Xem Nhiều 12/2022 #️ Kể Chuyện: Bàn Chân Kì Diệu Trang 107 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 1 / 2023 # Top 21 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Kể Chuyện: Bàn Chân Kì Diệu Trang 107 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 1 / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kể Chuyện: Bàn Chân Kì Diệu Trang 107 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 1 / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ca ngợi tấm gương giàu nghị lực của Nguyễn Ngọc Ký. Tuy bị bại liệt hai cánh tay nhưng kiên trì, vượt khó, có ý chí vươn lên nên đã đạt được điều mình mong ước.

Bài 1

Gợi ý:

Con quan sát từng bức tranh và dựa vào phần gợi ý để kể câu chuyện.

Trả lời:

Tranh 1: Kí bị liệt hai cánh tay từ nhỏ. Thấy các bạn được cắp sách đến trường, Ký thèm lắm. Em quyết định đến lớp xin vào học.

Tranh 2: Khi biết được hoàn cảnh và tình trạng đôi bàn tay của Ký, cô giáo Cương không dám nhận em vào học.

Tranh 3: Mấy hôm sau cô giáo tới thăm Ký, nhìn thấy em đang ngồi trong sân dùng chân hí hoáy tập viết, hình ảnh ấy khiến cô giáo vô cùng ngạc nhiên và xúc động.

Tranh 4: Thế rồi, Ký lại đến lớp và lần này em được nhận vào học.

Tranh 5: Cô giáo Cương sắp xếp cho Ký một chiếc chiếu cuối lớp để ngồi học, kẹp bút vào ngón chân để tập viết trên trang giấy.Những ngày đầu gặp bao nhiêu là khó khăn khi thì cây bút không chịu nghe lời, lúc thì trang giấy nhàu nát, khi thì mực bê bết,… có khi luyện viết nhiều quá, mỏi cơ Ký bị chuột rút. Có lúc em cũng nản lòng muốn bỏ cuộc, nhưng nhờ có cô giáo Cương và bạn bè bên cạnh động viên, giúp đỡ Ký lại cố gắng, kiên trì, ngày mưa cũng như ngày nắng luôn chuyên cần đến lớp

Tranh 6: Nhờ luyện tập kiên trì, Ký đã thành công. Hết lớp Một, Ký đã đuổi kịp các bạn. Chữ Ký viết ngày một đều hơn, đẹp hơn. Có lần Ký được 8 điểm, 9 điểm rồi 10 điểm về môn Tập viết. Bao năm khổ công, thế rồi Ký thi đại học, trở thành sinh viên Trường Đại học Tổng hợp.

Nguyễn Ngọc Ký là tấm gương sáng về ý chí vượt khó. Ngày Bác Hồ còn sống, đã hai lần gởi tặng huy hiệu của Người cho cậu học trò dũng cảm giàu nghị lực ấy. 

Kể Lại Truyện Bàn Chân Kì Diệu / 2023

Đề bài: Em hay ke lai truyen Ban chan ki dieu – Bài viết của một học sinh trường Tiểu Học Chương Xá hay nhất do chúng tôi chọn lọc kể lại truyện Bàn chân kì diệu – văn mẫu lớp 4

Mở bài: Giới thiệu về truyện Bàn chân kì diệu

Ở một làng quê nọ có một cậu bé tên là Nguyễn Ngọc Kí, vì nhà nghèo lại khuyết tật về thân thể nên cậu bé không được đi học. Nhưng hơn bất cứ bạn bè cùng trang lứa nào, Nguyễn Ngọc kí vô cùng đam mê, mong muốn được đi học. Một ngày nọ, Nguyễn Ngọc Kí đến lớp học của cô giáo Cương, thấy ở cửa có một cậu bé đang thập thò, cô giáo đã dừng giảng và đi lại bên Kí, cô ân cần hỏi em “Em tìm cô muốn hỏi gì đúng không?”, được cô giáo mở lời, Nguyễn Ngọc Kí đã mạnh dạn nói ra mong muốn của mình “Em muốn được đi học, nhưng em không thể cầm bút”.

