Xem Nhiều 12/2022 #️ Gs. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường / 2023 # Top 13 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Gs. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Gs. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cách đây khoảng 1300 năm, các nhà thơ Trung Quốc cũng trải qua mấy chiều tàn nắng nhạt, trong tiết thu đìu hiu, làm phai tàn lá ngô đồng. Cảnh vật tương tự như mùa thu viễn xứ vào lúc này. Thời gian tuy có chia lìa, đông tây cách biệt thăm thẳm. Nhưng mùa thu vẫn muôn thuở với bấy nhiêu tâm sự mà các thi nhân gieo vần, nói hộ. 

*

Bộ Toàn Đường Thi tập hợp trên hai ngàn thi nhân, với gần năm chục ngàn bài thơ, là một công trình đồ sộ. Trong số báo này, mùa thu Trung Quốc được gom lại trong vài trang giấy qua ba thi hào thời Thịnh Đường (713-766): Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Như vậy là bỏ qua được ba thời: Sơ Đường (618-713), Trung Đường (766-835) và Vãn Đường (836-905). Thời Thịnh Đường tuy ngắn hơn ba thời Sơ, Trung, Mạt, nhưng lại dài hơn bất cứ thời kỳ nào trong văn học Trung Quốc, có chiều dài “vạn trượng”: vượt thời gian; vượt tới hai lần không gian. Vì ngoài không gian địa lý, thi ca Thịnh Đường lắng sâu tận cõi lòng.

Tiếp tục công việc gạn lọc, chúng tôi giữ lại ba nhà thơ. Trong thi ca của mỗi thi nhân, xin bỏ qua hai khuynh hướng “biên tái” và “xã hội.” Chỉ còn lại khuynh hướng “điền viên.” Và trong “điền viên” xin giữ vầng trăng thu.

I – Mùa thu trong thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị 

Hàn Dũ có câu thơ :

Lý, Đỗ văn chương tại,Quang diễm vạn trượng trường. (Văn chương Lý Bạch, Đỗ Phủ còn, Ánh sáng dài vạn trượng.)

Thơ Lý Bạch tự nhiên, phóng khoáng. Thơ Đỗ Phủ điêu luyện, gần gũi với nhân sinh. Bạch Cư Dị tiếp nối khuynh hướng hiện thực, chủ trương:

Văn chương hợp vi thời nhi trước,Thi ca hợp vi sự nhi tác.(Văn chương vì thời thế, Làm thơ vì hiện thực.)

Các khuynh hướng vừa kể được thể hiện qua thơ thu của ba thi hào thời Thịnh Đường: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

1) Lý Bạch (701-762):

Tiểu sử: Ông sinh đời Đường Trung Tông (hơn Đỗ Phủ một giáp), mất đời Đường Đại Tông. Năm 25 tuổi, chu du khắp chốn. 42 tuổi được tiến cử vào kinh đô (Trường An). 55 tuổi: giúp Lý Lân chống An Lộc Sơn. Nhưng Túc Tông sợ em là Lý Lân thắng sẽ cướp ngôi, sai đại quân tiêu diệt Lý Lân. Lý Lân bị giết. Lý Bạch bị đầy biệt xứ. Một năm trước khi chết, ông theo Lý Quang dẹp loạn An Lộc Sơn. Giữa đường bị bệnh, mất năm 62 tuổi. Theo Ngụy Hạo, ông chết trong đầm nước. Theo Vương Đĩnh Bảo, Lý Bạch bận áo gấm, nhẩy xuống sông Thái Thạch, ôm trăng mà chết.

Lương phong độ thu hải,

Xuy ngã hương tứ phi.

Liên sơn khứ vô tế,

Lưu thủy hà thời qui.

Mục cực phù vân sắc,

Tâm đoạn minh nguyệt huy.

Phương thảo yết nhu diệm,

Bạch lộ thôi hàn y.

Mộng trường Ngân hán lạc,

Giác bãi thiên tinh hi.

Hàm bi tưởng cựu quốc,

Khấp hạ thùy năng huy? 

Thơ dịch của Tản Đà:

Lạnh lùng gió vượt bể thu,

Hồn quê theo gió như vù vù bay.

Chạy dài dãy núi liền mây,

Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?

Đám mây vút mắt xa chừng,

Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

Áo may mặc rét giục người móc sa!

Giấy mơ rơi giải Ngân hà,

Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,

Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?

*

Bài thơ thứ hai của Lý Bạch tên là Thu phố ca, chỉ có bốn câu. Tôi mạo muội dịch thoát, nhưng vẫn giữ nguyên thể tứ tuyệt. Tuyệt là dứt. Lý Bạch chọn hình thức thi ca này, phải chăng vì cuối bài, nhà thơ vẽ ra mùa thu tuyệt lộ: Hà xứ đắc thu sương? (Còn chỗ nào để lọt sương thu): 

Bạch phát tam thiên trượng,

Duyên sầu tự cá trường.

Bất tri minh kính lý,

Hà xứ đắc thu sương?

*

Tóc trắng xõa ê chề,

Sầu đời dài lê thê.

Gương trong mà mù mịt,

Sương thu che lối về? 

Trong hai bài thơ thu của Lý Bạch, hai câu kết đều được đặt ở thể nghi vấn. Nghi vấn, với rất nhiều nghi ngại. Chúng ta mến cả hai, có lẽ vì mái tóc đã phủ đầy sương thu. Trong câu mở đầu bài Tương tiến tửu, Lý Bạch xót xa cho mùa thu nhân sinh:

Biết chăng ai! Sông Hoàng Hà ngọn nước tại lưng trời, tuôn đến bể khôn vời lại được.Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ mà tối đã như gương. (Vô danh dịch)

Trong bài Thu tịch lữ hoài, Lý Bạch nhớ nhà (lữ hoài). Như nỗi nhớ nhà của chúng ta. Trong câu kết, tác giả “ôm mối sầu khi chạnh nhớ đến cố quốc” (Hàm bi tưởng cựu quốc).

Đó là cách nhìn mùa thu của trích tiên (tiên đầy xuống trần). Thơ thu của Lý Bạch là thơ huyền ngoại âm, vị ngoại vị (âm thanh ngoài dây tơ, mùi vị ngoài mùi vị). Thu cảnh chỉ là cái cớ để nói về thu tâm. Khuynh hướng này có gì khác biệt với Đỗ Phủ?

2) Đỗ Phủ (712-770):

Tiểu sử: Quê quán tỉnh Hà Nam, Đỗ Phủ xuất thân từ một gia đình quan lại nên nhiều dịp đi đây đó. Ông lận đận trên đường khoa bảng. Tới lúc được một chức quan nhỏ thì có loạn An Lộc Sơn. Ông có lần can gián vua nên bị thất sủng. Đỗ Phủ từ quan, dắt díu vợ con chạy loạn. Những năm cuối đời, ông trôi giạt quanh hồ Động Đình, nghèo đói và bệnh tật. Lý Bạch chết chìm dưới sông. Còn Đỗ Phủ qua đời trên chiếc thuyền nan, bồng bềnh trên sóng nước. Bên Pháp, vào năm 1190, vua Philippe Auguste đề tặng kinh thành Paris châm ngôn: Fluctuat nec mergitur (Sóng gió làm con tầu chòng chành nhưng không chìm). Sóng gió của thi nhân là “… tiếng sóng ở trong lòng.” Nên Lý Bạch, Đỗ Phủ chia nhau hai động từ của kinh thành Ánh sáng: L’un a été battu par les flots (fluctuat). L’autre a sombré dans l’eau (mergitur). Chỉ vì thi nhân “không” không (nec) chìm (phủ định tới hai lần) nên hình hài mới chung thân ngụp lặn. Nhờ vậy, văn học mới có thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ: Lý, Đỗ văn chương tại (Hàn Dũ).

Thơ thu của Đỗ Phủ: Trong văn học nước nhà, Nguyễn Khuyến là tác giả ba bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. (Trình tự rất hợp lý: thi nhân câu cá trước tiên, tiếp đó là tửu nhập, sau cùng mới gieo vần. Như vậy, làm thơ thường là chặng cuối đường tổng hợp, sau khi thi nhân đã thực hiện hai phân tích: 1) Đối cảnh (Thu điếu); 2) Đối tâm (Thu ẩm). Ở đây, Yên Đổ (Thu) điếu trước để có cá ngon màẩm, mà vịnh. Cộng lại vẫn là ba, giống như là Tam Nguyên).

Đỗ Phủ làm tám bài Thu hứng (Thu hứng bát thủ). Từ kỳ nhất tới kỳ bát, theo thể thất ngôn bát cú. Nếu chép ra đây cả tám bài, vị chi là 8×8 = 64, e quá dài. Vì vậy, chỉ chọn hai kỳ (bát thủ tuyển nhị): tứ và thất.

