Xem Nhiều 2/2023 #️ Em Đã Đọc Bài Ca Dao: “Con Cò Mà Đi Ăn Đêm… Đừng Xáo Nước Đục Đau Lòng Cò Con”. Từ Bài Ca Dao Trên, Em Hãy Kể Một Câu Chuyện Tưởng Tượng Về Con Cò # Top 10 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Em Đã Đọc Bài Ca Dao: “Con Cò Mà Đi Ăn Đêm… Đừng Xáo Nước Đục Đau Lòng Cò Con”. Từ Bài Ca Dao Trên, Em Hãy Kể Một Câu Chuyện Tưởng Tượng Về Con Cò # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Em Đã Đọc Bài Ca Dao: “Con Cò Mà Đi Ăn Đêm… Đừng Xáo Nước Đục Đau Lòng Cò Con”. Từ Bài Ca Dao Trên, Em Hãy Kể Một Câu Chuyện Tưởng Tượng Về Con Cò mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG

A. MỞ BÀI

(Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh):

+ Quá nửa đêm mà lũ cò con vẫn còn rục rịch chưa ngủ.

+ Cò mẹ biết con đói nó đi kiếm mồi.

B. THÂN BÀI

Phát triển câu chuyện:

– Chị cò đã kiếm ăn quần quật suốt ngày, tối mịt mới có mấy con tép nhỏ. Con chị đói còn làm chị đau khổ.

– Chị ngủ thiếp đi vì mệt và thức giấc khi con mình không ngủ. Chị nhớ đến cái ao nhỏ mà mình bỏ quên. Ở đó rất nguy hiểm, chị đã suýt chết. Nhưng đêm khuya, vả lại thương con chị quyết định đi tìm mồi.

– Chị đậu vào cành tre và sa mình xuống nước.

Tâm trí chị cò chỉ nhớ lại hình ảnh những đứa con thân yêu còn đói khát.

BÀI LÀM

Đã quá nửa đêm mà mấy chú cò con vẫn không ngủ được. Chôc chốc chúng lại rục rịch cựa quậy trong tổ… Cò mẹ biết chúng đang đói.

Lòng chị đau như cắt. Suốt cả ngày chị gắng hết sức nhưng vẫn không kiếm được miếng nào đáng kể. Mãi đến tối mịt, chị mới mò được vài ba con tép tí ti còn sót lại trên thửa ruộng gần đây. Con chị đói, nhưng chính chị còn đói hơn.

Ở chân trời trăng đã lên, ánh trăng trải mờ xuống cánh đồng. Chị cò nằm yên bất động, dường như sự mệt mỏi và cái đói đã khiến chị không đủ sức cựa quậy… và chị thiếp đi lúc nào không biết.

Tiếng gà trong xóm vọng ra văng vẳng làm cò mẹ giật mình. Trời sắp sáng, chị nhìn mấy đứa con tội nghiệp, chúng hãy còn say sưa, có lẽ hồi hôm này chúng không ngủ được. Bỗng dưng chị thương chúng quá, thương hơn bao giờ hết; trong trí cò mẹ hiện ra một cái ao nhỏ đầy tôm tép cách tổ không xa, mà hôm qua chị không dám đến vì ở đó có người. Từ hôm bị viên đạn xuyên qua cánh chị không dám liều lĩnh đến gần người, nhỡ… Nhưng thôi, liều một chuyến xem sao. Cò mẹ nhìn các con… linh tính báo cho chị biết trước có thể lần này là lần cuối cùng chị trông thấy các con.

Cò mẹ bay lướt đi không một tiếng động. Chị đáp mình đậu xuống một cành tre thấp là là mặt ao. Mắt chị cố soi thật rõ làn nước… Gió thổi, cành tre cứ đung đưa như võng. Bỗng có tiếng gì như cả đoàn người đi lại. Cò mẹ hốt hoảng. Cò mẹ cất cánh lên… nhưng không kịp nữa chị đã rơi khỏi ngọn tre và nằm gọn trong lòng nước lạnh. Tiếng bước chân mỗi lúc một gần… Thoảng trong tâm trí chị hình ảnh các con đang mỏi mòn chờ mẹ về.