Thân bài: Kể lại truyện Bàn chân kì diệu

Nhà của kí rất nghèo, em cũng không có bút nên em kẹp viên gạch vào hai ngón chân và tập viết những nét nguệch ngoạc trên nền đất, hình ảnh ấy khiến cho cô Cương thấy cay khóe mắt. Cô thấy được ở Nguyễn Ngọc Kí sự kiên cường, nỗ lực vô cùng phi thường. Vậy là cô đã lấy giấy bút mang theo bên người tặng cho Kí và giúp Kí tập viết. Khi mới bắt đầu tập viết, những nét bút nghệch ra làm rách tờ giấy, rồi khi làm nhoen mực ra khắp tờ giấy. Kí tuy có buồn nhưng không hề bỏ cuộc mà vẫn miệt mài, kiên trì tập viết. Dù Kí không thích hợp đến lớp nhưng hàng ngày cô Cương vẫn đến nhà và giúp Kí giúp em học.

Kết bài: Bài văn kể lại truyện Bàn chân kì diệu

TỪ KHÓA TÌM KIẾM ĐÔI CHÂN KÌ DIỆU DOI CHAN KI DIEU CÂU CHUYỆN ĐÔI CHÂN KÌ DIỆU ĐÔI CHÂN KÌ DIỆU CỦA NGUYỄN NGỌC KÍ NGUYỄN NGỌC KÍ Theo chúng tôi

Thật là phi thường, dưới sự nỗ lực không ngừng của Kí thì em đã viết vô cùng lưu loát, em có thể dùng chân để viết nên những dòng chữ mà những người bình thường cũng chưa chắc đã làm được. Tuy nhiên, đó không phải là một quá trình dễ dàng với Nguyễn Ngọc Kí, trước khi chạm đến được thành công thì em đã trải qua rất nhiều thử thách, khó khăn. Chính sự vươn lên không ngừng cùng ý chí kiên cường đã đưa Nguyễn Ngọc Kí chạm tay đến thành công.

Bài 12: Treo Biển (Trang 77 Sgk Ngữ Văn 6 Vnen) / 2023

1. Kể tên một số truyện cười mà em đã đươc nghe, được học. Kể lại một trong số các truyện cười đó.

Trả lời:

– Một số truyện cười em biết: Thầy bói xem voi, Thừa một miếng, Tết quan, Thách cưới, Lợn cưới áo mới, …

– Truyện Thừa một miếng:

Có bốn ông cùng đi ăn cỗ cưới. Cỗ nhà người ta có giò, nem, ninh, mọc. Trời tối rồi mà không có thêm khách. Nhà chủ đành phải châm đèn ba giây rồi mời bốn ông vào ngồi mâm, mặc dù cỗ đã đóng năm…

Những món ăn khác thì không kể đến, nhưng giò lụa thì chia năm nên chắc chắn thừa một miếng

Một ông nghĩ thầm trong bụng:

– Giá như trời nổi gió tắt đèn, mình sẽ chén một miếng, như thế vẫn còn bốn miếng vừa bốn người.

Cầu sao được ước thấy. Một cơn gió lộng làm đèn tắt thật. Quanh mâm cỗ, ai nấy đều im như tờ không thấy ai giục nhà chủ mau châm đèn. Đến khi nhà chủ châm được đèn lên thì cả bốn ông nhìn thấy đĩa giò chỉ còn một miếng khiến ai cũng bàng hoàng.

2. Theo em mục đích của truyện cười là gì? Tại sao truyện cười lại khiến mọi người thấy thích thú.

Trả lời:

– Mục đích của truyện cười là:

+ Tạo ra tiếng cười

+ Nhằm đả kích, phê phán những thói hư tậ xấu trong xã hội.

– Truyện cười làm cho mọi người cảm thấy thích thú là vì mục đích gây tiếng cười của nó, nó phản ánh các thói xấu và truyền đạt cho con người bài học ý nghĩa.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

2. Tìm hiểu văn bản.

(1) Trong truyện Treo biển, nhân vật nào khiến người khác chê cười?

(2) Nhân vật bị chê cười vì lý do gì?

(3) Trong truyện, chi tiết nào gây cười rõ nét nhất?

