Xem Nhiều 2/2023 #️ Lời Bài Thơ Định Nghĩa “Vợ” (Nguyễn Khắc Thiện) # Top 5 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Lời Bài Thơ Định Nghĩa “Vợ” (Nguyễn Khắc Thiện) # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lời Bài Thơ Định Nghĩa “Vợ” (Nguyễn Khắc Thiện) mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

định nghĩa “vợ”

Vợ là người chẳng họ hàngThế mà giờ đẹp lại sang nhà mìnhNgười dưng lại kết duyên tìnhChung quy cũng tại “quy trình” mà ra

Vợ là Mẹ các con taThường kêu “Bà xã”, hiệu là “Phu nhân”Vợ là tổng hợp: Bạn thân,Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.

Vợ là ngân khố, kho tiềnGửi vào nhanh gọn, hơi phiền rút raVợ là Vua các loài hoaToả hương thơm ngát, đậm đà, ngất ngây

Vợ là quả ớt chín câyĐỏ tươi ngoài vỏ, nhưng cay trong lòngVợ là một đoá hoa hồngVợ là “Sư tử Hà Đông” trong nhà

Khi vui, nàng đẹp như hoaĐến khi tức giận, cả nhà thất kinhKhi chiến tranh, lúc hoà bìnhVợ là thám tử luôn rình rập ta

Vợ là một vị quan toàThăng đường xử án, toàn là án treoVợ là rượu ngọt tình yêuKhông uống thì khát, uống nhiều thì say

Vợ là thùng thuốc súng đầyCơn ghen ập đến nổ bay trần nhàVợ là nắng gắt, mưa saVợ là giông tố, phong ba, bão bùng

Nhiều người nhờ Vợ lên ôngNhiều anh vì Vợ mất không cơ đồVợ là những áng văn thơVợ như là những giấc mơ vơi đầy

Vợ là một chất men sayLà nước hoa ngoại làm ngây ngất lòngVợ là một áng mây hồngVợ là hoa hậu để chồng mê say

Vợ là khối óc, bàn tayVợ là bác sỹ tháng ngày chăm taVợ là nụ, Vợ là hoaVợ là chồi biếc, Vợ là mùa xuân

Vợ là tín dụng nhân dânVợ là kế toán giải ngân trong nhàVợ là âm nhạc, thi caVợ là cô giáo, Vợ là luật sư

Cả gan đấu khẩu Vợ ư?Cá không ăn muối coi như đời mờVợ là điểm hẹn, bến chờKhông Vợ đố biết cậy nhờ tay ai

Vợ là phúc, thọ, lộc, tàiChồng ngoan chăm chỉ nộp bài Vợ khenVợ là tổng quản, Thanh ThiênVợ là khoá sắt, xích xiềng cột chân

Vợ là dòng suối mùa xuânNgọt ngào, xanh mát, trong ngần, yêu thươngVợ là két sắt, tủ tườngMuốn mở phải nhả lời thương ngọc ngà

Vợ là một đôi thùng loaMỗi khi chập mạch cả nhà nổi giôngÂm thanh tựa sư tử gầmCha, con lấm lét mà không dám cười

Vợ còn xếp trước cả TrờiVợ là duyên nợ cả đời của taVợ là biển rộng bao laVợ là hương lúa đậm đà tình quê

Vợ là gió mát trưa hèVợ là hơi ấm thổi về đêm đôngVợ là chỗ dựa của ChồngNhiều anh dám bảo “Vợ không là gì!”

Khoan khoan hãy tỉnh rượu điVợ quan trọng lắm chẳng gì sánh đâuViệc nhà Vợ có công đầuNấu cơm, đi chợ, nhặt rau, pha trà

Vợ là máy giặt trong nhàVợ là vi tính, Vợ là ti viNhiều đêm Vợ hát Chồng ngheLời ru xưa lại vọng về quanh ta

Vợ là bà chủ trong nhàAi mà cãi lại lệnh bà biết ngay“Cấm vận” chắc chắn dài ngày “Chiến tranh lạnh” phải “ngủ chay” thôi mà