Cơn mưa từ trưa đến tận giờ vẫn chưa dứt. Bầu trời nặng mây xám xịt, mọng như nước. Cánh đồng nước tràn mênh mông, trắng mờ mờ qua màn ; mưa dăng dăng. Tiếng ếch nhái kêu não ruột. Cò mẹ đậu trên cành tre nhìn i cái tổ xơ xác, buồn rầu. Mấy chú cò con run rẩy, ngước cái cổ gầy guộc nhìn mẹ, kêu gào:

– Mẹ ơi, con đói quá.

– Mẹ ơi, sao mẹ không đi kiếm cá về đi mẹ.

Cò mẹ nhìn con rồi ngúc ngoắc cái cổ dài. Nước mưa thấm ướt cả lông, trông chị còm cõi, xơ xác làm sao. Nghe con kêu, chị như đứt cả ruột. Tội nghiệp, đang sức lớn mà sáng đến giờ chỉ có mấy con tép ranh, giọng chúng đã khản đặc rồi. Chị dỗ dành:

– Thôi ngoan đi con, chút nữa rồi mẹ kiếm cá về cho con ăn.

Lũ cò nhao nhao:

– Nhanh đi mẹ, con đói lắm.

– Bắt thật nhiều nghe mẹ.

Cò mẹ dặn con:

– Con ngủ đi. Một chút nữa tha hồ ăn.

Cò mẹ do dự mãi. Từ hôm chồng chị bị trúng đạn, đến nay chị chưa dám trở về chỗ cũ. Nghĩ đến cái chết của chồng, chị cảm thấy bàng hoàng. Có anh, chị đỡ vất vả hơn. Bao giờ anh cũng lo kiếm ăn cho con.

Cò mẹ bay đi không một tiếng động. Mưa vẫn rơi nhạt nhòa. Hôm nay mưa to, cá tôm đi chơi nhiều lắm. Chị đáp xuống cánh đồng ít người nhất, hối hả bắt tép. Ngậm con cá to kềnh trong mỏ, chợt cảm thấy đói cồn cào, chị mới nhớ rằng mình cũng chưa ăn gì. Nhưng cò mẹ tự nhủ: “Đợi các con ăn xong rồi mình đi ăn sau. Có lẽ chúng đang đói lắm đây”.

Các Bài Thơ Hay Cho Bé 2 Tuổi (Thơ, Đồng Dao, Ca Dao Dân Ca)

2 tuổi là thời kỳ bé đang hoàn thiện khả năng về ngôn ngữ. Đây cũng là giai đoạn bé có trí nhớ cực tốt, khả năng tiếp thu rất cao. Các bài thơ hay cho bé 2 tuổi sẽ hỗ trợ bé rất nhiều trong giai đoạn này.

Thơ cho bé 2 tuổi thường là các bài thơ ngắn, vần, dễ hiểu, dễ thuộc, câu 4 chữ, thích hợp cho bé 2 tuổi đang trong giai đoạn tập nói, hoàn thiện khả năng ngôn ngữ.

13, Thả cá mè 14, Cháu chào ông ạ! 16, Chú Bê con

Dắt trẻ đi chơi Đến cổng nhà trời Lạy cậu lạy mợ Cho cháu về quê Cho dê đi học Cho cóc ở nhà Cho gà bới bếp Xì xà xì xụp Ngồi thụp xuống đây.

17, Chú gà con 18, Chúng mình

Có một bạn Bê con Bạn Bê con đi guốc Cộp, cộp nghe rất ồn Bò mẹ nhắc ôn tồn: – Con ngoan, đi nhè nhẹ Bê bẽn lẽn bên mẹ Bò cọ cọ má con Bò mẹ gặm cỏ non Bê rúc đầu bú tí

20, Con chim manh manh

Cốc cốc cốc Ai gọi đó Tôi là gió Nếu là gió Xin mời vào Kiễng chân cao Vào cửa giữa Cùng soạn sửa Đón trăng lên Quạt mát thêm Hơi biển cả Reo hoa lá Đẩy buồm thuyền Đi khắp miền Làm việc tốt

21, Con gà cục tác 22, Con vỏi con voi (đồng dao) 23, Con công (đồng dao) 24, Cút ca, cút kít 25, Dấu hỏi 26, Vươn vải, vươn vai 27, Vỗ tay vỗ tay 28, LỜI CHÀO (đồng dao) 29, Đi dép 30, Tìm ổ