(4) Qua truyện cười treo biển, tác giả dân gian muốn khuyên nhủ chúng ta điều gì?

Trả lời:

(1) Nhân vật bị chê cười là người chủ cửa hàng bán cá.

(2) Nhân vật bị chê cười vì không có chính kiến, vòng vo và có một kết quả nực cười.

(3) Chi tiết gây cười rõ rệt nhất đó chính là chủ cửa hàng nghe thấy ai nói cũng có lý và cuối cùng cất luôn cái biển hiệu.

(4) Tác giả dân gian muốn khuyên nhủ chúng ta cần phải có chủ kiến và biết suy xét mọi vấn đề dưới cái nhìn tổng quát chứ không nên vội vàng tin người khác.

b. Qua việc tìm hiểu truyện Treo biển, em hãy cho biết: Thế nào là truyện cười (Mục đích, đối tượng, nghệ thuật gây cười,.. )?

Trả lời:

Truyện cười là truyện kể về các hiện tượng đáng cười trong cuộc sống thường ngày, có mục đích tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán các thói hư, tật xấu trong xã hội.

3. Tìm hiểu về số từ và lượng từ

a1. […] Chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe khoang, đang tất tưởi chạy đến…

a2. Hai chàng tâu đồ hỏi sính lễ cần chuẩn bị những gì, nhà vua đáp: ” Một trăm ván cơm nếp, một trăm tệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

a3. Tục truyền dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng gióng có hai vợ chồng ông lão rất chịu khó làm ăn và có tiếng phúc đức.

(1). Viết vào ô trống các số từ dùng để chỉ từ chỉ số lượng hay thứ tự trong các câu trên:

Trả lời:

(2). Điền từ ngữ phù hợp vào chỗ trống để nắm vững các đặc điểm (về ý nghĩa và vị trí) của số từ:

– Về ý nghĩa: Số từ là các từ chỉ………………

– Về vị trí trong cụm từ: Số từ chỉ số lượng thường hay đứng……… danh từ; số từ chỉ thứ tự thường đứng………… danh từ.

Trả lời:

– Về ý nghĩa: Số từ là các từ chỉ số lượng hay thứ tự của sự vật.

– Về vị trí trong cụm từ: Số từ chỉ số lượng thường đứng trước danh từ; số từ chỉ thứ tự thường đứng sau danh từ.

b. Đọc câu và đoạn trích sau đây, chú ý các từ được in đậm:

– Vài hôm sau, người hàng xóm sang chơi, nhìn thấy cái biển, nói: …

– Các hoàng tử phải cởi giáp xin đầu hàng. Thạch Sanh sai quân dọn một bữa cơm để thiết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho mang ra vẻn vẹn một cái niêu cơm tí xíu, nên bĩu môi không muốn cầm đũa.

– vài, mấy, dăm, những, các, mươi,….

– nghìn, trăm, triệu,…

– đống, tá, khối, chục,…

Trả lời:

Tập hợp trên đều là lượng từ vì đều để chỉ lượng nhiều hay ít của sự vật.

4. Tìm hiểu về các cách thức, đặc điểm kể chuyện tưởng tượng.

a. Xem lại truyện: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng (hoạt động tìm tòi mở rộng, bài 11) và cho biết: Trong truyện, những chi tiết nào dựa trên việc có thật, những chi tiết nào là tưởng tượng ra?

Trả lời:

– Chi tiết tưởng tượng: Các bộ phận Tai, Mắt, Chân, Miệng, Tay có tên riêng, có nhà riêng, biết suy nghĩ, biết nói chuyện, có hành động và có cảm xúc giống con người: so bì, tỵ nạnh, phản đối, biết nhận lỗi.

– Chi tiết có thật:

+ Tất cả đều là các bộ phận trên thân thể con người. Mỗi một bộ phận đều có chức năng riêng, vai trò riêng và đều quan trọng như nhau.

+ Nếu các bộ phận ko làm các công việc của mình thì miệng ko có cái để ăn dẫn đến việc tất cả mệt mỏi rã rời.

b. Cho biết các tình huống sau đây, tình huống nào dựa vào việc có thật, tình huống nào cần được kể lại theo cách thức kể chuyện tưởng tượng?

