Xem Nhiều 12/2022 #️ Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

5

/

5

(

3

bình chọn

)

Thơ lục bát là một trong những thể thơ cổ từ ngàn đời xưa.Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu về thể thơ này là tìm hiểu về luật và vần của nó. Hôm nay tôi xin chia sẻ bài hướng dẫn cách làm thơ lục bát đúng nghiêm luật cổ đến các bạn!

Cách làm thơ lục bát

Luật thanh trong thơ lục bát

Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau: Câu lục: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng Câu bát: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

Ví dụ:

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân B – T – B Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều B-T-B-B

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể. Ví dụ:

Có sáo thì sáo nước trong T-T-B

Đừng sáo nước đục đau lòng cò con T-T-B-B

hay:

Con cò lặn lội bờ sông          B-T-B Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-B

Cách gieo vần trong thơ lục bát

Thơ lục bát cí cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thiw lụch bát tính linh hoạt về vần. Cách gieo vần: Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát kế nó. Và tiếng thứ tám câu bát đó lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp. Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ lục bát biến thể vẫn gieo vần như vậy, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó. Ví dụ:

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) cảu câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

Ví dụ:

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát

Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3. Nhịp thơ giúp người đọc và người nghe cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn.

Cách Làm Thơ Lục Bát / 2023

Bạn đang quan tâm tới cách để có thể tự học & làm thơ lục bát. Chỉ cần đọc hết bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thể thơ lục bát nổi tiếng của Việt Nam. Cách gieo vần, có những luật thanh như thế nào? Từ đó tự mình có thể sáng tác ra những đoạn thơ, gieo vần với từng con chữ…

Thơ Lục Bát Là Gì?

Theo tiếng Hán, Lục = 6 (sau âm tiết một câu), Bát = 8 (8 âm tiết một câu). Từ đó ghép lại tại thành thể thơ lục bát.

Thể thơ lục bát (六八) là một thể thơ của Việt Nam, đúng như tên gọi, một cặp câu thơ cơ bản gồm một câu 6 âm tiết và 1 câu 8 âm tiết, phối vần với nhau. Một bài thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành không hạn chế số câu.

Niêm, luật, vần của thể thơ lục bát?

Các tiếng mang thanh huyền và thanh ngang được gọi là thanh bằng; mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng được gọi là thanh trắc. Quy tắc cơ bản của cặp câu lục bát là các tiếng thứ 2, 6, 8 mang thanh bằng, tiếng thứ 4 mang thanh trắc, còn lại có thể tùy ý. Đuôi câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, đuôi câu bát vần với đuôi câu lục sau. Nếu tiếng thứ sáu của câu bát là thanh ngang (dương bình) thì tiếng thứ 8 phải là thanh huyền (âm bình) và ngược lại.

Vần của thơ lục bát cũng giống như vần trong thơ nói chung, bao gồm hai loại là vần chính (giống nhau phụ âm cuối, khác phụ âm đầu) và vần thông (âm na ná nhau).

Ví dụ câu 3241-3244 trong truyện Kiều:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Các biến thể của thơ lục bát?

Biến thể lục bát rất đa dạng, có thể chia làm ba loại là sai khác về số âm tiết, về niêm luật và về vần hoặc tổ hợp của 2, ba loại trên.

Ví dụ sai khac số âm tiết: Câu thơ của Hồ chủ tịch thừa một tiếng ở câu bát.

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.

Ví dụ về sai khác niêm luật: Câu ca dao có âm tiết thứ 2 và thứ 4 sai luật bằng-trắc

Lươn ngắn lại chê trạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.

Ví dụ về sai khác phối vần: Hình thức phối vần ở đuôi câu sáu và giữa câu 8 khá phổ biến.

Con vua thì được làm vua

Con sãi ở chùa, thì quét lá đa.

Cách làm thơ lục bát, tìm hiểu về cách gieo vần?

