập niên.

(Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng sáng đầy trời. Vầng trăng vẫn đẹp như xưa, không thay đổi. Chẳng biết nhà ai được hưởng thú vui đêm nay ở đất Quỳnh Châu ngoài muôn dặm này? Còn ta thì ở quê hương Hồng Lĩnh chẳng còn nhà cửa, anh em cũng đều tan tác cả. Đầu đã bạc, càng giận cho ngày tháng trôi mau. Cảm động biết bao, giữa lúc cùng đường, tuổi đã ba mươi, đang ở nơi chân trời góc biển, mà trăng vẫn từ xa đến với ta).

Trăng và thi nhân luôn có mối tương giao đặc biệt. Nguyễn Du thấy trăng như một người đàn bà trẻ đẹp ( thuyền quyên). Vẻ đẹp mênh mông lộng lẫy của đêm trăng rằm tháng Giêng càng làm nhà thơ thấm thía nghịch cảnh. Có những người được đoàn tụ đón tết Nguyên tiêu vui thưởng trăng đẹp, còn tác giả đang chồng chất nỗi buồn đau vì bản thân ly hương, hướng về cố hương thì nơi đó nhà cửa không còn, anh em ly tán. Nguyễn Du còn có nỗi buồn đau truyền kiếp của thi sĩ vì cuộc đời mình và nhân thế nói chung bất như ý. Trong nghịch cảnh đó thi hào càng quý giá chị Hằng gấp bội vì còn là người chung thủy, bất chấp ngàn trùng đến với cố nhân.

Thơ xuân của các nhà Nho yêu nước chống Pháp có những nội dung và âm hưởng mới trong thụ cảm về tự nhiên và nhân sinh. Bài thơ Xuân nhật của Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889) là một ví dụ:

Vực trung thiên hạ thị thùy gia,

Viễn tái mã cầu mang bạch phát,

Cao lâu cân trách hý thanh nga.

Đường thần chỉ khả thu Nghi, Bật,

Triệu tướng hà đương đắc Mục, Pha.

Hồi thủ độc liên ca vũ địa,

Thanh thanh sinh quản tạp tiêu già.

Thiên hạ trong cõi này là của nhà ai?

Luống để ba quân hát theo giọng người nước Sở.

Người cưỡi ngựa mặc áo cừu ở chốn ải xa, đầu đã bạc vẫn ruổi rong,

Bọn khăn nịt, đội mũ võ ở trong lầu cao chỉ hú hí với lũ mày ngài.

Quan nhà Đường, cần phải có người như ông Nghi, ông Bật,

Tướng nhà Triệu ước gì được người như ông Bật, ông Pha.

Ngoảnh lại chỉ thương cho cái chốn áo xiêm lễ nhạc,

Tiếng sênh tiếng sáo lại lẫn lộn với tiếng kèn tây).

Bài thơ bộc lộ rõ phong cách của thơ Nguyễn Xuân Ôn là sử dụng nhiều điển cố Trung Hoa. Sử dụng điển cố là cái được nói đến về chuyện người xưa việc cũ nhưng nhằm để bộc lộ những giá trị hiện thời. Điển cố làm cho thơ nói riêng và văn chương nói chung thêm hàm súc vì chỉ cần lượng ngôn từ tối thiểu mà gợi đến một câu chuyện, làm cho nó tham gia vào văn bản, góp phần làm cho thơ văn thêm kín đáo, tế nhị vì đây là lối diễn đạt gián tiếp. Người xưa ưa thích dùng điển cố.

Nguyễn Xuân Ôn nhắc lại chuyện khi Hán Sở tranh hùng, Trương Lương đã sai người hát giọng Sở để lừa Hạng Vũ. Việc này ám chỉ người ta đang đua nhau học tiếng Tây mà quên đi những việc quan trọng và cấp thiết hơn. Nhà thơ còn chỉ ra những cảnh chướng tai gai mắt nữa là trong khi có những người không quản tuổi cao sức yếu, bôn tẩu đường xa tìm nguồn cầu viện để cứu nước thì có những kẻ “khăn nịt, đội mũ võ” tức là những kẻ hưởng lộc để đánh giặc thì chỉ lo hú hí với gái đẹp. Bài thơ này nằm trong cảm hứng nhất quán của thơ Nguyễn Xuân Ôn cho rằng đánh Pháp cứu nước là thước đo đúng sai, xấu đẹp, vinh nhục. Nhan đề là Xuân nhật nhưng cả tám câu của bài thơ không lấy cảm hứng từ mùa này. Nhan đề đó chỉ như một tín hiệu thời gian thông thường.