Kỳ tứ giống tình cảnh quê nhà: dinh thự có chủ mới, áo mũ người cai trị cũng khác trước. Vì vậy, tôi mạo muội “tái sinh” bài thơ. “Tái sinh,” vì bản tiếng Việt bỏ bớt địa danh Trung Quốc (Trường An). “Cuộc cờ” (dịch kỳ) trong nguyên bản đổi lại thành Bàn Cờ. Hai phần luận và kết cũng thay đổi cho thích hợp:

Văn đạo Trường An tự dịch kỳ,

Bách niên thế sự bất thăng bi.

Công hầu đệ trạch giai tân chủ,

Văn vũ y quan dị tích thì.

Trực bắc quan san kim cổ chấn,

Chinh tây xa mã vũ thư trì.

Ngư long tịch mịch thu giang lãnh,

Cố quốc bình cư hữu sở ti (tư).

*

Quê ta có phố Bàn Cờ,

Từ lâu đổi chủ treo cờ Vàng Sao.

Dinh cơ biệt thự ra vào,

Toàn là cán bộ lao xao nửa mùa.

Áo quần khác hẳn thời xưa,

Tuy thôi chinh chiến mà chưa tòng thời.

Lòng dân ly tán không ngơi,

Mùa thu lại đến chơi vơi là sầu.

Bờ sông vắng lặng đêm thâu,

Chạnh lòng tiếc nuối hàng cau quê nhà.

Trong Thu hứng bát thủ, kỳ thất là bức tranh tương phản: đối diện với trời thu bao la bát ngát là một ngư ông nhỏ bé, cô đơn:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.(Nguyễn Khuyến)

Thu + Tâm = Sầu.

Côn minh trì thủy Hán thời công,

Vũ đế tinh kỳ tại nhãn trung.

Chức nữ cơ ti hư dạ nguyệt,

Thạch kình lân giáp động thu phong.

Ba phiêu cô mễ trầm vân hắc,

Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng.

Quan tái cực thiên duy điều đạo, Giang hồ mãn địa nhất ngư ông.

Kỳ thất không khác gì tâm sự của chúng ta. Vì vậy, tôi mạn phép “chuyển hóa” bài Đường thi qua thể lục bát:

Ao tù làm nhớ biển Đông,

Mắt sầu chạnh nhớ võ công một thời.

Trăng khuya khung cửi chơi vơi,

Trời thu lộng gió biển khơi lạnh lùng.

Bờ lau mà tưởng ngàn trùng,

Sương thu chùi sạch phấn hồng cánh sen.

Lối xưa mờ mịt cài then,

Sông hồ bát ngát thuyền men giữa dòng.

Lúc sinh thời, có lần Đỗ Phủ nhủ lòng: Thơ chưa làm kinh động lòng người thì chết chưa yên (Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu). Khi đọc bát thủ, Kim Thánh Thán có lời bình: Thương tâm thấu tới xương. Ngâm nga tám bài Thu hứng, lòng chợt là lau sậy lao xao. Từ lâu, cuộc sống đã hóa thân thành cây sậy Pascal. Nhưng sậy Pascal vẫn trôi dạt về phương Đông, cận kề với lau lách của Bạch Cư Dị:

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,Phong diệp địch hoa thu sắt sắt. 

Phan Huy Vịnh dịch là :

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.

Hơi thu, với tiếng đàn tỳ bà buồn não nuột đã thấm vào thơ thu của Bạch Cư Dị.

3) Bạch Cư Dị (772-846):

Tiểu sử: Bảy mươi lăm năm nhân sinh của họ Bạch là ba phần tư thế kỷ giặc giã, từ giặc An Lộc Sơn tới giặc Sử Tư Minh. Ông là con vị quan nhỏ, thuở nhỏ túng thiếu. Năm 28 tuổi đậu tiến sĩ. Tính tình bộc trực, ông bị biếm làm tư mã Giang Châu, nơi có bến Tầm Dương. Bến Tầm Dương đã mở ra bến bờ mới trong thi ca Bạch Cư Dị. Ông để lại cho hậu thế gần ba ngàn bài thơ, trong đó có nhiều bài viết về mùa thu.

Thơ thu của Bạch Cư Dị: Thơ thu của Bạch Cư Dị nhiều hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ, tự nhiên, giản dị giống như tên ông (Cư Dị). Hơi thu trong thơ ông bay rất xa, đậu lại trong hồn thơ Tản Đà. Trong hai năm 1937-38, Tản Đà (1889-1939) dịch 75 bài thơ chữ Hán, đăng trên báo Ngày Nay. Nhưng chỉ có 58 bài là Đường thi. Trong số có 38 bài của Bạch Cư Dị, chứng tỏ có mối giao hòa, “đồng thanh tương ứng” giữa Bạch Cư Dị và Tản Đà. Tản Đà dịch nhiều thơ họ Bạch, nhất là những bài viết về mùa thu. Nào là Thu trùng, Tảo thu độc dạ, Thu mộ giao cư hoài, Thu giang tống khách, Thu san, Trung thu nguyệt v.v…

Đó là chưa kể nhiều bài, tuy đầu đề không dính dáng gì đến mùa thu, nhưng chất liệu vẫn là thu sầu. Bài Văn dạ châm có câu:

Thùy gia tư phụ thu đảo bạch.

Tản Đà dịch là:

Nhà ai cô gái nhớ chồng,Đêm thu đập lụa lạnh lùng gió trăng. 

Bài Họa Đỗ lục sự đề hồng diệp có mấy chữ: đề hồng diệp (Khi mùa thu tới, lá cây phong sắc đỏ). Bài Trường hận ca có câu Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì. Tản Đà dịch là: Thu khi mưa rụng lá ngô đồng. (Dị bản: Thu kia mưa rụng lá ngô đồng). Bài Tì bà hành có câu:Phong diệp địch hoa thu sắt sắt. Phan Huy Vịnh dịch là: Quạnh hơi lau lách đìu hiu v.v.

Thiết thiết ám song hạ,Yêu yêu thâm thảo lý.Thu thiên tư phụ tâm,Vũ dạ sầu nhân nhĩ. 

Bản dịch của Tản Đà:

Tiếng đâu dưới vách kêu ran,Lại trong đám cỏ nghe càng nỉ non.Trời thu gái nhớ chồng son,Mưa dầm đêm vắng ai buồn lắng tai. 

Thu sầu, vì người cô phụ tưởng nhớ hình ảnh kẻ chinh phu (LưuTrọng Lư). Xin chép thêm bài Thu mộ giao cư thư hoài (Cuối thu, ở miền quê viết tả lòng mình), tác giả tự sự mối sầu thu:

Giao cư nhân sự thiểu,Trú ngọa đối lâm man.Cùng hạng yếm đa vũ,Bần gia sầu tảo hàn.Cát y thu vị hoán,Thư quyển bịnh nhưng khan.Nhược vấn sinh nhai kế,Tiền khê nhất điếu can. 

Thơ dịch của Tản Đà:

Ở quê, thưa việc ít người,Giữa trưa nằm khểnh ngắm coi núi đèo.Ngõ sâu ngán nỗi mưa nhiều,Lạnh lùng chi sớm cảnh nghèo thêm lo.Áo lương còn mặc mùa thu,Ốm đau sách vẫn đôi pho chẳng rời.Lấy chi qua sống ngày trời,Một cần câu để bên ngòi ngồi câu.

Cả hai bài thơ thu của họ Bạch đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài đầu: tứ tuyệt, bài sau: bát cú. Hai bài thơ thu của Lý Bạch (Thu tịch lữ hoài và Thu phố ca) cũng làm theo thể ngũ ngôn. Thu tịch lữ hoài làm theo lối thơ cổ phong (12 câu). Bài Thu phố ca: tứ tuyệt. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư tuy là thơ mới, nhưng vẫn là năm chữ. Sự trùng hợp này sẽ được trình bầy trong phần II: Cảm nhận Đường thi. 

II – Cảm nhận Đường thi

Trong Hương Xưa, nhạc sĩ Cung Tiến có dòng nhạc nói về Đường thi. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng: Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn. Tôi xin thêm: nhất là thơ viết về mùa thu. Trong tâm hồn người Việt có dáng dấp mùa thu. Nhưng thu tâm được che dấu bằng nụ cười. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh mới viết: An Nam ta có một thói lạ là gì cũng cười. Theo ý chúng tôi, chân dung người Việt: bên ngoài hàm tiếu bên trong thu sầu. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nói hiện tượng (phénomène) mà bỏ quên ẩn tượng (noumène). Ta tiếp nhận thơ Đường viết về mùa thu chính vì mối ẩn tượng đó, được thể hiện qua Thu ca, Thu sắc và Thu học.