Luật thanh

Hai câu lục và câu bát là không thể thiếu để có thể tạo nên một bài thơ lục bát chuẩn chỉnh. Giống thể thơ Đường luật nó rất cần được được tuân hành luật thanh giống như sau: nhất, tam, ngũ bất bàn luận, nhị, tứ, lục phân minh.

Trong các số đó các tiếng thứ một, ba và năm có thể là những tiếng chính còn tiếng thứ hai, bốn, sáu phải làm theo quy tắc. Quy luật: Tại câu lục: ta gieo theo trình tự những tiếng hai – bốn – sáu là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng Tại câu bát: ta gieo theo trình tự các tiếng hai – bốn – sáu – tám là Bằng -Trắc -Bằng -Bằng (BTBB).

Ví dụ:

Tháng ba nhớ người quân nhân  Bằng – Trắc – Bằng Ruột đau như cắt, thương thân chiều buồn Bằng -Trắc -Bằng -Bằng

Quy tắc

 về gieo vần

Mẹo gieo vần của thể thơ này khác hoàn toàn so với những thể thơ khác. Ta rất dễ dàng gieo nhiều vần trong câu chứ không nhất thiết là chỉ được gieo một vần duy nhất.

Đây được cho là một trong những phần linh hoạt của thể thơ này, không trở nên đặt nặng chủ đề gieo vần mà còn làm bài thơ hay hơn và rất dễ nghe hơn.

Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):

Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trong thể thơ biến thể vẫn gieo vần như thế, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục bên trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.

Hướng dẫn

 ngắt nhịp

Thơ phổ biến được ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng thỉnh thoảng để nhấn mạnh nên người đọc đổi thành nhịp lẻ là 3/3.

Mẹo đơn giản để làm thơ lục bát

Bước 1 – Phương pháp Gieo Vần – Chữ: Mẹo Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, & bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu).

Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận.

Bước 2 – Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách sử dụng mẫu tự & viết tắt giống như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

Câu 6: B B T T B B Câu 8: B B T T B B T B

Ví dụ: (Kiều)

Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

Bước 3 – Thanh: Thanh bao gồm Trầm Bình Thanh & Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là các tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng… Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau…

Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ắng và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, & trái lại.

Ví dụ: Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. (Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh). Các điều trông thấy mà cực khổ lòng. (Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

Bước 4 – Phá Luật: Phá Luật – nhiều lúc bọn họ gặp người sử dụng thơ like phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như tầm thường lệ. Câu 6 cũng rất được ngắt ra sử dụng hai vế.

Tổng hợp các bài thơ lục bát hay nhất

Hạ Về Nhớ Anh

Chiều nay nhìn phượng đỏ cây Ngoài hiên gió thoảng lắt lay bên thềm Ve ngân bất chợt lặng im Tim nghe giá buốt rũ mềm mi cay

Sao anh không đến chốn này Cho em hờ hững vòng tay dại khờ Anh đừng nhốt gió vào thơ Chua cay em cứ thẫn thờ đan xen

Thơ say đem ủ thành men Ngu ngơ uống cạn đời đen mất rồi Ngoài kia phượng đỏ rực trời Lao xao tim cứ bồi hồi quặn đau (Hoàng Mai)

Biết

Biết anh đã có vợ nhà Biết mình không thể yêu mà vẫn yêu Biết lòng rồi khổ đau nhiều Biết ngang trái đó vẫn liều nhớ nhung

Biết vô duyên thế là cùng Biết có son sắt cũng chung chồng người Biết tình qua phút si mê Biết nhau bởi những hẹn thề vu vơ

Biết sầu rối nhịp đường tơ Biết sau say đắm mộng mơ sẽ tàn Biết mưa có tạnh, trời quang Biết chắc chắn bão lại tràn qua tim

Biết càng yêu, luỵ từng đêm Biết càng nhớ sẽ càng thêm đoạ đày Biết không đi trọn ngày mai Biết trăm năm chỉ ván bài… em thua! (Trường Phi Bảo)