Thơ xuân của các thi sĩ Việt Nam thời trung đại nhiều và có những nét tương đồng, nổi bật là không đặt chủ tâm vào thể hiện mùa xuân mà quan tâm trước hết đến những vấn đề của đời sống bản thân và cộng đồng. Bên cạnh đó mỗi nhà thơ lớn lại có những đóng góp riêng về nội dung và nghệ thuật.

Đôi Điều Những Vần Thơ Nói Về Hạnh Phúc Gia Đình / 2023

Mỗi khi tình cảm “cuộn sóng tràn bờ”, cách biểu lộ cảm xúc của các thi nhân là “làm thơ”. Không biết có bao nhiêu bài văn, bài thơ viết về tình yêu và cũng không ít những bài thơ nói về hạnh phúc gia đình. Tình yêu trong hôn nhân như ngọn lửa luôn được “cời than” trong đời sống mỗi gia đình chúng ta.

Nhà thơ Xuân Quỳnh đã thể hiện hết mình vai trò của một người vợ rất mực yêu chồng:

… Trời mưa lạnh tay em khép cửa em phơi mền vá áo cho anh Tay cắm hoa tay để treo tranh Tay em thấp ngọn đèn khuya anh đọc

Với Bằng Lăng (Vĩnh Long) thì tình yêu của anh đối với vợ con thật đằm thắm và anh cảm giác thật hạnh phúc khi lặn nhìn vợ con đang ngủ:

Con ngủ rồi, em mới ngủ- phải không? Anh lặng ngắm sợ làm em thức giấc Chắc trong mơ có niềm vui bất chợt Em nhẹ cười- tay nắm lấy- tay con Ừ! Ngủ đi em cứ ngủ cho ngon Con ngoan lắm nằm nương vào hơi mẹ Bao toan tính của đời thường lặng lẽ Cũng tan đi trong giấc ngủ yên bình

Thật là tình tứ và hạnh phúc biết bao, ta hãy nghe Bằng Lăng ru vợ con ngủ tiếp:

… Đượm nước chè xanh lại nhớ người Bát đầy anh muốn xé làm hai Bao ngày anh vẫn nhìn em uống Quấn quýt hương chè ủ tóc mai Mưa gió cả tuần nay mới giặt Lại nhớ thương khi vẫn giặt cùng Bây giờ em giặt riêng mình đó Phơi phóng mai chiều đủ nắng không?

Vợ chồng có thật sự yêu nhau thì mới luôn thể hiện những tình cảm chân thật với người bạn đời của mình như thế. Nhà thơ Đàm Khánh Phương trong bài thơ “Nhà tôi” cũng đã nói lên được tâm trạng của mình khi vợ vắng nhà:

Bất ngờ có chuyến xe qua Mẹ con về ngoại thăm bà thăm ông Mấy giờ lên lớp vừa xong Quay vào mở cửa- lạc trong nhà mình Nửa đêm bất giác mỉm cười Bấy giờ mới thuộc- nhà tôi kỹ càng Lạ chưa trong mỗi ô màn Cứ như bóng vợ- ngập tràn xung quanh

Cũng với tình cảm nồng nàn nhớ vợ, nhớ con, Hà Ngọc Trảng (Vĩnh Long) đã gởi gắm tất cả nỗi nhớ trong bài “Đêm Tokyo nhớ quê nhà”:

Tết cô đơn rượu uống suông Dòng ÊĐô cũng nhuốm buồn chiều nay Đêm nằm mộng mị nhành mai Nụ cười con trẻ, vòng tay vợ hiền

Đành rằng sau khi cưới nhau, đôi vợ chồng nào cũng đi vào đời sống thực tế. Nhưng như thế không có nghĩa là tình yêu đã hết. Từ khi đứa con ra đời, niềm hạnh phúc chung của cả gia đình càng lớn hơn lên. Hãy nghe tình cảm của một người chồng, người cha tâm sự:

Một năm con có trên đời Ta quen tiếng khóc, tiếng cười trẻ thơ Với em ta thật không ngờ Một năm chín tháng ầu ơ… mỗi ngày Ta ngồi bấm đốt ngón tay Thời gian ta ngắn em dài- lạ chưa?