– Một đêm nằm mộng, em vươn vai bỗng nhiên trở thành Thánh Gióng.

– Tưởng tượng cuộc đọ sức giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh trong điều kiện ngày nay.

– Chuyện cô Tấm luôn được ông Bụt hiện lên để giúp đỡ.

– Một người bạn tốt không may bị bà phù thủy hô biến thành cá.

Trả lời:

Đánh số các tình huống theo thứ tự là (1), (2), (3), (4), ta thấy:

– Tình huống dựa vào sự thật là: (2)

– Chi tiết nào cần được kể lại theo cách thức kể của chuyện tưởng tượng: (1), (3), (4)

c. Xem lại các truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, Chân, Tay, tai, Mắt, Miệng,... và cho biết: Muốn kể một câu chuyện tưởng tượng hấp dẫn, em cần phải làm gì?

Trả lời:

Điều kiện để có thể kể một câu chuyện tưởng tượng hấp dẫn hơn:

– Trí tưởng tượng phong phú phù hợp với mức độ phong phú của câu chuyện.

– Câu chuyện cần có tính sáng tạo dựa trên các chi tiết có thật, hợp lý, thú vị.

C. Hoạt động luyện tập

1. Thi kể chuyện cười.

… Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi….. là nhịp cánh…

Trả lời:

3. Luyện tập kể chuyện tưởng tượng.

Dựa vào những tình huống kể chuyện tưởng tượng vừa được nêu ra ở Hoạt động hình thành kiến thức câu 4, mục b, em hãy tự ra đề văn kể chuyện tưởng tượng, sau đó lập dàn ý cho đề văn đó.

Trả lời:

Lập dàn ý cho đề văn: Một đêm nằm mộng em vươn vai bỗng trở thành Thánh Gióng.

Mở bài: Em giật mình tỉnh giấc và thấy mình vẫn là một đứa trẻ, nỗi bàng hoàng ùa về trong tâm trí em.

Thân bài:

– Em nhớ lại buổi tối hôm trước em đã làm gì trước khi đi ngủ.

– Bối cảnh khi em đang trong giấc mơ: Em là một tráng sĩ có thân hình cao lớn, mặc giáp sắt, cưỡi trên lưng con ngựa sắt, cầm roi sắt. Trong em cảm nhận như có một sức mạnh vô biên, có thể thúc được con ngựa sắt lao vào chiến trận.

– Em nhận ra rằng mình đã biến thành Thánh Gióng, trước mặt em là cả một đội quân hùng hậu, đó là những tên giặc Ân đang muốn cướp nước.

– Lòng yêu nước dâng lên trong em mãnh liệt, em lao vào chiến trận, cầm roi sắt quật vào quân giặc, quân giặc cứ ngả dần ngả dần. Bỗng nhiên roi sắt gãy, em nhìn thấy cụm tre bên đường, em nhổ tre và quật tới tấp vào giặc, quân giặc tan tác chạy về.

– Bỗng đâu có tiếng gọi văng vẳng bên tai: “Mạnh ơi dậy đi con! “. Em bừng mở mắt, thì ra đó là chỉ là một giấc mơ.

Kết bài: Dù chỉ là giấc mơ nhưng em đã được hóa thân vào nhân vật Thánh Gióng, người anh hùng trong truyền thuyết của dân tộc, đó cũng là điều khiến em cảm thấy hào hứng vô cùng.

4. Luyện tập viết bài văn kể về chuyện đời thường.

Chọn và thực hiện các một trong các đề văn sau:

a. Hằng ngày em được chứng kiến hoặc được kể cho nghe rất nhiều chuyện người thật việc thật. hãy kể lại một trong số các câu chuyện mà em được nghe hoặc biết.

b. Kể về một kỉ niệm đáng nhớ. (gặp may, gặp rủi, được khen, bị chê, bị hiểu nhầm,… )

c. Kể về một cuộc gặp gỡ (gặp một người thân, đến thăm các chú bộ đội, gặp một bạn học sinh nhà nghèo vượt khó,… )

Trả lời:

Chọn đề c: Kể về cuộc gặp gỡ một người thân.