Thu Ca

Những bài vịnh thu hay đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài thơ mới được coi là hay nhất viết về mùa thu của Lưu Trọng Lư cũng theo lối thơ năm chữ. Il pleut dans mon coeur của Verlaine là một trong những bài thơ giầu nhạc điệu trong thi ca Pháp là thơ sáu chân (hexamètre). Thể thơ ngũ ngôn đầy nhạc tính, có lẽ vì trùng hợp với cung điệu ngũ âm của quốc nhạc: Cung, Thương, Giốc, Trủy, Vũ.

Cung thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.(Nguyễn Du, Kiều)

Ta thử lập luận theo tam đoạn luận để thiết lập mối tương quan giữa mùa thu và thơ ngũ ngôn:

– Tiền đề: Mùa thu là mùa đầy nhạc điệu.

– Trung đề: Các bài thơ ngũ ngôn mùa thu giầu nhạc tính của Lý Bạch, Bạch Cư Dị thời xưa, bài thơ thu năm chữ của Lưu Trọng Lư chứng tỏ thơ ngũ ngôn có nhiều thanh âm.

– Kết luận: Vì vậy, nhiều bài thơ thu được viết theo thể ngũ ngôn.

Mặt khác, không thể tách thơ thu ra khỏi nhạc thu. Trong âm nhạc Việt Nam, nhiều bài thơ thu đã được phổ nhạc.

    Thu Sắc

    Một năm có hai mùa màu sắc phong phú: mùa xuân và mùa thu. Màu sắc mùa xuân là của đất trời nên tươi thắm: màu vàng của hoa mai, hoa cúc rộn ràng; màu hồng của hoa đào reo vui. Còn màu sắc mùa thu nhuốm màu nhân sinh: màu vàng (lá ngô đồng), màu đỏ (lá cây phong) mùa thu gợi sầu, ghi dấu năm tháng tàn phai hay gợi lại chân trời cũ mờ khuất:

    Màu thời gian không xanh,Màu thời gian tím ngắt.Đoàn Phú Tứ

    Một năm có bốn mùa. Hai kỳ xuân thu biểu hiện nhân sinh. Mùa xuân hướng tới tương lai. Mùa thu hồi tưởng quá khứ. Hiện tại chỉ là sự níu kéo vụng về giữa hiện tại và quá khứ. Vì vậy, ngôn ngữ thi ca mùa thu mới có cố hương, cố nhân, cố quận v.v.

      Thu Thủy

      Cảnh đẹp mùa thu là tấm gương soi vóc dáng giai nhân. Chân dung người đàn bà đẹp thuở xưa bao giờ cũng có làn sóng mùa thu (thu ba), nước mùa thu (thu thủy). Sóng nước mùa thu rung động nhẹ nhàng, vương sầu. Người đàn bà thuở xưa giống như chiếc lá mùa thu, không biết trôi giạt chốn nào. Sự bất định và nỗi sầu bao giờ cũng có chung định mệnh:

      Em chỉ là người em gái thôi,Người em sầu mộng của muôn đời.Tình em như tuyết giăng đầu núi,Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.Lưu Trọng Lư

      Yêu người, thi nhân càng thêm mến cảnh, nặng lòng với mùa thu. Trong Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân kể chuyện người xưa thắp bạch lạp, đọc Đường thi in thạch bản. Ngọn bạch lạp đó chỉ làm tăng lên nỗi cô đơn và hiu quạnh của Đường thi viết về mùa thu.

        Thu Học

        Tôi xin tạo từ mới (néologisme): Thu học, để nối cõi sau (aval) của dòng thơ thu về với nguồn cội, khởi đi từ Đường thi. Ngày xưa có thu, có học, nhưng chưa có thu học, vì niên học gắn liền với nông lịch. Từ khi có tân học, năm nào mùa thu cũng dẫn ta tới trường. Vì vậy, những người nặng nợ với đèn sách đều chung tình với mùa thu. Ai mà quên đuợc mấy dòng văn xuôi của Edmondo De Amicis (1846-1908), Hà Mai Anh dịch sang tiếng Việt, mở đầu cuốn Tâm Hồn Cao Thượng (Cuore: Grand Coeur, 1886): Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi đưa tôi vào trường Baretti để ghi tên lên lớp ba.

        Thanh Tịnh (1911, Huế-1988) có đoạn văn xuôi rất hay viết về ngày khai trường, thuở nhỏ học thuộc lòng nên nhớ mãi :

        “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

        Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

        Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi trên giấy, vì hồi ấy tôi chưa biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

        Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.” (Thanh Tịnh, Quê Mẹ 1941).

        Vần thơ tựu trường xem ra ngây thơ, chất phác giống như sách vở học trò:

        Hôm nay ngày khai trường,Ngoài phố vui như hội.Tiếng guốc giầy inh ỏi,Rộn rã trên vỉa đường.

        Trong các thế hệ tân học, suốt từ năm lên sáu tới khoảng tam thập nhi lập, một phần tuổi đời là tuổi học đường. Vì vậy, thu học càng làm ta nặng tình với mùa thu, thơ thu và xa hơn nữa là thơ Đường.

        *

        Năm nay, vào mùa thu, khi lá ngô đồng rơi rụng khắp đường phố Paris, những câu thơ Đường dẫn ta quay về chân trời cũ. Chân trời đó có thể rất xa. Nhưng cũng thể rất gần, ở ngay trong tâm ta. Trái tim đó đang rung động khi nghe lại mấy vần thơ thu đông tây, kim cổ.

        Bình Giảng Đoạn Thơ “Mùa Thu Nay Khác Rồi …” Trong “Đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi / 2023

        Đoạn thơ trích nằm trong phần một của bài thơ, tiếp ngay sau những hoài niệm về mùa thu đẹp và buồn của Hà Nội xưa, một nỗi buồn man mác bâng khuâng trải dài theo các dãy phố “xao xác hơi may”; hay đọng lại trên những bậc “thềm nắng lá rơi đầy”.

        Nhưng rồi ngay sau đó, tác giả dường như chợt bừng tỉnh, để quay trở lại điểm như ban đầu là một buổi “sáng mát trong” thoang thoảng “hương cốm mới” giữa chiến khu Việt Bắc. Và từ đó mạch xúc cảm của tác giả lại chuyển từ mùa thu của thiên nhiễn về với mùa thu của đất nước để cất lên một tiếng reo vui: Mùa thu nay khác rồi.

        “Mùa thu nay” là mùa thu năm 1948, một thời điểm đáng ghi nhớ của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau thắng lợi của chiến dịch Thu đông Việt Bắc 1947, căn cứ kháng chiến được củng cô vững chắc, khí thế của quân và dân ta đang đi lên, niềm tin cũng theo đó mà dâng đầy, con người có thể “đứng vui nghe” kiêu hãnh giữa đất trời cao rộng với một niềm tin vui hồ hởi, phấn chấn, khỏe khoắn. Và tất cả những gi nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy cũng đều cộng hưởng niềm vui ấy: trời như cao xanh hơn, nắng như trong trẻo vàng; tươi hơn, không khí như nhẹ hơn, dịu hơn, cây cỏ như sinh động hơn… Cả trời dường như đã được “thay áo mới”. Trong cái thanh, cái nhẹ, cái cao ấy thì các am thanh dường như cũng vang ngân hơn “trong biếc nói cười thiết tha”.

        Nhịp thơ đi là nhịp đập gấp gáp của con tim đang xúc động, năm chữ sáu chữ xen kẽ nhau. Nhạc thơ nhiều nốt bổng – những thanh sắc có âm cao liên tiếp, “phấp phới”, “áo mới”, “trong biếc”… “Một thứ nhịp điệu cua hình ảnh tình ý, nói chung là của tâm hồn” (Nguyễn Đình Thi), mà tâm hồn nhà thơ thì như đan xen hòa nhập vào niềm vui của cuộc đời, của đất nước đổi thay.

        Trời xanh đây là của chúng ta ,

        Núi rừng đây là của chúng ta.