Giấc Mơ Hoa

Đêm qua trong giấc mộng vàng Bóng anh nhẹ lướt nhẹ nhàng giấc say Chúng mình tay lại cầm tay Mắt môi chờ đợi bao ngày dấu yêu

Đan tay đi giữa rừng chiều Heo may lạnh buốt đìu hiu nắng tàn Giật mình nuối giấc mơ tan Ngoài kia nắng đã ươm vàng rồi anh (Hoàng Mai)

Bài Quê Hương – Nguyễn Đình Huân Quê hương là một tiếng ve Lời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơi Quê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơ Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diều Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quê Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa Quê hương là một tiếng gà Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng Quê hương là cánh đồng vàng Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều Quê hương là dáng mẹ yêu Áo nâu nón lá liêu siêu đi về Quê hương nhắc tới nhớ ghê Ai đi xa cũng mong về chốn xưa Quê hương là những cơn mưa Quê hương là những hàng dừa ven kinh Quê hương mang nặng nghĩa tình Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời Quê hương ta đó là nơi Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

Bài Quê Hương Nỗi Nhớ – Hoàng Thanh Tâm Trở về tìm mái nhà quê Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho Tìm đàn trâu với con đò Áo bà ba mẹ câu hò trên sông Nón lá nghiêng nắng nước ròng Miền quê khó nhọc con còng con cua Lục bình tim tím mùa mưa Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo Khói lên cháy bếp nhà nghèo Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi Heo gà chạy ngược chạy xuôi Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê Cánh cò trắng xóa vọng về Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên Đậm đà ký ức giao duyên Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao Con dù biền biệt phương nào Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Bài Thơ Lục Bát Miền Quê – Đức Trung Tôi thầm nhớ một miền quê Ước mơ thăm lại trở về tuổi thơ Đồng xanh bay lả cánh cò Hương sen tỏa ngát mộng mơ những chiều Vi vu gió thổi sáo diều Bóng ai như bóng mẹ yêu đang chờ? Dòng sông, bến nước, con đò Có người lữ khách bên bờ dừng chân Xa xa vẳng tiếng chuông ngân Bờ tre cuối xóm trong ngần tiếng chim Tuổi thơ thích chạy trốn tìm Cây đa giếng nước còn in trăng thề Xa rồi nhớ mãi miền quê Trong tim luôn nhắc trở về ngày xưa…

Nguồn bài viết: cách làm thơ lục bát

Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát / 2023

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

– Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

– Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

– Hài thanh:

+ Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

Ví dụ:

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

+ Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

Ví dụ:

(Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

Cách gieo vần thơ lục bát

Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

+ Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

“Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

+ Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

“Nhện – quện” là vần trắc.

+ Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

+ Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

“Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

+ Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

+ Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

+ Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

+ Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

+ Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

– Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

– Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

– Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

– Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

Các thể ngũ ngôn đường luật

– Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

– Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

– Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

– Vần: 1 vần, gieo vần cách

– Nhịp lẻ: 2/3

– Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

Các thể thất ngôn đường luật

Gồm:

Thất ngôn tứ tuyệt

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

– Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

– Nhịp: 4/3

Thất ngôn bát cú

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

– Vần: vần chân, độc vận

– Nhịp: 4/3

Hướng Dẫn Cách Làm Đề Văn Phân Tích Bài Thơ Sóng Khổ 1 2 / 2023

Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn luôn luôn khao khát niềm vui, hạnh phúc và bởi vậy, Xuân Quỳnh được mệnh danh là nhà thơ của tình yêu. Trong quá trình phân tích bài thơ sóng khổ 1 2, ta sẽ thấy rõ được tâm hồn khao khát yêu đương, một tình yêu vừa hồn nhiên vừa chân thật lại mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim phụ nữ. Sóng là một trong những bài thơ nổi bật trong mảng thơ đặc sắc của Xuân Quỳnh về tình yêu và về trẻ thơ.

Mở đầu bài thơ là những trạng thái cảm xúc phong phú, phức tạp của “sóng”. Cụ thể, hình tượng sóng hiện lên với cặp tính từ chỉ trạng thái tương phản với sự luân phiên bằng – trắc: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ.

Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ

Những con sóng biển muôn đời vẫn thế, khi dữ dội, ồn ào, trào dâng, có thể làm lật thuyền, đắm tàu, có thể làm xô bờ, phá phách, cuốn trôi đi tất cả những gì nó muốn. Nhưng cũng có lúc, con sóng lại lắng xuống dịu êm, hiền hòa. Khi viết đề văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu của bài sóng, học sinh cần đặc biệt chú ý phân tich rõ sự đối lập này. Cụ thể, hai câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ nhất đã gợi tả trạng thái đối cực, nhiều cung bậc tự nhiên nhưng thống nhất trong đời sống thường nhật của con sóng.

Tâm trạng bất thường của sóng cũng chính là sự ẩn dụ cho tình yêu mà cụ thể ở đây là tính khí của người con gái đang yêu. Có khi họ nổi giông tố ồn ào, mạnh mẽ. Có lúc họ dịu dàng, đằm thắm, thiết tha. Sự mâu thuẫn và thống nhất đó phải chăng là một quy luật của tự nhiên và trái tim? Trong quá trình phân tích bài thơ sóng khổ 1 2, Xuân Quỳnh tinh tế nhận ra bên trong cái dữ dội, ồn ào, giông bão của tình yêu là chiều sâu thăm thẳm của dịu êm, hiền hòa. Đó là căn cốt, là điểm về của vẻ đẹp người phụ nữ.

Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

Mỗi con sóng nhỏ lại chất chứa trong mình khát vọng lớn lao nên nó không cam chịu gò bó trong khuôn khổ chật hẹp, tù túng. Luận điểm thứ 2 của dàn ý khổ 1 2 bài sóng, học sinh cần phân tích được khát vọng bung mình của sóng, hay cũng chính là “em”

Vì thế, nữ sĩ mong muốn tìm ra đại dương để được sống thành thật là mình. Đứng trước biển, người ta hay nghĩ tới không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Trong hai câu cuối khổ thơ thứ nhất, nghệ thuật nhân hóa đã được nhà thơ Xuân Quỳnh sử dụng làm nổi bật lên hình ảnh người con gái có ý thức vẫy vùng khỏi nơi sông chật hẹp, thể hiện khát vọng khám phá chính mình.

2, phân tích bài thơ sóng khổ 1 2 – Sóng gợi nhận thức về khát vọng tình yêu lứa đôi

Hình tượng sóng đã gợi nhận thức về khát vọng tình yêu trong “em”. Ở những khổ thơ tiếp theo, hai hình tượng này sóng đôi, hòa quyện, lúc ẩn lúc hiện, soi chiếu vào nhau cùng diễn tả các cung bậc cảm xúc của một trái tim đang yêu

Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ

Gợi ý viết đề cảm nhận khổ 3 và 4 bài sóng: Sóng là vĩnh hằng với thời gian. Từ ngày xưa cho tới ngày sau, từ quá khứ cho tới hiện tại và tương lai, nếu quy luật của những con sóng là vẫn mải miết vỗ bờ suốt đêm ngày không nghỉ thì quy luật của tình yêu là luôn cháy lên những đam mê, rạo rực, khao khát trong trái tim tuổi trẻ muôn đời.

Hai khổ thơ đầu tiên đã khắc họa hình tượng sóng với rất nhiều những trạng thái tương phản nhưng thống nhất. Sóng là hình ảnh ẩn dụ cho khát vọng tình yêu. Tình yêu cũng có nhiều sắc thái, khi đằm thắm thiết tha, lúc giận hờn vô cớ, khi lặng lẽ êm đềm, lúc lại cồn cào bão tố như con sóng giữa lòng biển khơi. Bởi thế, trong bài phân tích bài thơ sóng khổ 1 2 phải nêu bật lên được ẩn dụ và những cung bậc đối lập của tình yêu.

Nguồn: chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!