Tết sắp đến, gia đình em cũng như những gia đình khác đang tấp nập chuẩn bị dọn dẹp nhà cửa, mua lá dong làm bánh chưng… chuẩn bị đón năm mới. Nghe bố em nói năm nay chú Hới đang sống trong Nam sẽ về quê ăn tết. Hai năm chú Hới mới về quê một lần, ai cũng mong chú về. Ngày Tết Ông Táo 23 tháng Chạp, cả nhà đang chuẩn bị làm lễ cúng thì chú đứng ngoài cổng gọi vào.

Nhìn thấy chú với những túi đồ cồng kềnh trên tay ai cũng ngạc nhiên vì chú về sớm hơn so dự kiến. Bà nội nghe thấy tiếng chú gọi thì rất vui mừng, bà em chạy thật nhanh ra đón chú với niềm xúc động, bà cười trong sự mừng rỡ. Bố mẹ em cũng thấy rất bất ngờ, và cả em cũng vậy. Cả nhà đang dở việc nhưng ai cũng dừng tay để đón chú vào nhà. Chú ở xa đã lâu, lần nào chú về em cũng rất xúc động. Chú rất thương và quan tâm em, cứ mỗi lần về là chú lại tặng em một phong bao lì xì, chú cũng dẫn em đi mua quà và đồ chơi. Em reo lên và chạy ra ôm chú, chú thấy em liền cười và nói: “Chà, con bé đã lớn thế này rồi đấy! “. Em mừng lắm, chú vẫn hiền hậu và vui tính như ngày nào.

Cả nhà cùng đi vào trong, bố em xách bớt đồ cho chú, hỏi han tình hình sức khỏe và công việc. Bà nội em thì vui mừng vì năm nay cả nhà đoàn tụ đông đủ để cùng đón tết. Bà vội đi chuẩn bị các thứ để đón con về. Chú đi đường xa cũng khá mệt, xếp đồ vào nhà gọn rồi chú ngồi nghỉ ngơi. Sau khi bà và bố mẹ làm lễ cúng xong thì cả nhà cùng quây quần bên mâm cơm ấm cúng.

Cuộc gặp gỡ, chào đón chú Hới về nhà thật là xúc động và bất ngờ khiến em vẫn rất ấn tượng và nhớ mãi.

D. Hoạt động vận dụng

Trả lời:

2*. Cho đề văn sau: Hãy tưởng tượng và kể lại một câu chuyện mười năm sau em quay trở về thăm ngôi trường Tiểu học hay trường Trung học cơ sở của mình.

Viết một đoạn văn tưởng tượng theo đề văn cho trên, trong đó có dùng số từ và lượng từ. Gạch chân dưới lượng từ và số từ trong bài.

Trả lời:

Sau bao biến cố thăng trầm trong cuộc sống, tôi đã trở thành một nhà biên kịch, tuy chưa nổi danh nhưng được làm công việc mình yêu thích và có thu nhập đủ trang trải cho cuộc sống với tôi như vậy là hạnh phúc rồi. Nay có dịp trở về ngôi trường cũ. Hôm đó là ngày chủ nhật nên ngôi trường cũng yên ắng hơn ngày thường. Nhìn cây xà cừ, cây bàng, cây phượng vĩ không thấy chúng lớn thêm bao nhiêu, chúng vẫn cứ đứng lặng im một chỗ như trước đây. Bao nhiêu kỷ niệm thời học trò lại ùa về, tâm trí tôi tràn ngập những tiếng cười nói rộn ràng của những người bạn ngày xưa, những bài giảng bổ ích của thầy cô… Sân trường ngày chủ nhật thật là vắng, nhìn xung quanh tôi thấy một người đàn ông. Đó là bác bảo vệ, bác đã làm ở đây từ khi tôi còn cắp sách đến trường. Sau nhiều năm, dáng người bác vẫn gầy gầy như thế, làn da ngăm đen và tiếng nói vẫn nhẹ nhàng. Nhưng giờ đây, trên gương mặt bác đã hằn những nếp nhăn, mái tóc cũng đã lấm tấm bạc. Ôi mái trường thân yêu của tôi, bao ngày tôi mới được trở về nơi đây, thật xúc động quá.