        Cùng một cảm hứng như thế, ngày xưa Lý Thường Kiệt từng lên tiếng khẳng định chủ quyền của “Nam quốc sơn hà”, Nguyễn Trãi từng hào hứng tuyên bố địa giới của nước Đại Việt “Núi sông bờ cõi đã chia”, và đương thời Tố Hữu cũng viết:

        Của ta trời đất đêm ngày Núi kia đồi nọ sông này của ta, (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

        Đó là tư thế của con người chiến thắng đã làm chủ non sông gấm vóc (khi thất bại, ông Nguyễn Khuyến đã phải than “Cúi trông bể đất, ngửa lên thẹn trời”). Khát vọng ngàn đời của dân tộc giờ đây đang là hiện thực. “Trời xanh” và “núi rừng” được kết hợp với một từ đây – xác định một cách cụ thể rõ ràng được nhắc lại hai lần – và cũng hai lần vang ngân điệp khúc “của chúng ta”. Tự hào biết mấy! Có cảm giác như nhà thơ đang muôn ôm ghì cả đất trời để cảm nhận cho hết nỗi hạnh phúc được làm chủ đất trời tự do của mình. Mà đất nước lại đẹp và giàu đến nhường nào:

        Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa

        Khổ thơ dày đặc những âm vang ngân nga và bay bổng, vẫn những diệp từ, vẫn những hình ảnh thân quen của đất mẹ theo nhau xuất hiện như không bao giờ hết, thêm vào đó lại là những tính từ và danh từ gợi tả “thơm mát”, “bát ngát”, “đỏ nặng phù sa”. Nó nhân lên gấp bội niềm tự hào và cũng nhân lên gấp bội tình yêu sâu nặng thiết tha của con người làm chủ đối với cái tài sản vô giá này.

        Rồi từ những cái hữu hình cụ thể ấy, cảm hứng suy tưởng của tác giả lại vươn tới cái vô hình, cái hồn của đất nước vọng về từ trong thẳm sâu lịch sử, mạch cảm hứng lại một lần nữa trỏ về quá khứ xa xăm:

        Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về.

        Bài thơ còn nhiều câu hay, nhưng theo ý tôi, đây là đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất và sâu lắng nhất. Nó đúng là “tiếng nói chuyện của tâm hồn với chính nó” như tác giả đã nói.

        Ngọc Bái: Tập Thơ Trong Trẻo Trước Mùa Thu / 2023

        Posted on by ngocbai

        MÙA MÂY THIÊN DI

        Thôi nào gió, có chi đâu diệu vợi

        Mây mùa thu còn mơ mướt sắc hồng

        Hoa cúc nở cát lầm hoa vẫn nở

        Đất theo mùa quặn thắt giấc chờ trông

        Thôi nào mưa, chưa biết kịp mưa không

        Mây thiên di qua trời nào hóa kiếp

        Đá nhọc khát ôm mùa cây hao khuyết

        Tiếng chim lành ai oán hót mòn trưa

        Thôi nào nắng, trắng mùa ta ngóng đợi

        Lối mòn xưa còn lắm nẻo hoang vu

        Ta rong ruổi suốt một thời trai trẻ

        Mây rủ lòng trong trẻo trước mùa thu

        Thôi nào sương, thương lấy ngày đông lạnh

        Lọt qua tay khói sóng đã xa rồi

        Nào ai đếm những ngày không trở lại

        Nhìn suốt trời vẫn chỉ thấy mây thôi.

        THỤ CẦM

        Đứng ngang trời

        Cổ thụ sao sa mùa hạ

        Cổ thụ ngăn ngắt mùa đông

        Một mình với vầng trăng

        Bềnh bồng thụ cầm cất giọng

        Không nỗi buồn nào lay chuyển nổi

        Chim làm tổ mùa hạ

        Chim trú rét mùa đông

        Cùng mưa gió

        Cùng mây trời

        Thụ cầm

        Vang điệu nhạc

        Cao vời

        RỪNG THÔNG TRẠM TẤU

        Có gì lạ đâu rừng thông bát ngát

        Nhưng đây Trạm Tấu tít trong mây

        Cái nắng cũng nhẹ, chiều cũng khác

        Suối sâu hun hút, nhạc đầy cây

        Chỉ đứng và reo, thông vẫn thế

        Nhưng đây cò trắng từng đàn bay

        Ấm cả ban mai, rừng bớt vắng

        Cùng với thông xanh gió suốt ngày

        Những cô gái Mông còn rất trẻ

        Dù hoa nhún nhảy, mắt trong mơ

        Thấp thoáng thông xanh trai khèn lượn

        Bất chấp cầu mây dốc hẹn chờ

        Thông xanh Trạm Tấu thông xanh lạ

        Chỉ thương đèo dốc, đường lại xa

        Thông đứng cùng người, nâng nhau dậy

        Trời đất mênh mang núi sương nhòa

        LÊN TÚC ĐÁN TRẠM TẤU

        Chọn ngày cuối năm lên Túc Đán

        Thử xem tết nhất của người Mông

        Dốc cao thăm thẳm vẫn còn dốc

        Mưa nhẹ trời buông lạnh như không

        Người Mông “lù cở” đầy chất ngọn

        Chợ xa mua sắm cũng chỉ vừa

        Vất vả quanh năm chân đạp núi

        Cỏ cây phóng túng gió mây thừa

        Quanh bếp lửa hồng ngồi vui chuyện

        Bánh dầy thịt nướng chỉ vậy thôi

        Ngày thường đã rượu tết càng rượu

        Được chúc mừng nhau đủ vui rồi

        Đêm xuống tiếng rừng làm bầu bạn

        Khèn khuya vắt vẻo lưng sườn non

        Chừng như núi cũng say tình tự

        Thỉnh thoảng sương rơi động góc vườn

        Thu cả vùng cao vào câu hát

        Gập ghềnh đồi núi cũng hồn nhiên

        Quả “pao” ném đi rồi ném lại

        Như là mượn cớ để giao duyên

        Có gì níu chân người Túc Đán

        Nào có còn đâu những bóng đa

        Lau trắng giăng ngang nương lúa cũ

        Vẫn một vầng mây mấy nóc nhà

        GÓC KHUẤT

        Đó là nơi ít người để ý

        Có thể nơi để cốc chén thừa

        Nơi gom rác và nơi dựng chổi

        Góc khuất

        Không phải nơi vui vẻ nhiệt cuồng

        Không phải nơi xô bàn đẩy ghế

        Chỉ đến khi các cuộc vui tàn

        Người ta đến góc nhà

        Tìm chổi

        Và quét

        Tôi thường góc khuất

        Chiêm nghiệm đời!

        SỚM MAI TRÊN ĐƯỜNG

        Sớm mai trên đường

        Có đám cưới gặp đám ma

        Đầy ngõ tiếng cười đầy đường tiếng khóc

        Chiều về

        Người bất hạnh đi cùng người hạnh phúc

        Đất nào đất so đá

        Đá nào đá cược với vàng

        Xa một chút thành vô tình

        Gần một chút có khi vô vọng

        Ngày đã ngắn

        Đời chả rộng

        Nói điều gì cũng thấy mong manh

        Mỗi sớm mai

        Bước nhỏ gặp điều lành

        TRONG LỜI

        Em yêu một Nhà thơ

        Lời nói trên môi em bé bỏng

        Lời cháy sáng của đợi chờ và khát vọng

        Anh tin bằng đức tin mạnh hơn Chúa!

        Em lòng lành bùa ngải trái tim anh

        Như sắp đặt của tự nhiên không thể khác

        Thiên sứ cùng Nhân sứ đều giản dị trong Lời

        Và em đã nói

        Tiếng nói trên môi thầm kín kia ơi!

        Em đã thương câu thơ lận đận kiếp người

        Em đã hát về loài hoa bất tử

        Em đã khóc nỗi trẻ mồ côi

        Đủ để em yêu Một Nhà Thơ

        Một Nhà Thơ của chính em thôi!

