Xem Nhiều 2/2023 #️ Giáo Án Âm Nhạc Tiết 30: Học Hát Bài Dàn Đồng Ca Mùa Hạ # Top 7 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Giáo Án Âm Nhạc Tiết 30: Học Hát Bài Dàn Đồng Ca Mùa Hạ # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Âm Nhạc Tiết 30: Học Hát Bài Dàn Đồng Ca Mùa Hạ mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– HS hát đúng giai điệu bài Dàn đồng ca mùa hạ. Thể hiện đúng những tiếng hát đảo phách, hát liuyến và ngân dài 2.3 phách.

– HS trình bày bài hát kết hợp gõ đệm theo nhịp và theo phách.

– Góp phần giáo dục HS biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên.

B. ĐỒ DÙNG DẠY – HỌC :

– Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc .

– Tập đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ.

– SGV Âm nhạc 5.

– Nhạc cụ gõ (song loan, thanh phách,.).

Nhạc Tiết 30 : HỌC HÁT BÀI DÀN ĐỒNG CA MÙA HẠ A. MỤC TIÊU : HS hát đúng giai điệu bài Dàn đồng ca mùa hạ. Thể hiện đúng những tiếng hát đảo phách, hát liuyến và ngân dài 2.3 phách. HS trình bày bài hát kết hợp gõ đệm theo nhịp và theo phách. - Góp phần giáo dục HS biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên. B. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC : 1. Giáo viên : Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc . Tập đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ. 2. Học sinh : SGV Âm nhạc 5. Nhạc cụ gõ (song loan, thanh phách,...). C. HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC : HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ PHƯƠNG PHÁP I. ỒN ĐỊNH : - Hát tập thể. Học hát : Dàn đồng ca mùa hạ - HS ghi bài. 1. Giới thiệu bài hát : - Từ bài thơ của tác giả Nguyễn Minh Nguyên, nhạc sĩ Lê Minh Châu đã phổ thơ, tạo nên bài hát Dàn đồng ca mùa hạ. Bài có nhịp điệu sôi nổi, vui tươi nhưng cũng rất tha thiết, trong sáng. Bài hát được bình chọn là một trong số 50 ca khúc thiếu nhi hay nhất thế kỉ 20. - HS theo dõi 2. Đọc lời ca: - HS đọc lời theo các phần sau : Chẳng nhìn thấy màn xanh lá dày. Tiếng ve ngân bao niềm tha thiết. Lời ve ngân nền mây biếc xanh. Dàn đồng ca ve ve ve. - Bài Dàn đồng ca mùa hạ sử dụng một số kí hiệu âm nhạc như : dấu lặng đơn, dấu nối, dấu luyến và viết nhạc 2 bè (đoạn kết). Tuy nhiên khi hát, chúng ta chỉ tập hát bè chính (bè cao). - 4 HS thực hiện - HS ghi nhớ 3. Nghe hát mẫu : - GV đệm đàn, tự trình bày bài hát hoặc dùng băng đĩa nhạc. - HS nói cảm nhận ban đầu về bài hát. - HS nghe bài hát 1-2 HS nói cảm nhận 4. Khởi động giọng : - Dịch giọng (-2). - GV chuỗi âm ngắn ở giọng Pha trưởng, HS nghe và đọc bằng nguyên âm La. - HS khỡi động giọng 5. Tập hát từng câu : - Trực quan. -- Đàn giai điệu câu 1 khoảng 2 -3 lần. - HS lắng nghe - Bắt nhịp (2-1) và đàn giai điệu để HS hát. - HS lấy hơi ở đầu câu hát. - HS khá hát mẫu. - HS hát hoà theo - HS tập lấy hơi - 1-2 HS thực hiện - Luyện tập. - Cả lớp hát, GV lắng nghe để phát hiện chỗ sai rồi hướng dẫn HS sửa lại. GV hát mẫu những chỗ cần thiết. - HS sửa chỗ sai - Hs tập hát câu tiếp theo tương tự. - HS hát nối các câu hát. HS tập câu tiếp - HS thực hiện 6. Hát cả bài : - HS hát cả bài. - HS tiếp tục sửa những chỗ hát còn chưa đạt, thể hiện đúng trường độ có đảo phách và những tiếng hát luyến trong bài. - HS trình bày bài hát kết hợp gõ đệm theo nhịp. - HS tập hát đúng nhịp độ. Thể hiện sắc thái vui tươi trong sáng. - HS hát cả bài - HS sửa chỗ sai - HS hát, gõ đệm - HS thực hiện. 7. Củng cố, kiểm tra: - Bài hát có hình ảnh nào, âm thanh nào em thấy quen thuộc ? - HS trả lời - Em thích câu hát nào, nét nhạc nào, hình ảnh nào trong bài hát ? - Trình bày bài hát theo nhóm, hát kết hợp gõ đệm theo nhịp. - 4-5 HS xung phong - HS học thuộc bài hát. - HS ghi nhớ - Cả lớp trình bày bài hát kết hợp gõ đệm. - HS hát, gõ đệm. 4. Dặn dò : - Chuẩn bị : ôn tập bài hát + : Ôn tập bài hát : dàn đồng ca mùa hạ. Nhận xét tiết học.

Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc

– HS thuộc lời ca, thể hiện sắc thái rộn ràng, trong sáng của bài Dàn đồng ca mùa hạ.

– HS tập hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. Trình bày bài hát theo hình thức tốp ca.

– HS nghe bài hát Em đi giữa biển vàng, nhạc Bùi Đình Thảo, lời Nguyễn Đăng Khoa – Bùi Đình Thảo.

B. ĐỒ DÙNG DẠY – HỌC :

– Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc .

– Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đệm với hai âm sắc.

– Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp vận động theo nhạc.

– Đàn giai điệu, đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ

Nhạc Tiết 31 : ÔN TẬP BÀI HÁT DÀN ĐỒNG CA MÙA HẠ NGHE NHẠC A. MỤC TIÊU : HS thuộc lời ca, thể hiện sắc thái rộn ràng, trong sáng của bài Dàn đồng ca mùa hạ. HS tập hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. Trình bày bài hát theo hình thức tốp ca. - HS nghe bài hát Em đi giữa biển vàng, nhạc Bùi Đình Thảo, lời Nguyễn Đăng Khoa - Bùi Đình Thảo. B. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC : 1. Giáo viên : Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc . Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đệm với hai âm sắc. Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp vận động theo nhạc. - Đàn giai điệu, đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ 2. Học sinh : SGV Âm nhạc 5. Nhạc cụ gõ (song loan, thanh phách,...). C. HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC : HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ PHƯƠNG PHÁP I. ỒN ĐỊNH : - Hát tập thể. Nội dung 1 : Ôn tập bài hát : Dàn đồng ca mùa hạ - HS ghi bài. - HS hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đêm theo nhịp. Sửa lại những chỗ hát sai, thể hiện sự rộn ràng, trong sáng của bài hát. + Từng tổ trình bày bài hát. + Cá nhân trình bày bài hát. - HS thực hiện - HS trình bày. - - HS trình bày bài hát bằng cách hát có lĩnh sướng, đối đáp, đồng ca kết hợp gõ đệm: + Đồng ca :Chẳng nhìn thấy lá dày. + Lịnh xướng :Tiếng ve ngân bao niềm tha thiết. + Đồng ca :Lời ve ngân nền mây biếc xanh. + Đồng ca : Dàn đồng ca ve ve ve. -HS thực hiện - Hs hát kết hợp vận động . + 2-3 HS làm mẫu. - HS hát, vận động + Cả lớp tập hát kết hợp vận động. - Trình bày bài hát theo nhóm, hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. - 5-6 HS trình bày. Nội dung 2 : Nghe nhạc : Em đi giữa biển vàng - HS ghi bài - Giới thiệu bài hát : Bài Em đi giữa biển vàng là một trong số 50 ca khúc thiếu nhi hay nhất thế kỉ 20. Bài hát được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ từ bài thơ của tác giả NGuyễn Khoa Đăng. Bài hát có giai điệu mềm mại, uyển chuyển, miêu tả tất sinh đông về hình ảnh thanh bình, tươi đẹp của cánh đồng lúa quê hương. - HS theo dõi - Trực quan. - Nghe lần thứ nhất : GV mở băng đĩa nhạc hoặc trình bày bài hát. + Trao đổi về bài hát. - HS nghe bài hát - HS trả lời + HS nói cảm nhận về bài hát Ơi2 - Luyện tập. + HS nói về những hình ảnh đẹp trong bài hát. + HS diễn tả lại một nét nhạc. - Nghe lần thứ hai : HS có thể nghe nhạc kết hợp với các hoạt động : hát hòa theo, vẽ tranh (đơn giản) diễn tả cảm nhận về bản nhạc, vận động thgeo nhạc như đu đưa, lắc lư, nhún nhảy, múa, gõ nhịp - HS nghe nhạc, hoạt động.