(Thơ Ngọc Hiệp- Vĩnh Long)

Rồi đứa con dần lớn lên, đứa con như nụ hoa xuân, như trăng tròn. Tác giả Huỳnh Thanh Hồng (Vĩnh Long) đã đếm từng bước chân lớn lên của đứa con yêu quý:

Bây giờ con biết làm diều giấy Chiều nào cũng theo bạn ra đồng Chiều nào chân con cũng đầy vết xước Mãi chơi diều mà tối không hay Giờ tuổi con lên sáu Ơi! Trăng tròn của ba Ba chở sau lưng vầng trăng vào lớp Cô giáo dạy con bài học vỡ lòng Có cánh cò, cánh vạc, dòng sông Có ông bụt giúp người hoạn nạn Để đêm về nhà ta râm ran

Hạnh phúc như hương hoa- người trong cuộc phải biết gìn giữ, chắt chiu. Trong sóng xanh yêu thương của hương đồng lúa mới, nhà thơ Song Hảo đã hát cho con mình nghe những câu ca dao có cánh cò, cánh vạc, có bầu trời trong xanh và dòng sông biết hát…

Ta bỗng yêu đời hơn Bầu trời bỗng mênh mông quá đỗi Con chim biết tha những cọng cỏ khô về kết tổ Mẹ góp nhặt tiếng cười con- Kết hạnh phúc đời mình

Đôi cánh tình yêu lứa đôi của vợ chồng như những mảnh hạnh phúc góp lại thành một khối, như những que diêm bật lên ngọn lửa hạnh phúc, nhà thơ Úyt-Man của nước Anh đã từng nói:

Tôi và em chẳng một xu dính túi Vậy mà mua được hương thơm của cả trái đất này

Tác giả Phan Phúc Bình (Vĩnh Long) cũng đã khẳng định:

Nơi tận cùng hạnh phúc của đời anh- là em

Chỉ những người yêu nhau mới luôn thể hiện tình cảm của lòng mình với người mình thương yêu. Tình cảm ấy quý giá đến ngần nào:

Em bình yên trong vòng tay anh Em mỉm cười- hạnh phúc màu xanh Không phải trong mơ- em dịu dàng đón nhận Cám ơn anh- bến đời em yên ả

(Thơ Thúy Vân- Vĩnh Long)

Tình yêu như ngọn lửa hồng rực cháy, nồng ấm yêu thương, bao cay đắng mệt nhọc của cuộc sống đời thường đã tan vào quên lãng. Thái Hồng (Vĩnh Long) đã không khỏi thốt lên lời reo mừng khi bắt gặp cái mà mình… cần gặp:

Không khóc mà lệ trào Em vui mừng quá đỗi Hạnh phúc! Ôi! Lớn lao Làm sao em ôm nổi

Thật vậy, hạnh phúc gia đình không phải tự nhiên mà có. Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được khi mọi thành viên trong gia đình đều có ý thức “chỉ tìm thấy hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác” có như thế chúng ta mới vượt trên thực tế “cơm áo gạo tiền” của cuộc sống đời thường và chúng ta phải biết giữ gìn quý yêu cái hạnh phúc mỏng manh đó.

NGỌC HẢI

Đôi Điều Về Tên Gọi Và Ngày Truyền Thống Của Mttq Việt Nam / 2023

Trong các dịp kỷ niệm hằng năm nên dùng cụm từ “Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam” hay “Ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”?

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại Điều 9 ghi rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Tiếp theo đó, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, tại Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ghi rõ: “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Chúng ta đều hiểu rõ, sự kế thừa này bao gồm cả sự kế thừa danh xưng, tên gọi vì trong hệ thống văn bản, tài liệu của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến nay (tháng 6/2020) chưa có văn bản nào xác nhận ngày thành lập kèm theo tên gọi Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, mà đó chỉ là tên gọi chung mang tính khái niệm để chỉ các hình thức tổ chức hoạt động của Mặt trận được sử dụng trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam chứ không phải là tên gọi của một tổ chức Mặt trận ở một thời điểm cụ thể nào.