        THÌ THẦM CÙNG EM

        Anh yêu em hào hoa và thánh thiện

        Cùng thời gian đăm đắm mong chờ

        Tiếng em nói chỉ riêng anh thấu tỏ

        Trong thì thầm cung bậc những câu thơ

        Những con đường hong hanh mùa hạ

        Những vầng mây mong manh mùa thu

        Những cơn gió theo nhau về viễn xứ

        Độc thoại ngôi sao xa lắc xa lơ

        Ta tất bật yêu nhau mộng mơ xanh biếc

        Tất bật sống và lo toan công việc

        Giữa cõi nắng mưa phù vân vạn kiếp

        Là khoảng bình yên giời bể để yêu

        BÀI THƠ BẤT CHỢT

        Sao em nói quá nhiều về biển

        Để khát khô đáy giếng trăng rằm

        Em đắm đuối ở vùng không ước hẹn

        Đến ao nhà cá cũng lội bặt tăm

        Nắng tạ tội với mưa ngày khô hạn

        Đem chút buồn khoe với đá từ bi

        Dòng suối chảy bao giờ cho đến biển

        Lòng chiều rơi đá cuội nói năng gì

        ĐÊM MƯỜNG EM

        Sương giăng giăng trên hàng cây không tuổi

        Mắt em kìa

        Bảng lảng đêm xòe

        Nhịp chiêng trống rung ngân hàng khuy bạc

        Nhạc khèn bè

        Hây hẩy trăng khuya

        Xà tích rập rờn hương rừng nhẹ bay

        Khăn piêu đung đưa vầng trăng nhún nhảy

        Quấn quít bước chân

        Đừng nhầm nhịp vấp vào thổ cẩm

        Tay nắm tay nhau rồi đừng quên nhau đấy

        Rượu em mời

        Uống cho đất trời say

        Nào núi rừng xòe kẻo sao đã lặn

        Nào than lửa xòe kẻo đêm sắp tàn

        Vòng xòe quay

        Nhịp xòe xoay

        Đêm Mường Em xuân dâng tràn đầy

        TIỄN MỘT MÙA ĐÔNG

        Lại thong thả đón một ngày mai mới

        Dường như cây không giải thích điều gì

        Trong đêm vắng cành lặng thầm trút lá

        Cùng gió sương rét mướt tiễn đông đi

        Ngày tưởng còn mắc cạn giữa phân ly

        Rồi trong mắt sẽ lại thương với nhớ

        Rồi giấy mực lại miên man duyên nợ

        Nặng cõi lòng vụng dại mấy câu thơ

        Quên bẵng rằng hoa hóa kiếp ngày xa

        Có một loài mây suốt mùa phiêu dạt

        Có một loài cây suốt mùa khao khát

        Có một bầy chim đưa tiễn mùa đông

        Lại thanh thản đón một mùa xuân đến

        Hun hút tuổi thơ lấm láp phù sa

        Còn dòng sông để ta về hò hẹn

        Dọc bãi bờ tìm lại dấu đông qua

        TÚ LỆ TRONG MÂY

        Mây ngổn ngang

        Rừng núi ngổn ngang

        Đèo dốc chênh chao bờ lau lất phất

        Thẳm đường trời Tú Lệ hút sương giăng

        Tiếng sơn nữ lao xao cầu tre nhún bước

        Thấp thỏm mùa trăng

        Mùa trai gái trao nhau lời hẹn

        Súng sính một năm chờ mong

        Lễ hội “lồng tồng” mời gọi

        Giăng mắc bước chân

        Câu “khắp” bỏ bùa người tình tứ

        Người Tú Lệ hồn nhiên mộc mạc

        Thầm giấu lời yêu trong nụ cười

        Thầm giấu nụ cười trong ánh mắt

        Chưa mời nhau về thăm nhà chưa thỏa lòng

        Khoe với thiên hạ con gái đẹp

        Tấm “áo cỏm” khít khao da thịt

        Chưa mời nhau cơm lam chưa phải phép

        Khoe với thiên hạ

        Rằng hương nếp không nơi nào sánh được

        Lời thương mượn cây mượn suối đón đưa

        Tú Lệ có suối nóng mời nhau tắm tiên

        Tú Lệ có cánh đồng chắt ra từ ruột núi

        Chả thế mà người ở đây xinh vậy

        Đêm Tú Lệ lời hát không nguôi

        Thấm vào đất nuôi cây nuôi trái

        Sàn “hạn khuống” huyền linh bếp lửa

        Câu giao duyên biến hóa

        Như đường rừng chẳng biết lối ra

        Rượu cứ uống, mời cả trăng cùng uống

        Đêm giăng mắc khó mà dứt được

        Đừng tưởng núi rừng không hào hoa

        Vui cho hết kẻo về rồi lại tiếc

        MỘT DẶM CÔN MINH

        Được bạn mời thăm Côn Minh

        Cứ tưởng rằng xa hóa cũng gần

        Xe từ Hà Khẩu qua Mông Tự

        Chu du thiên hạ được mấy lần?

        Có khác chi nhau một màu cây!

        Cũng sông cũng núi cũng màu mây

        Khác tiếng cho nên thành xa lạ

        Liệu sau còn dịp đến đất này?

        Tới xem một vùng sinh vật cảnh

        Người chạm vào hồn của muôn hoa

        Dưới trời đông thế mà lẻ bạn

        Một thoáng Côn Minh, để rồi xa

        Một dặm Côn Minh để rồi qua

        Sách mở giừa trời người thương sách

        Học dăm ba chữ ở thanh thiên

        Để nhớ một lần nơi đất khách

        TRƯỚC CỬA SỔ THẾ GIỚI

        Những kỳ quan thêm một lần tái tạo

        Bằng thú chơi trang trọng

        Rút ngắn mọi khoảng cách

        Những vẻ đẹp siêu nhiên được sắp xếp lại

        Không phân biệt quốc gia

        Chỉ có nghệ thuật hiến dâng

        Và hiến dâng cho nghệ thuật

        Con người xích lại gần nhau

        Thế giới xích lại gần nhau

        Những kỳ quan thêm một lần tái tạo

        Kiến trúc vô tri cất tiếng nói vô cùng

        Sự ngưỡng mộ cao hơn tôn giáo

        Người ta đến đo mình với các nền văn minh nhân loại

        Chỉ một tấm vé

        Ta dạo trên khắp thế giới này

        THIÊN AN MÔN

        Từng chứng kiến những đại lễ trang trọng

        Những cuộc thao diễn bể người

        Những sự kiện tỷ dân rung chuyển

        Cả tiếng nỉ non dưới lòng đất

        Cả tiếng xích sắt

        Cả lời tung hô

        Trước Thiên An Môn rừng cờ đỏ rực!

        Nhưng, giờ đây

        Người người dạo chơi bình thản

        Nắng trải trên quảng trường như không

        Gió lộng trên quảng trường như không!

        CỐ CUNG

        Không còn cấm người đến xem “cung cấm”

        Thành quách uy nghiêm thâm cung bí sử

        Đã làm nên vĩ đại quốc gia này!

        Trải bao biến thiên

        Vật đổi sao rời

        Cố cung muôn vàn diệu vợi

        Còn thách thức với thời gian

        Những vương triều tọa lạc

        Những vua sáng tôi hiền

        Những hôn quân bạo chúa

        Những thăng trầm thế sự

        Đều đã ghi dấu ấn nơi này

        Tôi đến đây với bản tính phương nam

        Muốn đối thoại với ngai vàng kia

        Muốn trò chuyện với hàng cây ngàn tuổi

        Hình như

        Mỗi viên gạch ở đây đều muốn nói điều gì.

        NHỮNG NGÀY BERLIN

        Rất nhiều lý do để ngắm

        Những lâu đài những đường phố những hàng cây

        Những thăng hoa dồn tích lâu đời

        Ta khoảnh khắc viễn du xứ lạ

        Những gương mặt người thản nhiên đến thế

        Không ai để ý tới ai

        Dòng người chảy dòng xe cộ chảy

        Không cách ngăn trời rộng sông dài

        Hàng cây xanh không nhắc thuở chiến tranh

        Dẫu biết đất này một thời tao loạn

        Khoảng mây kia cho ta tưởng tượng

        Tiếng phi cơ thời đại chiến xé trời

        Giờ Berlin đi giữa bạn bè tôi

        Những người Việt tha hương

        Vẫn không nguôi nhớ về đất Việt

        Nắm tay nhau như chẳng muốn rời

        Những ngày Berlin tha thẩn trong tôi

        Các pho tượng trên bảo tàng nói gì đi chứ

        Đài Victoria nói gì đi chứ!

        Không tiếng trả lời, chỉ tiếng vọng rất xa…

        QUA POTSDAM

        Chiếm lĩnh không gian những lâu đài cổ kính

        Những pho tượng lực lưỡng bất tử

        Cả rừng đại thụ cả những vườn hoa

        Những lá cây lim dim nắng

        Âm thanh từ đài phun nước hay từ cối xay gió?

        Sanssouci

        Người ta có thể ngợi ca một đời vua

        Hay nguyền rủa một ông vua

        Nhưng chiêm ngưỡng ngai vàng!

        Potsdam

        Những gì đã qua những gì còn lại?

        Người thổi sáo vẫn đứng góc vườn ngự uyển

        Trước giá nhạc giống khi xưa

        Tấu khúc mục đồng

        Du khách qua

        Ném vào chiếc đĩa vài keng bạc lẻ

        Tiếng sáo thản nhiên vô lo vô nghĩ

        Rằng Potsdam

        Hỏi thời gian còn lại cái gì

        Tiếng sáo hay người thổi sáo?

        GHI Ở CHỢ HANNOVER

        Em, quê Hà Nội

        Bán mắt kính ở chợ Hannover

        Lấy chồng Đức

        Em đi như sự cầu may

        Rồi ở lại xứ người

        Gặp đồng hương

        Em rối rít như người nhà

        Nhớ Hàng Đào Hàng Lược

        Nhớ mắm muối tương cà

        Biết bao giờ về nước!

        Thôi đừng sợ phiền hà

        Thứ này em xin biếu

        Thứ này trả tiền tượng trưng hay một nửa

        Cũng tùy!

        Chỉ mừng thấy người Việt mình

        Như thấy được quê!