Giáo Án Âm Nhạc: Hát Vỗ Tay Theo Nhịp Bài “Quả Gì?”

Giáo án âm nhạc: Hát vỗ tay theo nhịp bài “Quả gì?”

– Nghe hát: “Hoa thơm bướm lượn”

– Trẻ hiểu được nội dung bài hát, vận động thành thạo vỗ tay theo nhịp nhịp nhàng theo lời bài hát “Quả gì?”

– Trẻ chú ý lắng nghe cô hát, trẻ biết được luật chơi cách chơi trò chơi “Nghe tiếng hát tìm đồ vật”

– Rèn kỹ năng vận động theo nhạc, nhẹ nhàng đúng giai điệu bài hát, trẻ biết hưởng

ứng cùng cô bài nghe hát ” Hoa thơm bướm lượn”

– Rèn kỹ năng hát đúng kết hợp vỗ đệm theo nhịp bài hát “Quả gì?”.

– Trẻ thích ăn các loại hoa quả, khi ăn biết rửa sạch, bỏ vỏ, bỏ

– Có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây xanh.

– Xắc xô, phách tre, đàn….

Hình ảnh 1 số loại quả (Khế, mít…)

– Cô và trẻ cùng chơi trò chơi tập tầm vông.

– Cô đưa hình ảnh quả Khế và quả Mít ra cho trẻ quan sát, hỏi tre:

– Cô có bức tranh gì? (Quả khế và quả mít)

– Quả khế và quả mít dùng để làm gì? (ăn)

– Các con có thích ăn những loại quả này không?

– Có 1 bài hát chúng ta đã được làm quen cũng đã nói về 2 loại quả này đấy, các con có đoán ra đó là bài gì không? (Quả gì)

– Cô mở nhạc bài hát ” Quả gì” cả lớp cùng hát và đi về chổ ngồi theo hình chữ U

* Hoạt động 2: Vận động theo nhạc.

– Hỏi trẻ: Cô cháu mình vừa thể hiện xong bài gì? (Quả gì?)

– Do ai sáng tác? ( Nhạc sỹ Xanh Xanh)

– Cô vận động vỗ tay theo nhịp lần 1

– Lần 2 kết hợp giải thích (Cô vừa nhún theo nhạc vừa hát đồng thời vỗ tay 1 cái vào phách mạnh rồi mở ra vào phách nhẹ)

– Cô cho cả lớp vận động theo nhịp

– Mời tổ ” Chim non” ( Hát vận động theo nhịp)

– Bây giờ là phần thể hiện của tổ ” Bướm vàng” ( Hát vận động theo nhịp)

– Tiếp theo xin mờ tổ ” Thỏ trắng” ( Hát vận động theo nhịp)

– các con ơi! Được biết tại trường mầm non Đức Thịnh, hôm nay có tổ chức cuộc thi tiếng hát họa my rất hay, các con có muốn tới đó tham gia không nào?

– Trẻ vui đọc bài thơ: “Quả ” Đi vòng tròn di chuyển đội hình thành 3 hàng ngang.