Con chim manh manh Nó đậu cành chanh Tôi lấy mảnh sành Tôi đâm nó chết Đêm về làm thịt Được ba mâm đầy Ông thầy ăn một Bà cốt ăn hai Cái thủ cái tay Đem đi biếu chú Chủ hỏi thịt gì Thịt con chim manh manh

31, Con cua 32, BƯỚM EM HỎI CHỊ 33, KHĂN NHỎ

Con vỏi con voi Cái vòi đi trước Hai chân trước đi trước Hai chân sau đi sau Còn cái đuôi đi sau rốt. Tôi xin kể nốt Cái chuyện con voi: Con vỏi con voi…

Con Công hay múa Nó múa làm sao Nó rụt cổ vào Nó xòe cánh ra Nó đỗ cành đa Nó kêu ríu rít Nó đỗ cành mít nó kêu vịt chè Nó đỗ cành tre Nó kêu bè muống Nó đỗ dưới ruộng, Nó kêu tâm vông Con công hay múa

Đi về con chào mẹ Ra vườn cháu chào bà Ông làm việc trên gác Cháu lên: Chào ông ạ! Lời chào thân thương quá Làm mát ruột cả nhà Đẹp hơn mọi bông hoa Cháu kính yêu trao tặng Chỉ những người đi vắng Cháu không được tặng “chào”

Một chị gà mái Áo trắng như bông Yếm đỏ hoa vàng Cánh phồng bắp chuối Xăm xăm xúi xúi Tìm ổ quanh nhà Chạy vào chạy ra Tót ! tót ! tót ! tót !

Ca Dao Về Rượu Bia

DIỄN ĐÀN VARD

Ca dao về rượu bia

Trong kho tàng ca dao, người viết bước đầu đã trích ra được 42 bài có đề cập đến rượu. Nội dung của những bài ca dao này hoặc nhìn nhận về đặc tính của rượu, hoặc gắn rượu với lễ, với cuộc sống lạc thú, hoặc rượu được ví với sắc đẹp của người phụ nữ, và cuối cùng, là sự cảnh cáo về những tác hại của lạm dụng rượu.