        TỰ NGẪM

        Không thể nào sống thiếu niềm tin

        Đó là điều đồng đội tôi bảo thế

        Thuở chiến tranh bom đạn kề bên

        Trước sống chết mọi điều đều có thể!

        Không thể nào sống thiếu niềm tin

        Đó là điều bạn bè tôi nhắc vậy

        Những năm tháng cam go dữ dội

        Ngẩng đầu lên mà bước trước mặt trời!

        Không thể nào sống thiếu niềm tin

        Đó là điều xóm làng tôi đã nói

        Có bao chuyện sau lũy tre bối rối

        Thắp đèn lên cho sáng tỏ tình người!

        Không thể nào sống thiếu niềm tin

        Khi xao xuyến, trái tim tôi mách vậy

        Tay trong tay, mắt nhìn nhau tin cậy

        Trước mùa xuân hoa nở chẳng phân vân!

        CHẠNH LÒNG SA PA

        Nào biết làm gì cho đỡ nhớ

        Mùa đông sương phủ đầy Sa Pa

        Hút nẻo đường cây mờ bóng núi

        Thoát trần đất với đá thăng hoa

        Đến cõi vô cùng mà cầu nguyện

        Bỗng nghe đâu đó tiếng chuông ngân

        Đi trong trời đất mà như mộng

        Nào rẽ ngả nào giữa phù vân?

        Chạnh lòng thương nỗi Sa Pa xưa

        Cúc quỳ hoang dại đi đâu hết

        Cả tiếng vó ngựa dầm trong rét

        Thấu đến tận cùng những vắng xa

        Có thể ký ức tràn mây gió

        Lối mòn thảo mộc lẫn hương hoa

        Có thể rêu phong mờ lối cũ

        Làm sao quên được bóng Sa Pa?

        LÚNG LIẾNG BẮC GIANG

        Theo lối người xưa anh đến Bắc Giang

        Câu hát cũ bắc cầu qua ngày mới

        Em lúng liếng, trời ơi, thu vàng gợi

        Bóng hoàng thi đăm đắm hút anh đi

        Anh chỉ tiếc không kịp mùa vải chín

        Để hát câu giao cảm với mùa màng

        Hãy chỉ giùm anh lối nào hương hoàng thảo

        Bõ một lần rong ruổi đất Bắc Giang

        Dẫu biết vậy ta mượn câu quan họ

        Để nhớ nhung da diết gửi lòng mình

        Dẫu trời đất có xa trông vời vợi

        Trúc nơi nào thì trúc vẫn cứ xinh!

        DƯỚI THÔNG NGUYỄN TRÃI

        Kinh bang tế thế như ông mà còn dại

        Ham hố chi đâu vương vấn chốn kinh kỳ

        Đã đem phận về với cây với suối

        Sao lại còn chuốc lấy hận phân ly

        Nhưng dẫu sao cũng cảm ơn cái chết

        Cho nhân gian bao suy ngẫm sinh thành

        Xem ra cõi người ta cũng lạ

        So chẳng bằng trầm tĩnh cõi thông xanh!

        CHIÊM NGHIỆM

        Rồi tất cả sẽ xưa như cổ tích

        Trắng và đen thì cũng vẫn mặt người

        Giữa cõi nhân gian thuận êm và trái nghịch

        Sống chết chuyện thường

        Thiện ác chuyện thường

        Người đáng vinh có khi nhục

        Người đáng nhục có khi vinh

        Có khi sang lại có khi hèn

        Có những người lặng im đời vẫn nhớ

        Người tung hứng cho mình đời quên vẫn cứ quên

        MÂY NGANG TAM ĐẢO

        Tưởng chừng trời đất nhẹ tênh

        Mây ngang Tam Đảo bồng bềnh về đâu?

        Nắng dưới chân gió trên đầu!

        Còn em đằm thắm giữa màu thông xanh

        Đền thiêng, em dắt tay anh

        Cầu cho mình sống yên lành vì nhau

        Núi vừa cao núi vừa sâu

        Vầng mây như thể nhịp cầu chung chiêng

        Tiếng chim mải bói chuyện riêng

        Bói hoa bói quả xem thiêng chừng nào!

        Loanh quanh Tam Đảo và chào

        Tiếng chuông nhè nhẹ thỉnh vào thinh không

        HOA BAN TRONG MƯA ĐÊM

        Ngoài trời trắng hoa ban

        Giầm trong mưa rét

        Kiếp hoa chỉ kiếp hoa

        Không cần ai thương xót

        Đến kỳ thì bung nở

        Đến kỳ thì tàn phai

        Hoa dâng hiến tận cùng niềm an ủi

        Không thể lửng lơ giữa trời

        Hoa tự rơi

        Về đất

        Trăng trắng Mường Lò

        Mưa

        Trắng đêm

        LỬA SÀN TRĂNG

        Thế là sương giăng câu “khắp” Thái

        Dốc ngược lao xao

        Tiếng sơn nữ lưng đèo mờ hút

        Điệu “khắp” nguyên sơ chếnh choáng men rừng

        “Hạn khuống” ngóng chờ trăng mọc

        Lời “khắp” gập ghềnh như bậc ruộng tìm nhau

        Này chân nhún nhảy này mắt nhìn mắt

        Trai gái đến đây vòng xòe thêm lửa

        Thung lũng bập bùng làng bản nhấp nhô cây

        Này váy Thái rập rờn eo thon

        Lay động vầng trăng vũ nữ

        Này “mắc pém” nồng nàn nhịp thở

        Nào có gì đâu câu hát rủ rê người

        Bạn tình ơi

        Người đẹp ơi

        Người hát lửa hát rượu hát cuống cả chân tay rồi

        Vần không kịp gieo

        Cứ thế hát!

        GHỀNH RÁNG

        Có thể như mọi chiều

        Chim Thiên Tước vỗ cánh bay trước biển

        Qui Nhơn

        Như tấm gương lặng lẽ soi mình

        Khoảnh khắc nhập vào xa thẳm

        Để được quên ồn ào phố sá

        Lắng hồn trong xanh miết trùng khơi

        Nếu không Ghềnh Ráng

        Hẳn Qui Nhơn sẽ vắng thiếu một nỗi buồn sang trọng

        Sẽ thiếu hụt một đời thơ phiêu lãng

        Nếu một lần lỡ hẹn với nơi này

        Cứ một thi nhân với một rừng xanh

        Cứ một thi nhân với mây không tuổi

        Hẳn người sẽ bớt cô đơn

        Một Ghềnh Ráng đủ để trăng làm tổ

        Chim Thiên Tước còn bay dưới trời thinh lặng

        Thật xứng Qui Nhơn

        Đã chọn cho Hàn sĩ một chỗ nằm

        Chiều Ghềnh Ráng nắng vàng lên bia mộ

        Một nén nhang

        Một Hàn Mặc Tử

        Cây đàn thơ trầm mặc ngân rung

        Ở DỤC THANH PHAN THIẾT

        Những gì có ở đây? Như mọi thôn làng

        Gió và cát và tanh nồng hương vị biển

        Mái ngói hàng cây mây về hò hẹn

        Giếng nước xưa mưa nắng sum vầy

        Những gì có ở đây? Chỉ mấy dãy bàn

        Mấy dãy ghế học trò ngày trước

        Cây khế vườn xum xuê bóng mát

        Lối nhỏ in bao lớp chân người

        Những gì có ở đây? Thầy giáo Nguyễn Tất Thành

        Truyền quốc ngữ và ưu lo quốc sự

        Thuở đất nước còn mịt mờ dông tố

        Mắt Người nhìn xuyên thấu trời xa

        Những gì có ở đây? Thời tuổi trẻ Cụ Hồ

        Mỗi di vật đều mang hồn non nước

        Vẫn sông Cà Ty, vẫn đất trời Phan Thiết

        Nơi hồn quê sâu nặng với thời gian

        NGẪU CẢM

        Hai nửa niềm vui gặp một nỗi buồn

        Một lần trăng tròn hai lần trăng khuyết

        Trót vay hậu thế một hai lời thề

        Trót nợ tiền nhân dăm ba hẹn ước

        Có gì không nguôi đang còn phía trước

        Niềm vui nhân đôi nỗi buồn chia nửa

        Ta xanh như rừng ta trong như nước

        Ta vay nụ cười ta nợ tiếng khóc

        Em của ta ơi có hiểu cho ta

        Có những đêm dài một mình ta thức

        TẢN MẠN TRONG NGÀY

        Không có gì lạ về trời về người về tất cả

        Cứ trầm tĩnh như cây là được lắm rồi

        Những trái nghịch của muôn đời sinh diệt

        Vật đổi sao rời cũng lẽ thường thôi

        Ảnh treo thiên thu giữ tuổi trẻ một thời

        Người khuất xa rồi nhưng hồn thiêng lắng lại

        Điều này mẹ tôi khuyên tôi qua ánh mắt

        Rằng sống ở đời cố mà tránh điều ác

        Cứ  ngay thẳng và chăm lo điều thiện

        Mất một chút nhưng được cũng sẽ nhiều

        Cứ cày sới trên cánh đồng của chính mình

        Cứ đổ mồ hôi sôi máu mắt chính mình

        Người không phụ chắc là trời không phụ

        Có thể người này bảo vậy là hay

        Có thể người kia nói thế là dở

        Lúa còn giữa đồng nào ai vội bắc cân!