* Xin nhiệt liệt chào đón các em nhỏ đã có mặt trong cuộc thi ” Tiếng hát họa my” của lớp Nhỡ B của chúng ta ngày hôm nay.

– Để mở đầu cho chương trình hãy dành 1 tràng pháo tay thật lớn để chào đón các ca sỹ nhí đến từ đội ” Chim non” ( gọi tên 5 bạn – cầm đàn biểu diễn)

– Tiếp theo ( Gọi tên 4 bạn – cầm xắc xô, hát vận động)

– Gọi tên 3 bạn – cầm bộ gõ hát vận động

– Mời 1 bạn lên biểu diễn ( Múa)

– Mời 1 bạn lên biểu diễn( Nhún)

– Bây giờ là phần thể hiện của đoàn nghệ thuật đến từ tập thể lớp Nhỡ B ( Trẻ vui hát ” Quả gì” đi vòng tròn di chuyển về hình chữ U).

– Cô hát cho trẻ nghe lần 1 ( Ngồi hát)

– Hỏi trẻ: Cô vừa thể hiện xong bài gì?( Hoa thơm bướm lượn)

– Dân ca miền nào?

– Cô hát cho trẻ nghe lần 2 ( Đứng dậy biểu diễn và cho trẻ hưởng ứng theo cô)

Các cháu ơi! Đến với ngày hội âm nhạc chúng ta không chỉ được hát, múa..mà chúng ta còn được chơi những trò chơi rất hay nữa đấy. Hôm nay, cô sẽ mang đến cho lớp chúng mình trò chơi mang tên “Nghe tiếng hát tìm đồ vật” các cháu có thích không?

– Cô nêu luật chơi cách chơi

– Cho trẻ chơi cô quan sát gợi ý động viên trẻ.

Cô cho trẻ vừa đi vừa hát bài ” Quả gì” nhẹ nhàng đi ra ngoài.

– Dặn dò trẻ trước khi ra sân, kiểm tra sức khỏe.

– Cô dẫn trẻ ra sân Cho trẻ ngắm kỹ một số cây xung quanh trường, trò chuyện với trẻ về 1 số loại quả.

– Hôm nay cô đã chuẩn bị cho các con rất nhiều phấn để vẽ về các loại quả đấy! Các con có thích không?

* Giáo dục trẻ biết lợi ích của các loại quả, thích ăn các loại quả, khi ăn phải rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt…biết chăm sóc bảo vệ cây xanh.

– Tổ chức cho trẻ chơi 2 -3 lần

– Cô bao quát, đảm bảo an toàn cho trẻ.

– Trò chuyện với trẻ về một số loại quả

– Phát đất nặn và bảng con cho trẻ

– Cô giới thiệu và nặn một số loại quả cho trẻ xem

– Cô kiểm tra, nhận xét, tuyên dương trẻ

+ Giáo dục trẻ biết lợi ích của các loại quả, thích ăn các loại quả.

* Chơi kết hợp ở các góc:

– Vẫy cháu lại gần, trò chuyện vui vẽ…

– Các cháu ơi! Lúc sáng chúng mình chơi có vui không? Cháu đã làm gì? Chơi ở góc chơi nào?Chơi có thích không? Thích chơi thì phải làm thế nào?

– Giờ xem ở các góc chơi lúc sáng xếp gọn chưa nào? Nếu cô cho các cháu chơi tiếp các cháu có xếp được gọn như thế nữa không? – Mời các cháu về góc chơi

Cô quan sát trẻ chơi ở các góc, động viên, khuyến khích trẻ chơi, chơi xong cho trẻ cất dọn đồ chơi gọn gàng, sạch sẽ.

Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Ngữ âm học và âm vị học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

– Từ bình diện sinh lí cấu âm; – Từ bình diện thẩm nhận âm thanh; – Từ bình diện thực thể âm thanh.

Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

Ví dụ:

3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét; 2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống; 3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm

4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

Ví dụ:

Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

* Tóm lại:

Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

Nguồn: Ngonngu.net

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Âm Nhạc Tiết 30: Học Hát Bài Dàn Đồng Ca Mùa Hạ trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!