TRIỀU NGUYÊN Trong những dịp cúng lễ, lễ lạt, hiếu hỉ, và đặc biệt là vào dịp Tết, rượu thường được nhắc đến, và có khi trở thành quan trọng hàng đầu: “Vô tửu bất thành lễ”. Rượu lại thường được cho là thứ không thể thiếu với giới tao nhân mặc khách. “Cầm kì thi tửu”, “bầu rượu túi thơ”, Lưu Linh viết “Tửu đức tụng” (tán tụng công đức của làng rượu), Lí Bạch không chỉ là “thi tiên” mà còn được gọi là “tửu tiên”, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Ba Quát… đều sành rượu và có thơ ca ngợi rượu, là vài minh chứng.  1. Đặc tính của rượu  Rượu sở dĩ ngon là nhờ tửu tinh (alcool), được gọi là men:  Rượu ngon bởi vì men nồng  Người khôn bởi vị giống dòng mới khôn.  Chất men của rượu được so sánh với các gen của dòng giống, là một cách nhìn nhận đi thẳng vào bản chất sự vật.  Chất men ấy, nếu được cất giữ kĩ, thì bền vững với thời gian:  Rượu ngon chắt để bàn thờ  Ba bốn năm không lạt (nhạt), sao giờ lạt đi?  và không phụ thuộc vào vật chứa:  Rượu ngon bất luận be sành,  Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.  2. Rượu gắn với lễ  Nghi lễ mà ca dao thường nêu hơn cả là cưới hỏi. Rượu (cùng với cau trầu) là lễ vật bắt buộc khi cưới hỏi. Thử đọc lời đối đáp sau của một đôi trai gái:  – Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy, Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây, Chàng đứng đó, thiếp đứng đây,  Lẽ mô thầy với mẹ lại không kết nghĩa sum vầy cho con?  – Tay anh ôm hũ rượu, buồng cau,  Đi ngả đường sau, thầy mẹ chê khó, đi ngả cửa ngõ, chú bác chê nghèo,  Nhắm chừng duyên nợ cheo leo,  Sóng to, thuyền nặng không biết chống chèo có đặng (được) không.  Cô gái tưởng tượng nêu một viễn cảnh êm thấm, thuận chiều, trong lúc chàng trai tỏ ra thực tế hơn trước trở lực, do cái nghèo tạo ra.  Giả như cô gái thơ ngây và có tình cảm trong sáng kia thuyết phục được bố mẹ mình chấp thuận cuộc hôn nhân do cô chủ động, thì việc tiếp theo sẽ là:  Rượu lưu li chân quỳ tay rót,  Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.  Đôi vợ chồng mới, hoặc trai gái đã đính hôn, cũng dùng miệng trầu, chén rượu khi trao lời hẹn ước thủy chung:  Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn,  Uống một chén rượu, năm bảy lời giao,  Anh chớ nghe ai sóng bổ ba đào,  Em đây quyết giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn.  Rượu kim lan ve vàng chước tửu,  Em mở miệng chào bạn hữu tương tri  Bá Nha vắng mặt Tử Kỳ  Ôm đờn luống chịu sầu bi một mình.  3. Rượu gắn với lạc thú  Trước hết, rượu (ở đây, hiểu theo “người uống rượu”) thể hiện cuộc sống sung túc, an nhàn, biết làm chủ đời người:  Lật đật thì đất cũng đè,  Những người thong thả, rượu chè quanh năm hay: Rượu cúc sánh với trà lan,  Khi xem hoa nở, khi than Thúy Kiều.  và:  Rượu nằm trong nhạo chờ nem  Anh nằm phòng vắng chờ em lâu về.  Chính vì sự thể hiện ấy mà giới phụ nữ (vốn ít người biết uống rượu) đã ít nhiều đồng tình chuyện “nam vô tửu như kì vô phong” (đàn ông không uống rượu như cờ không có gió). Cho nên có người đã:  Đốt than nướng cá cho vàng,  Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.  có người còn “rộng lòng” hơn:  Khuyên anh cờ bạc thời chừa, Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng.  Kế đến, giới mày râu thì xem mình độc quyền về rượu, và không chút ngần ngại khi nói ra điều này: Còn trời, còn nước còn non.  Còn có bạn rượu, anh còn say sưa.  hay:  Con tằm bối rối vì tơ;  Anh say sưa vì rượu, em ngẩn ngơ vì tình.  Thậm chí, có anh còn móc tiền vợ để uống:  Rượu chè, cờ bạc lu bù,  Hết tiền đã có mẹ cu bán hàng. Sau cùng, lạc thú với rượu không riêng bậc văn nhân tài tử mà cả hạng “tửu nang phạn đại” (đãy rượu túi cơm) và những người cùng uống, gọi là bạn rượu để thêm vui, theo luật “trà tam, tửu tứ” (uống trà, uống rượu thì thường ba, bốn người cùng uống mới thú). Có lúc không phải “tửu tứ” mà “tửu đảng”, “tửu đồ” (những tên bợm nhậu):  Có chồng say như trong chay ngoài bội,  Ngó vô nhà như hội Tần Vương!  4. Rượu và người đẹp đều gây say  Hán Việt có từ “tửu sắc” nói lên mối quan hệ tuy hai mà một giữa rượu và gái, đứng đầu trong thú ăn chơi (của người đàn ông), tiếng Việt thuần túy không có một từ như vậy. Trong ca dao, lối nói phổ biến là so sánh điểm gây say giống nhau giữa rượu và người phụ nữ:  Rượu ngon chưa uống đã say,  Lựu, lan chưa bẻ đã bay mùi nồng. và: Đèo bồng mang tiếng thị phi Bầu không có rượu lấy gì mà say? hoặc: Rượu ngon cái cặn cũng ngon, Thương em chẳng luận chồng con mấy đời. hoặc nữa: Rượu từ trong hũ rót ra,  Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.  Cả chuyện “say ngầm”, “say ngấm” của rượu cũng được vận dụng để ví với nét hạnh của nữ giới (trong việc chinh phục đàn ông):  Rượu say vì bởi men nồng,  Vợ mà biết ở, ắt chồng phải theo.  hay:  Rượu sen càng nhắp càng say,  Càng yêu vì nết, càng say vì tình  Đầy vơi chúc một chén quỳnh  Vì duyên nên uống, vì tình nên say…  5. Đề phòng những tác hại của rượu  Không thể có chuyện uống quá tửu lượng cho phép (đối với mỗi người) mà vẫn không say, dù đó là rượu nhạt:  Rượu nhạt uống lắm cũng say, Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm. hay rượu dở: Rượu không ngon uống lắm cũng say,  Áo rách có chỉ vá may lại lành.  Mỗi khi đã bị say thì không đủ sáng suốt để nhận rõ cái lộn xộn ở bàn tiệc:  Rượu không say, sao chén ngã xe lăn,  Không thương người đó, sao năng tới nhà? ở lập luận: Rượu nào rượu lại say người,  Bớ người say rượu, chớ cười rượu say.  Điều thường gặp là “rượu vào, lời ra”, nói nhiều, nói dài nhưng không ý thức hết điều đã nói, gây chuyện “đa ngon đa quá” (nhiều lời thì càng nhiều lầm lỗi), lắm lúc tạo nên hậu quả nghiêm trọng. Chí ít, cũng phiền nhiễu đến người xung quanh:  ở đời chẳng biết sợ ai,  Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày.  Và không mấy ai tin lời người say, cho dù có nói hay như thế này:  Say thời, say ngãi say tình,  Say chi chén rượu mà mình nói say!  Ngoài cái hại của việc say đã nói, người đắm đuối vì rượu mà bỏ bê làm ăn, sẽ dễ lâm vào cảnh nghèo khổ:  Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa,  Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.  Những trình bày trên cho thấy, ca dao đã đề cập khá đầy đủ về rượu. Khi gắn với nghi lễ, rượu tượng trưng cho việc chuẩn thuận, thề nguyền; khi gắn với lạc thú, rượu như một vị chủ không thể thiếu; khi xét đến người đẹp, chỉ có rượu mới tương xứng để đối sánh. Nhưng tác hại của rượu cũng không nhỏ nếu người uống không biết dừng lại ở mức cần dừng.  Sắp xếp theo nội dung bàn về rượu của ca dao, ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng nhận ra phong tục, quan niệm của người Việt về một thức uống có lịch sử lâu đời và mang tính cách toàn cầu này.  T.N – Tạp chí Sông Hương (120/02-99)