        Thiên giới thiên lương địa giới thánh thần!

        Đến cây cỏ nhiều khi còn có giá

        Khách quan với hoa chủ quan với quả

        Lý lẽ tự nhiên nhiều khi cũng tít mù!

        Đất chảy máu ai đã tin là thực?

        Vô cảm vô lo vô nghĩ vô cùng

        Nay vô lý biết đâu mai có lý

        Cứ cho là như thế có sao đâu!

        Chấp nhận tất nghĩa là không chấp nhận

        Chiết trung nửa mùa dưa khú vẫn là dưa!

        Thừa cái thiếu cười nhạo cái đã thừa

        Sao mai sao hôm dẫu hai mà một

        Có lúc chẳng coi cái gì là cái gì

        Tôi nghiệm ra, đời vậy, có hề chi!

        MỘT THOÁNG ĐỒ SƠN

        Chớm lạnh ai còn ra biển

        Ai còn tới cõi đam mê

        Hạnh ngộ tận nơi chân sóng

        Đồ Sơn chấp chới sao khuya

        Hòn Dấu chưa bao giờ già

        Như thể con tàu trên sóng

        Mùa xuân thong thả đi qua

        Một thoáng đất trời xao động

        Tơ tóc vẹn nguyên kiều diễm

        Hồn cốt đang độ trẻ trung

        Đồ Sơn trầm tư trước biển

        Thời gian gõ nhịp vô cùng

        TẶNG LOÀI TRE GAI GÓC

        Em như thể cây tre trên sỏi cằn gai góc

        Em đứng bên cây trúc

        Cây trúc vì có em mà trúc xinh

        Trong sớm mai thanh khiết

        Mặt trời, chính mặt trời vì có em mà chói chang

        Những đêm tinh tú

        Mặt trăng, chính mặt trăng vì có em mà dịu dàng

        Em mơ màng và em rất thực

        Đêm đêm dưới trời, em thầm thì ca hát

        Bài hát tình yêu

        Của loài tre gai góc

        VÍ DỤ THẾ

        Ẩn sau màu lá kia

        có thể biết đời cây dài hay ngắn

        ẩn sau màu áo kia biết người gần hay xa

        ẩn sau nụ cười kia biết người quen hay lạ

        ẩn sau cái xiết tay biết thật hay giả

        nhưng không thể biết

        điều gì dấu trong lời nói lập lờ

        khổ cho khi thật khi đùa

        khổ cho thật không được thật

        ờ nhỉ có lúc

        đường xa tưởng xa mà gần

        đường gần tưởng gần mà xa lắc!

        CAO BẰNG

        Vốn là vậy, Cao Bằng cao và gió

        Càng lên cao càng hun hút sương mờ

        Những nẻo đường đèo dốc lượn quanh co

        Những mái ngói âm dương dầu dãi  

              

        Tưởng khôn núi lữ hành thành đơn độc

        Đá dựng ngang trời ẩn hiện ngang mây

        Thác Bản Giốc như một thiên bi tráng

        Thả mông lung vực thẳm xuốn trần ai

        Chừng con nước vô tư không mệt mỏi Thiên nhiên hồn nhiên, đâu rắc rối như người Còn bao cảnh bao tình chưa tới được Vội ngắm Bằng Giang rồi vội chia phôi

        Ở nơi đó bạn bè tôi một thuở Có người còn người mất, chẳng nguôi ngoai Đường xa vậy, đường xa ai đoán định Hẹn Cao Bằng in lại dấu chân tôi

        MẪU SƠN

        Bóng dáng ngày ấy đâu rồi

        Hỡi Mẫu Sơn?

        Câu sli diễm tình hát mềm núi đá

        Ngày ấy người chưa làm mẹ

        Biếc ngần thiếu nữ

        Chưa biết buồn lúc hoa nở

        Chưa biết tiếc ngày lau trắng phất phơ

        Chưa biết sợ mỗi lần xuân sang

        Bừng chút nắng rồi se sẽ tàn

        Tuổi con gái ngọt ngào trốn chạy

        Gió cuốn tóc mây

        Quên hết si mê trẻ dại

        Quên hết nhiệt cuồng rừng xanh hú gọi

        Vừa biết lo, ngày tháng đã vội qua!

        Đằng đẵng chồng con

        Lối rẽ đường trời

        Mẫu Sơn

        Chót đỉnh ưu tư phận người hóa núi!

        MÙA XUÂN

        Còn xanh những hàng cây

        Cho mùa xuân đến trọ

        Còn ấm những màu mây

        Cho hồn mưa trú ngụ

        Biếc nhìn thanh thản chưa

        Râm ra bao chồi nụ

        Hồn hậu đồng đất xưa

        Vui người hiền đoàn tụ

        Chim lại về xây tổ

        Nâng niu những lá cành

        Nắng vẫn hồng với cỏ

        Đau đáu ký ức xanh

        Cầm trong tay thương nhớ

        Đem gieo cho bốn mùa

        Người lữ hành lặng lẽ

        Mãi mùa xuân đón đưa

        KHÚC VỌNG PHU

        Bài ca ấy đã qua lâu rồi

        Người trai ấy đã đi xa vời

        Hai mẹ con ngồi bên gốc cây cơm nguội

        Đếm nắng rơi

        Đứa gái mơ màng như mẹ nó

        Nhìn mây đang bay nhìn sông đang trôi

        Hai mẹ con ngồi bên bến sông

        Gió dâng lên trong màu mái tóc

        Trông dáng chiều rơi trên vai

        Chân trời xa đàn chim vẫn bay

        Tiếng kêu thương tan vào gió núi

        Rồi khuất mờ trong sương mênh mông

        Vẫn như thế

        Những chiều thăm thẳm

        Hai mẹ con dưới gốc cây cơm nguội

        Hát bài hát những ngày xa xôi

        TỰ DO

        Thả sức tung hoành trên mội khoảng không gian, dù là đồng bằng hay núi cao, lấy bầu trời làm đích, không biển cấm nào ngăn được. Cơn gió hay cơn bão chỉ khác nhau ở tốc độ nhẹ nhàng hay ngang tàng xoáy lốc, mục tiêu là bay!

        Thả sức nhởn nhơ và biến ảo, mặc cho mọi tưởng tượng, mang trong mình những bí mật dọc hành trình vô tận, không dừng không ngừng không nghỉ, mây là sứ giả của bầu trời, là bạn của khói sương phiêu lãng, là niềm khát khao của đất đai, những khoảnh khắc của đợi chờ và hi vọng.

        Thả sức vẫy vùng, đấy là ngọn lửa của trí tuệ luôn thắp sáng, vượt qua mọi không gian và thời gian, con người độc quyền chiếm lĩnh. Đó là Tình yêu Tự do mà bầu trời mách bảo.

        VỚI CHÚA GIÁNG SINH

        Chúa chưa hề biết ta

        Ta cũng chỉ nghe danh chúa

        Vậy mà Giáng sinh

        Giáo đường chật ních người

        Lời cầu kinh mê trầm dóng diết

        Đến nỗi không hiểu Chúa đã phán gì

        Trước những kiếp người đủ bộ dạng vui buồn thiện ác

        Rủ lòng thương ấy là bản tính của Chúa

        Ta nghe trong những lời cầu nguyện

        Khát vọng giản dị

        Rằng ta tin Chúa thì Chúa cũng phải tin ta chứ!

        Ta lòng lành muốn đối thoại với Chúa

        Nhưng Chúa còn bận đi khắp thế giới

        Chẳng thể gặp Chúa đâu!