Vợ là làn điệu dân caVợ là bà chủ vợ là Ô-sinVợ là cái máy đếm tiềnVợ là nền móng dựng nên cơ đồ

Vợ là thủ quỹ, thủ khoVợ là hạnh phúc, ấm no cả nhàVợ là vũ trụ bao laNhiều điều bí ẩn mà ta chưa tường

Có lúc giận, có khi thươngSớm mưa, chiều nắng chẳng lường trước đâuVợ là một khúc sông sâuVợ như là cả một bầu trời xanh

Vợ là khúc nhạc tâm tìnhVợ là cây trúc bên đình làm duyênVợ là cô Tấm thảo hiềnVợ là cô Cám hám tiền, ham chơi

Vợ là mợ Vẹt lắm lờiThích đem so sánh Chồng người, Chồng taVợ là bến đỗ, sân gaVợ là mái ấm cho ta đi về

Vợ là “Khúc hát sông quê”Nốt thương, nốt nhớ tràn về đầy vơiVợ là đồ cổ lâu đờiAi mua chẳng bán, tứ thời nâng niu

Vắng vợ có một buổi chiềuCha con luýnh quýnh như diều đứt dâyUớc gì có vợ về ngayNâng niu tổ ấm đong đầy ngày vui

Nhắc nhau khắc dạ ghi lời :“Kính vợ đắc thọ” cho đời bình yên./.

(Nguyễn Khắc Thiện biên tập)

Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm

Trở Lại Định Nghĩa Chữ Tiếu Lâm

Từ điền Bách Khoa Việt Nam (NXB từ điển bách khoa HN – 2005) (ở trang 631 (Q4)) không định nghĩa riêng chữ tiếu lâm, mà có truyện tiếu lâm trong định nghĩa chung của truyện cười dân gian Việt Nam (vần T)… Chuyện tiếu lâm (Joke book)

Trong HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN của Đào Duy Anh (Trường Thi xuất bản 1957) có ghi Tiếu Lâm là tên một bộ sách chép toàn truyện cười.

Có người chiết tự chữ Hán ra mà dịch nghĩa : Tiếu (cười), Lâm (rừng) là : Rừng cười.

Lại có người nói Tiếu Lâm là để chỉ riêng cho những truyện cười dân gian có dính dáng đến Dâm và Tục. Như vậy phải hiểu Tiếu Lâm theo định nghĩa nào?

Truyện cười dân gian Việt Nam gần đây đã được xuất bản khá nhiều : Ngoài Bắc có : Tiếng cười dân gian Việt Nam, Truyện Tiếu Lâm, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai Tứ Xuất, Thanh Hoá có : Xiển Bột, Quảng Nam – Đà Nẵng có : Thủ Thiệm. Trong Nam có : Truyện ông Ó, Chú Ba Phi v.v…

Những truyện ấy đã được nhiều người đọc, nhiều người hiểu. Nếu có ai đó kể lại, chẳng qua là thêm thắt vô một ít chi tiết cho có vẻ lạ chút chút thôi. Nghe nhiều lần rồi cũng hết cười.

Trong một buổi làm việc tập thể đào đắp mương ở ngoài trời. Hai tay hai chân lao động liên tục nhưng cái mồm cái tai rất ư rảnh rỗi. Sau khi hát, hò chán chê, mấy phút im lặng chỉ nghe tiếng thở phì phò nặng nhọc. Bỗng có ai đó hô lớn :

– Anh năm ơi, kể chuyện tiếu lâm nghe chơi !

Vừa nghe nói hai tiếng TIẾU LÂM là thính giả đã chuẩn bị cười rồi. Trong dân gian ít có ai nói KỂ CHUYỆN CƯỜI NGHE CHƠI. Vì người ta cho CHUYỆN CƯỜI là chỉ mức độ bình thường, cười vừa phải, không có hoặc ít có yếu tố Dâm Tục. Còn ngược lại, Tiếu Lâm thì có cái đó.