Từ khi thành lập và lãnh đạo cách mạng Việt Nam (3/2/1930), Đảng ta đã nhận thấy cách mạng Việt Nam không thể chỉ dựa vào giai cấp công, nông (cho dù đó là nền tảng của cách mạng) mà phải dựa vào lực lượng toàn dân, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo mới có thể giành được thắng lợi. Trước yêu cầu đó của lịch sử, ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận. Trong các giai đoạn tiếp theo của cách mạng Việt Nam, do yêu cầu đòi hỏi thực tế của nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ, Đảng ta tiếp tục sáng lập các hình thức tổ chức hoạt động khác của Mặt trận như: Phản đế Liên minh (3/1935), Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế (10/1936), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (6/1938), Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương (11/1939), Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) (19/5/1941), Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) (29/5/1946), Mặt trận Liên Việt (3/3/1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (5/9/1955), riêng ở miền Nam từ năm 1960 có thêm Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam (20/4/1968) và hiện nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4/2/1977). Vì thế, không nên lấy tên gọi chung mang tính khái niệm để chỉ các hình thức tổ chức hoạt động của một tổ chức trong một giai đoạn là tên chính thức, mà lấy tên cuối cùng của tổ chức đó đang tồn tại hiện hữu đích thực đại diện. Tương tự như Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay đã từng có những tổ chức tiền thân và tên gọi khác nhau qua nhiều thời kỳ như: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam và ngày nay là Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa tên gọi và phát huy truyền thống của các tổ chức đảng Cộng sản trước đó.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, tại “Điều 11. Ngày truyền thống và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ghi rõ: “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Điều này cũng đã được tuyên truyền và thực hiện trong hệ thống Mặt trận từ trong rất nhiều năm qua, được phổ biến, hướng dẫn đến Ban Công tác Mặt trận hơn 110.000 khu dân cư trong cả nước cũng như trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Thực tế trong những năm qua, cụm từ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” đã được cán bộ, đảng viên, nhân dân, xã hội ghi nhận và nhận thức ngày càng rõ ràng, sâu sắc hơn về vai trò, vị trí, tổ chức cũng như hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Trở lại vấn đề lịch sử về bản “Chỉ thị ngày 18/11/1930 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh.

Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế Đồng minh. Nếu ngay trong ngày ra Chỉ thị mà Hội Phản đế Đồng minh được thành lập đúng ngày 18/11/1930 thì đây chính là hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận và có thể coi là ngày thành lập của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam hay ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, khi tìm hiểu chính nội dung văn bản Chỉ thị này về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh, Chỉ thị nêu rõ cách thức tổ chức: “Chỗ nào có điều kiện là thành lập, không kể làng trước, huyện sau hay huyện trước làng sau. Khi có cơ sở là mở ngay hội nghị đại biểu, vì những chỗ này rất dễ làm, còn nông hội và các tổ chức đoàn thể quần chúng khác thì lấy danh nghĩa đoàn thể gia nhập, cử đại biểu báo cáo số lượng hội viên là đủ”1. “Chỗ nào phong trào còn thấp thì phải tổ chức từ dưới lên theo kiểu bí mật và dựa vào danh từ biến tướng như phường, hội, làm ăn, tương trợ, hiếu hỉ, để đặt nội quy biến tướng rồi do đó mà đọc báo, đọc thơ ca cách mạng cho quần chúng nghe; đầu lạ sau quen, đưa tin ở Nghệ Tĩnh, ở các nơi có phong trào cách mạng nói chuyện thầm kín, khêu gợi cho quần chúng dần dần”2. Kết luận bản Chỉ thị của Trung ương Thường vụ về vấn đề thành lập Hội Phản đế đồng minh nêu rõ: “Thường vụ ủy tin chắc rằng: bản chỉ thị này sẽ giúp đỡ các cấp đảng ủy và toàn thể các đồng chí chúng ta phát triển mạnh mẽ được Hội Phản đế Đồng minh và tin tưởng vào lực lượng quảng đại quần chúng”.

Từ chính các nội dung Chỉ thị của Trung ương Thường vụ về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh vừa nêu trên khẳng định ngày 18/11/1930 trên toàn cõi Việt Nam (3 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) nói riêng và Đông Dương nói chung không thể và chưa thể có một tổ chức hội phản đế đồng minh ở cấp nào (làng, huyện, tỉnh, xứ) được thành lập. Đương nhiên Hội Phản đế Đồng minh ở Đông Dương chưa có vì Điều lệ Hội Phản đế Đồng minh ghi rõ: “IV- Tổ chức: Đồng minh tổ chức theo lối địa phương. Những đoàn thể có chưn (chân) trong một Hội và ở trong một tỉnh, hoặc một xứ họp lại thành làm phân hội tỉnh hoặc một phân hội xứ. Các phân hội xứ họp lại thành Đồng minh phản đế Đông Dương”3. Cũng chính vì đó mà không thể gọi ngày 18/11/1930 là ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam hay ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà lấy ngày 18/11/1930 Trung ương Đảng ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh làm ngày truyền thống cũng như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định ngày 18/11 hằng năm là Ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chính xác.