        Vừa lúc đó, em đến bên, an ủi

        Rằng hãy tin Chúa ở chính ta

        NHÌN VỀ PHẦN ĐỜI ĐÃ CHẾT

        Cái phần đời đã đi qua không trở lại

        ấy là tuổi trẻ

        trong những bài ca bi hùng một thuở

        của những chiếc cầu khỉ chênh vênh

        bắc qua chập chùng Trường Sơn

        những dấu võng buộc vội vàng dọc binh trạm

        mịt mùng bom lửa

        ngày đất nước gồng mình đánh giặc

        dấn bước qua thật chẳng dễ dàng

        một phần đời đã chết

        trong tình yêu quê hương những bạn bè thân thương

        những mê đắm nhiệt thành

        những nỗi đau bạc tóc

        cho những con chữ được sống không điều gì phân vân

        một phần đời đã chết

        đẹp và mộng mơ

        cho những điều vụng về khờ dại

        cả vì quá yêu em

        cả vì những khuyết tật không sao sửa nổi

        cả không phản trắc không lọc lừa

        và, tôi có thể yên tâm

        được sống với những gì đã chết

        DƯỚI BẦU TRỜI NÀY

        Dưới bầu trời này

        tôi đã từng sống thân thiện với đá

        bao giờ đá cũng rắn chắc và gân guốc

        trơ lỳ vầ đôi khi kỳ bí

        nhưng có lúc đá vỡ tan không sao hàn gắn

        tôi đã từng giao hòa với nước

        niềm khát khao của mọi người

        không có nước là hết sự sống

        nhưng khổ thay cũng có lúc nước đục

        tôi sống với đất dẻo dai và phồn thực

        đất đầy những ý nghĩa sâu sa

        nhưng đất cũng tạo nên bụi

        mà bụi thì chả để làm gì!

        Và, mây giữa trời kia

        bay bay bay

        trôi trôi trôi

        dưới bầu trời này hồn tôi dong duổi

        NHỚ SÓNG CÀ MAU

        Sóng biển sóng sông sóng dài sóng rộng

        sóng tận cùng Cà Mau phiêu linh

        dẫu bến lở đất bồi, cứ sóng

        dẫu mây nước đầy vơi, cứ sóng

        sóng đến nỗi phải kêu lên

        trời sóng!

        sóng cho mây vần vụ

        sóng cho nhau nhớ nhau

        ước em đến anh tựa như sóng Cà Mau

        xa

        vẫn không nguôi sóng

        LỤC YÊN CHÂU

        Từng nghe

        non nước Lục Yên Châu

        trăng thả thuyền trên đỉnh núi

        những dải mây cổ tích hiển linh

        Từng nghe

        nơi hùm thiêng một thuở vẫy vùng

        thềm hoang hang động

        giáo gươm lũy thành lấp lóa

        đá dựng sương giăng

        thời gian mờ tỏ

        mạch huyết hồng

        trầm tích Lục Yên Châu

        Từng nghe

        rừng suối chim muông thảo mộc

        những dân quê

        khai sơn phá thạch mượn núi dựng nhà

        những vệ quốc quân mượn cây làm chiến lũy

        xả thân đánh giặc

        lời thề văng vẳng Lục Yên Châu

        Giờ bến cũ thềm xưa cầu vượt sông sâu

        sáo hội mùa thả hồn đắm đuối

        tha thiết hoa văn thổ cẩm

        bóng chim về

        ngẫm xem xứ ta thế mà lạ

        thứ gì cũng quý

        báu vật tìm

        non nước Lục Yên Châu

        BÊN THÁP POKLAUNG GIRAI

        Tháp hướng về Mặt Trời, vị thần sinh và diệt, cất tiếng gọi u oa trong sớm, tưởng như thời hoang dại hiển linh.

        Tháp gió ủ lửa. Tháp lửa ủ giông. Nơi thần Shiva trú ngụ và truyền tích. Thần Shiva toàn năng.

        Linh thần hiện hữu cùng vũ nữ. Linga bản thể của vũ trụ, giản đơn và hàm chứa. Yoni phép màu của tạo hóa, giản đơn và hàm chứa.

        Poklaung Girai, không dấu tích ngai vàng. Làm sao cắt nghĩa đâu là khoảnh khắc đâu là vô cùng?

        Sương rồng gai như tấm lá chắn. Như giọt nước mắt tỏa gai!

        Dấu xưa ai vọng niệm?

        Poklaung Girai!

        TÔI VỀ ĐÀ LẠT

        Tôi về Đà Lạt ngày mưa

        Và mưa như thể trời chưa biết buồn!

        Chẳng như chớp bể mưa nguồn

        Mưa giăng làm cớ để hồn lãng du

        Tôi về đà Lạt ngày thu

        Nhờ thông mà hiểu đường tu khó tìm

        Nhà cao không khuất tiếng chim

        Kìa hoa kìa lá lặng im sao đành?

        Tôi về Đà Lạt ngàn xanh

        Gió cho tôi hiểu ngọn ngành lời ru

        Đi trong xứ sở sương mù

        Ướt trong màu mắt. Mặc dù tạnh mưa!

        CÕI THƠ

        Ở cuối trời này nhiều nắng quá

        Nước mây như chẳng biết bến bờ

        Ta còn rong ruổi ngoài tầm sóng

        Trong cuộc giao tình với cõi thơ

        Xa rồi, chả lẽ mình ta tiếc

        Tháng ngày còn mỗi nỗi đơn côi

        Cũng xin đem gói làm quà tặng

        Cho những phiêu du của kiếp người

        Biết thế, nhưng rồi đành phải thế

        Bao nhiêu nắng nỏ dưới trời này

        Chịu khó gom về dăm ba giọt

        Giữ lại cho mình đỡ trắng tay

        LỜI CÂY

        Lỡ cơn giông đến

        Hãy nhìn lên cây khế nhà mình

        Ở đó vừa nở những bông hoa li ti

        Tim tím cất lên câu hát

        Về loài cây dư thừa nữ tính

        Lỡ có muộn phiền

        Hãy nhìn lên cây bưởi nhà mình

        Lá non như bất chấp nắng mưa

        Xanh xao cất lên câu hát

        Về cõi trời đất vô thường

        Nếu vô cớ nản lòng

        Hãy nhìn vào mình

        Thanh thản cất lên câu hát!

        Share this:

        Twitter

        Facebook

        Thích bài này:

        Thích

        Đang tải…

        Cảm Nhận Của Anh/Chị Về Vẻ Đẹp Của Mùa Thu Hà Nội Trong Bốn Câu Thơ Đất Nước Của Nguyễn Đình Thi / 2023

        Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội trong bốn câu thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi

        Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội trong bốn câu thơ

        Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

        Những phốdài xao xác hơi may

        Người ra đi đầu không ngoảnh lại

        Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

        (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

        a) Nguyễn Đình Thi là nhà thơ trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Thơ ông có bản sắc và giọng điệu riêng, vừa tự do, phóng khoáng, vừa hàm súc, sâu lắng suy tư, có những tìm tòi theo hướng hiện đại về hình ảnh và nhạc điệu.

        – Đất nước là một tác phẩm lớn, tiêu biểu nhất cho sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Đình Thi, đồng thời cũng là một trong số không nhiều những bài thơ xuất sắc nhất viết về quê hương đất nước của nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

        – Đoạn trích nằm ở phần đầu bài thơ, là một trong những khổ thơ hay nhất viết về vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội.

        b) Cảm nhận về mùa thu Hà Nội

        – Mùa thu Hà Nội được khơi nguồn từ vẻ đẹp tươi sáng, trong lành của mùa thu Việt Bắc, với buổi sáng mát trong, với hương cốm mới. Cả mùa thu Hà Nội năm xưa sống dậy trong mùa thu Việt Bắc hôm nay.

        Trong niềm hoài niệm của nhà thơ, mùa thu Hà Nội hiện lên với những cảnh vật thiên nhiên và con người cụ thể, sinh động và gợi cảm.

        – Cảm nhận một cách tinh tế cái chớm lạnh của buổi sáng mùa thu, cái xao xác của gió heo may trên những phố dài – một nét đặc trưng của phố phường Hà Nội.

        – Trên nền không gian ấy, nhà thơ đã ghi lại thật sống động tâm trạng của những chàng trai Hà Nội khi phải rời thành phố thân yêu ra đi, dứt khoát nhưng cũng đầy lưu luyến.

        – Con người, cảnh vật hiện lên trong bức tranh vừa có hình khối, đường nét, vừa màu sắc, ánh sáng, tạo được ấn tượng sâu đậm, chất chứa những tâm trạng, nỗi niềm.

        – Mùa thu Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn. Chỉ bằng vài nét phác hoạ, khổ thơ đã gợi lên được thần thái, cái hồn của mùa thu Hà Nội và cả tâm trạng người ra đi năm xưa: Đẹp một cách hiu hắt, vắng lặng và phảng phất nỗi buồn.

        c) Có thể nói, đây là những câu thơ hay nhất, đẹp nhất của bài thơ và cũng là khổ thơ hay viết về Hà Nội. Chỉ qua bốn câu thơ, Nguyễn Đình Thi đã bộc lộ mình là một người nghệ sĩ đa tài về thơ, hoạ và nhạc.

        Nguồn: chúng tôi

        Bạn đang xem bài viết Gs. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!