– Số từ: một, mười

– Lượng từ: Những, các

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

1. Hỏi người thân: Chủ kiến là gì? Tại sao cần giữ chủ kiến của bản thân khi nghe người khác góp ý?

Trả lời:

– Chủ kiến là ý kiến của bản thân.

– Cần giữ chủ kiến của bản thân khi nghe người khác góp ý là vì đó là ý kiến độc lập của mình, đó là lập trường của mình và thể hiện bản thân mình là khác biệt với người khác.

– Đẽo cày giữa đường

– Lợn cưới, áo mớiBài trước: Bài 11: Cụm danh từ (trang 72 sgk Ngữ văn 6 VNEN)Bài tiếp: Bài 13: Ôn tập truyện dân gian (trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

Soạn Bài Lượm Trang 72 Sgk Văn 6 / 2023

Câu 1: Bài thơ Lượm của Tố Hữu kể và tả về Lượm qua những sự việc nào, bằng lời của ai? Dựa theo trình tự kể ấy em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Câu 1: Bài thơ Lượm của Tố Hữu kể và tả về Lượm qua những sự việc nào, bằng lời của ai? Dựa theo trình tự kể ấy em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Trả lời:

Bài thơ kể và tả về Lượm qua hồi tưởng, tưởng tượng của tác giả. Trong không khí tang thương và chết chóc của những ngày đổ máu ở Huế, người chú tình cờ gặp cháu – chú bé Lượm nhỏ tuổi, dễ thương, lạc quan trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.

-   Lượm đã vượt bao khó khăn, nguy hiểm để làm nhiệm vụ và đã hi sinh trên cánh đồng lúa quê hương.

*  Bố cục của bài thơ: ba đoạn:

Câu 2: Hình ảnh Lượm trong trong đoạn thơ từ khổ thứ hai đến khổ thứ năm dã được miêu tả như thế nào qua cái nhìn của người kể (trang phục, hình dáng, cử chỉ, lời nói)? Sự miêu tả đã làm nổi bật ở hình ảnh Lượm những nét gì đáng yêu, đáng mến?

Các yếu tố nghệ thuật như từ láy, vần, nhịp, so sánh trong đoạn thơ đã có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện hình ảnh Lượm?

Trả lời:                                                                                

Hình ảnh Lượm được thể hiện từ khổ hai đến khổ năm được miêu tả sinh động và rõ nét qua các chi tiết nghệ thuật:       

-   Hình dáng: Cái sắc xinh xinh, Ca lô đội lệch. Trang phục của Lượm giống như trang phục của các chiến sĩ vệ quốc thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng Lượm còn rất bé nên cái sắc bên mình chỉ “ xinh xinh Còn chiếc mũ ca lô thì đội lệch thể hiện một dáng vẻ hiên ngang và hiếu động của tuổi trẻ.

-    Dáng điệu: loắt choắt nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn và tinh nghịch (Cái chân thoăn thoắt, Cái đầu nghênh nghênh).

-   Cử chỉ: rất nhanh nhẹn (Như con chim chích), hồn nhiên, yêu đời (huýt sáo, cười híp mí).

-   Lời nói: tự nhiên, chân thật (Cháu đi liên lạc, Vui lắm chú à, ở đồn Mang cá thích hơn ở nhà!).

*   Các yếu tố nghệ thuật như từ láy (loắt choắt, thoăn thoắt, nghênh nghênh… vần gieo (choắt – thoắt, nghênh – lệch, vang – vàng…), nhịp thơ nhanh cùng hình ảnh so sánh (Như con chim chích…) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi, say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu. Câu 3: Nhà thơ đã hình dung miêu tả chuyến đi liên lạc cuối cùng và sự hi sinh Lượm như thế nào? Hình ảnh Lượm gợi cho em cảm xúc gì?