Cảm Nhận Về Hình Ảnh Con Cò Trong Một Số Bài Ca Dao, Dân Ca Mà Em Biết

Ca dao dân ca Việt Nam nhiều lần nhắc đến con cò, cái cò bay lả bay la, cái cò lặn lội bờ sông… cái cò gần gũi và quen thuộc, hiền lành và chịu khó, gắn với dân cày ta. Cánh cò là hình ảnh quê hương. Đàn cò là hình ảnh thân thuộc của quê ta, sớm sớm chiều chiều cánh cò trắng nổi bật trên nền xanh của ngô, lúa, nương dâu. Cánh cò tô một vẻ đẹp của cảnh làng xóm thanh bình:

Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ, bay ra cánh đồng

Hình ảnh con cò được nâng lên thành biểu tượng cho những đức tính tốt đẹp của người nông dân như siêng năng, cần mẫn, lam lũ, chịu khó, hiền lành, chất phác… Có được hạt gạo dẻo thơm thì phải một nắng hai sương, đắng cay muôn phần thấm bao mồ hôi. Cuộc sống của họ chẳng khác nào:

Con cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về

Cò về đến lũy cò ơi

Con mày bỏ đói ai nuôi hỡi cò!

Cuộc đời của cò thật sương gió, bầy con nheo nhóc bơ vơ. Con cò vừa chịu thương chịu khó nhưng cuộc đời đầy cám cảnh cò ơi!

Người nông dân thức khuya dậy sớm lam lũ trong cảnh:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Rồi bới đất vặt cỏ mà vẫn lam lũ. Cuộc sống cái cò cũng vậy:

Trời mưa quả dưa vẹo vọ

Con ốc nằm co

Con tôm đánh đáo

Con cò kiếm ăn

Quả dưa, con ốc, con tôm, con cò là những tạo vật, là cách nói so sánh ví von về những con người trong xã hội cũ. Trong mưa gió hình như quả dưa trở nên biến dạng méo mó vẹo vọ, con ốc nằm co, con tôm gặp mưa bật nhảy lên đánh đáo. Chỉ riêng có cái cò là vẫn chủ động trong công việc của mình là kiếm ăn.