Thực tế 65 năm qua, tên gọi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được nhân dân cả nước ghi nhận từ ngày 5/9/1955 Đại hội thành lập Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam khai mạc tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc. Cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn làm Chủ tịch danh dự. Vì thế, Hiến pháp cũng như Luật Mặt trận đều khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (gồm tất cả các hình thức tổ chức Mặt trận trước đó) do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo”. Điều này cũng đã được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VIII thống nhất và ngày 2/8/2014 đã chỉ đạo Thường trực Ban Biên soạn cuốn sách ảnh “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Những hình ảnh lịch sử” tiếp thu Kết luận của Hội đồng thẩm định cuốn sách “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Những hình ảnh lịch sử” để chỉnh sửa và in lại bìa sách ảnh: “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam – Những hình ảnh lịch sử nổi bật” thành “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Những hình ảnh lịch sử” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản tháng 9/2014.

Từ yêu cầu thực tiễn khoa học và nhiệm vụ công tác thông tin, tuyên truyền của Đảng trong thời kỳ mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã cụ thể vai trò, nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều đó cũng được thể hiện rất đầy đủ trong Nghị quyết Đại hội XI, XII và dự thảo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Để thực hiện hoàn thành sứ mệnh được giao, một trong những phương thức hoạt động chủ yếu, quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là công tác thông tin, tuyên truyền (như Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Muốn vậy, công tác thông tin, tuyên truyền về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được tổ chức tập trung, thống nhất, đồng bộ cả về nội dung, hình thức cũng như tên gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với phương châm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Vì vậy, trong các hoạt động kỷ niệm hằng năm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần thực hiện đúng như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 (tháng 6/2015) quy định “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” với đầy đủ tính pháp lý và khoa học.

Có nên nói rằng: Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã qua nhiều lần đổi tên gọi khác nhau?

Thực tế do yêu cầu nhiệm vụ lịch sử của cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ Đảng ta đã chỉ đạo thành lập và lãnh đạo các tổ chức Mặt trận với các hình thức tổ chức hoạt động phù hợp. Cuối năm 1939, khi tình hình thay đổi, Đảng ta đã chủ trương: “Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa. Ngày nay phải thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông Dương để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho các dân tộc Đông Dương hoàn toàn độc lập”4. Hay Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1940 khẳng định sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương đã đề ra sách lược: “Phải vận dụng phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, nhằm tập hợp cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất…”5 vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc. Như thế, trong các văn kiện Đảng ta đều yêu cầu thành lập tổ chức Mặt trận mới theo yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng chứ không hề yêu cầu “thay tên đổi họ” hay “đổi tên gọi”. Vì thế, có những giai đoạn song trùng tồn tại các hình thức tổ chức Mặt trận khác nhau như: Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt cùng hoạt động từ tháng 5/1946 đến tháng 3/1951; Giai đoạn 1955 – 1977 cả nước có 3 tổ chức Mặt trận hoạt động, đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (5/9/1955) (ở miền Bắc), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960) và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam (20/4/1968) ở miền Nam. Vì thế, khi viết hoặc nói “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam sau nhiều lần thay tên đổi họ ngày nay có tên gọi là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” hay “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã qua nhiều lần đổi tên gọi khác nhau” là không phản ánh đúng thực tiễn lịch sử và không chuẩn xác về khoa học.

Chú thích:

1, 2, 3, 4, 5. Văn kiện Đảng về Mặt trận, tập I (1930 – 1945), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ấn hành 1999, trang 64, 65, 66, 12, 13.

Nguyễn Tuấn Anh

Nguyên Trưởng ban Tuyên giáo, UBTW MTTQ Việt Nam

Bạn đang xem bài viết Đôi Điều Cảm Nhận Về Bài Thơ ” Mẹ Ốm” / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!