Trong đoạn thơ này có những câu thơ và khổ thơ được cấu tạo đặc biệt. Em tìm những câu thơ và khổ thơ ấy, nêu tác dụng của nó trong việc biểu hiện cảm của tác giả.

Trả lời:

Nhà thơ đã hình dung ra sự hi sinh của Lượm trong chuyến đi liên lạc cuối cùng cũng như bao lần làm nhiệm vụ, Lượm dũng cảm và nhanh nhẹn, hăng hái quyết hoàn thành nhiệm vụ không nề nguy hiểm:

Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư đề ‘Thượng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo?

Nhưng rồi:

Bỗng loè chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú bé đã hi sinh dũng cảm giữa tuổi thiếu niên hồn nhiên, đầy hứa hẹn của một cuộc đời đã được chắp cánh cùng cách mạng. Nhưng nhà thơ không dừng lâu ở nỗi đau xót, ông cảm nhận được sự hi sinh của Lượm có một vẻ thiêng liêng cao cả như một thiên thần bé nhỏ yên nghi giữa cánh đồng quê hương với hương thơm lúa non thanh khiết bao phủ quanh em và linh hồn nhỏ bé ấy đã hoá thân vào với thiên nhiên đất nước (Cháu nằm trên lúa, Tay nắm chặt bông, Lúa thơm mùi sữa, Hồn bay giữa đồng).

Những câu thơ, khổ thơ có cấu tạo đặc biệt:

Ra thế Lượm ơi …

Biểu hiện sự đau đớn, sửng sốt đến lặng người.

-  Thôi rồi, Lượtn ơi!

Hình dung lại sự việc mà tác giả tưởng như phải chứng kiến cái giây phút đau đớn ấy nên không kìm lòng được, lại thốt lên lời đau đớn.

-  Lượm ơi, còn không?

Câu thơ được tách ra thành một khổ thể hiện tiếng gọi vừa thân thương vừa thống thiết kết hợp với câu hỏi tu từ như muốn nhấn mạnh, hướng người đọc suy nghĩ về sự còn hay mất của Lượm.

Câu 4: Trong bài thơ, người kể chuyện đã gọi Lượm bằng nhiều từ xưng hô khác nhau. Em hãy tìm những từ ấy và phân tích tác dụng của sự thay đổi cách gọi này đối với việc biểu hiện thái độ, quan hệ tình cảm của tác giả với Lượm.

Trả lời:

Trong bài thơ, người kể đã gọi Lượm bằng nhiểu đại từ xưng hô khác nhau:

-   Chú bé: cách gọi của một người lớn tuổi với một em trai nhỏ, thể hiện sự thân mật nhưng chưa phải là gần gũi, thân thiết.

-   Cháu: cách gọi biểu lộ tình cảm gần gũi, thân thiết như quan hệ ruột thịt của người lớn với một em nhỏ.

-   Chú đồng chí nhỏ: cách gọi vừa thân thiết, trìu mến vừa trang trọng đối với một chiến sĩ nhỏ tuổi.

-   Lượm ơi: dùng khi tình cảm, cảm xúc của người kể lên đến cao độ, thể hiện ra trong cách gọi tên kèm theo những từ cảm thán: Thôi rồi, Lượm ơi và Lượm ơi, còn không?

Câu 5: “Lượm à, còn không?”, câu thơ đặt cuối bài như một câu hỏi đầy đau xót sau sự hi sinh của Lượm. Vì sao sau câu thơ ấy tác giả lặp lại hai khổ thơ ở đoạn đầu với hình ảnh Lượm hồn nhiên, vui tươi?

Trả lời:

Sau câu thơ: Lượm ơi, còn không? nhà thơ lặp lại hai khổ thơ ở đoạn đầu với hình ảnh Lượm hồn nhiên vui tươi là để trả lời cho câu hỏi tu từ này. Nhà thơ khẳng định Lượm sẽ và vẫn sống mãi cùng thời gian, trong lòng nhà thơ, trong tình thương nhớ, cảm phục của đồng bào Huế, trong chúng ta và các thế hệ mai sau.

Bạn đang xem bài viết Kể Chuyện: Bàn Chân Kì Diệu Trang 107 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 1 / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!