Một đàn cò trắng bay quanh,

Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta

Mình nhớ ta như cà nhớ muối

Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng

Loan nhớ phượng, mình nhớ ta… là những mối tình quê thật đẹp. Họ ước mơ đoàn tụ, sống bên nhau thủy chung son sắc cả cuộc đời. Nhìn bầy cò gần gũi, khăng khít với nhau trong cuộc sống, họ liên tưởng và ước mơ một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Cuộc sống của bầy cò cũng hồn nhiên, chất phác, đậm đà chất dân quê như chính những con người lao động vậy.

Gặp lúc chiến binh trai tráng trong làng tòng quân đi đánh giặc bảo vệ hòa bình cho quê hương xóm làng. Ra đi bỏ lại sau lưng quê nghèo nương lúa bờ tre thân thuộc. Đặc biệt, trong mỗi gia đình họ bỏ lại vợ trẻ con thơ. Hình ảnh con cò lặn lội, đi xúc tép, lên thác xuống ghềnh tượng trưng cho những cảnh đời lận đận, những đức tính tần tảo, siêng năng, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con!

Những năm trước Cách mạng tháng Tám, đời sống nhân dân ta vô cùng cực khổ. Sau lũy tre làng là những chị Dậu long đong lận đận trong sự vật lộn với miếng cơm manh áo. Có biết bao nước mắt đã chảy, một đời cò! Họ là những thân cò không hơn không kém, nước mắt nỉ non trên vai gánh nặng quá sức hỏi rằng: cò ơi chịu được hỡi cò? Những tiếng khóc than, ai oán như vọng vào năm tháng?.

Nhìn bầy chim hiền lành cùng kiếm ăn trên đồng ruộng: con cò, con vạc, con nông, giữa chúng có một tình bạn cay đắng ngọt bùi cùng san sẻ. Nhìn bầy chim ấy họ như thấy chúng đang trò chuyện với nhau, tâm sự cùng nhau về những ước mơ trong cuộc sống. Chúng là hiện thân cho tình làng nghĩa xóm, tình bè bạn tương thân tương ái.

Cái cò, cái vạc, cái nông

Ba con cùng béo vặt lông con nào

Cuộc sống và số phận của cò trải bao trắc trở, nó không đơn thuần là sự khó khăn vất vả trong sinh nhai, mà với cò tai họa có thể rình rập, hoạn nạn xảy ra thường xuyên:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mèm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Tiếng kêu cứu của cò trong đêm sao mà tha thiết thế. Tiếng kêu ấy cũng ai oán như tiếng kêu của những người dân hiền lành lương thiện dưới ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào địa chủ. Nhưng điều làm cho ta cảm động là phẩm chất trong sáng cao quý thà chết trong còn hơn sống đục, trong sạch giữa cuộc đời cay đắng.

Cay đắng hơn trong đám tang con cò, cuộc đời hắt hiu nghèo khổ của những người nông dân một thời lam lũ lại hiện ra:

Cái cò chết tối hôm qua

Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

Một đồng thuê trống, thuê kèn,

Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.

Một đồng mua mớ rau răm,

Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Cuộc sống bế tắc, túng bấn tưởng như không bao giờ ngóc đầu lên được. Những tiếng than thờ, những giọt nước mắt trong số phận bi thảm là những cảnh đời, những số phận của người nông dân xưa. Qua những dòng thơ về đám ma cò chính là biểu hiện lẽ sống có tình có nghĩa vẹn tròn sau trước.

Cái cò là cái cò quăm

Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai

Có đánh thì đánh sớm mai,

Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm.

Con cò trong ca dao dân ca là hình ảnh quen thuộc, nó gắn liền với tâm hồn nhân dân ta. Cái cò đáng yêu, hiền lành in đậm vào mỗi người dân Việt Nam.

Đồng xanh như không thể vắng bóng cò bay là bay la rập rờn cũng như cuộc đời không thể thiếu lời ru của bà của mẹ. Từ cánh cò trong ca dao giúp ta thêm yêu cuộc sống của người nông dân chân lấm tay bùn. Tất cả đã gắn bó với chúng ta như máu thịt:

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.

(Nguyễn Đình Thi)

Bạn đang xem bài viết Em Đã Đọc Bài Ca Dao: “Con Cò Mà Đi Ăn Đêm… Đừng Xáo Nước Đục Đau Lòng Cò Con”. Từ Bài Ca Dao Trên, Em Hãy Kể Một Câu Chuyện Tưởng Tượng Về Con Cò trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!