Truyện Tiếu Lâm có thể là do người dân bịa. Bịa ra để cười chơi. Đã là chuyện bịa thì không có giới hạn : Từ đúng đắn cho tới dâm tục. Có khi rất tục. Tục đến nỗi con gái nghe phải đỏ mặt mắc cỡ (nhưng vẫn thích lắng tai nghe thử).

Như vậy, theo chúng tôi, Tiếu lâm là một bộ phận đáng kể trong nguồn TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM. Hơn thế nữa, TIẾU LÂM còn là truyện cười dân gian mang nhiều yếu tố dâm tục. Có nhà phê bình đã nhận xét: Cái Tục là một trong những thuộc tính của truyện cười dân gian loại Tiếu Lâm.

Các quyển truyện cười dân gian hoặc truyện Tiếu Lâm Việt Nam (tập 1 và 2) đã xuất bản, mặc dù ai cũng biết có sự tồn tại hiện hữu trong dân chúng, nhưng ai cũng tránh né không ai ghi ra giấy những truyện tiếu lâm tục (vì có vấn đề gạn đục khơi trong). Nhưng những truyện đó vẫn không hề biến mất. Mới tháng trước đây chúng tôi đã đi tham gia gặt lúa với nông dân huyện Tây Hoà (Phú Yên). Trong khi làm, Người nông dân đã đem những truyện ấy kể cho nhau nghe. Lập tức nhiều trận cười nở ra. Sau cái cười thì mệt nhọc hình như giảm bớt. Việc này chứng tỏ cho ta thấy TRUYỆN TIẾU LÂM (tục) có sức sống dai là có thực chứ không hề tàn lụi trong lòng dân. Họ kể để họ cười vả để làm gì nữa ? Để trước hết là mượn tiếng cười quên mệt nhọc, tăng thêm sức đề kháng cho cơ thể, nhờ đó tăng năng suất công việc. Và cũng là để gián tiếp nhắc nhở nhau THẤY XƯA CHỪA NAY. Làm cho những cái xấu, cái ác, cái bỉ ổi ngày càng ít đi, để cho cái nhân tố mới tốt đẹp hơn có điều kiện sinh sôi nảy nở trong đời sống xã hội. Như vậy, trong một số trường hợp, truyện TIẾU LÂM TỤC cũng có tác dụng góp phần tăng năng suất lao động. Ta không nên phủ nhận nó.

VII/ XUẤT XỨ CỦA TRUYỆN TIẾU LÂM TỤC Ở ĐỊA PHƯƠNG :  

Trước 1945 tỉnh Phú Yên nằm trong giải đất Miền Trung, thực dân Pháp gọi là nước An Nam (từ Thanh Hoá đến Bình Thuận). Ở đây thực dân Pháp vẫn cho duy trì bộ máy cai trị vua quan của Nam Triều, nhưng dưới quyền kiểm soát của nhà nước Bảo Hộ do một viên công sứ Pháp đứng đầu. Và người Pháp Nắm giữ các chức chủ chốt như Lãnh binh, Mật thám, kho bạc… dưới quyền người Pháp, về  phía Nam Triều ở các tỉnh có quan Tuần Vũ, Án sát, bố chánh. Ở các phủ, huyện có quan tri phủ, Tri huyện, thầy đề, thầy lại, lính lệ v.v .. Ở tổng thì có chánh tổng, phó tổng, xuống xã thì có lí trưởng, phó lý, ngũ hương (hương kiểm, hương bộ, hương mục, hương thơ, hương bổn). . Dưới những chức sắc đó, xã hội bấy giờ còn nảy nòi ra nhiều hạng kệch kỡm chuyên môn hiếp đáp, áp bức dân lành, làm cho dân chúng ghê tởm, khinh ghét. Chính đó là những cái đích cho họ đưa vào truyện tiếu lâm. Như hạng trọc phú (ham rể giàu nhưng dốt), phù thuỷ rởm (ham gái), thày lang băm (dâm dục), thày cúng (ham ăn) v.v…

Các tỉnh Miền Trung từ lâu đã nghe nói câu : “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa thiên ních hết”. Chính vì vậy ở Phú Yên lưu truyền trong dân chúng những câu truyện về quan xứ kiện đòi ăn hối lộ. Đã ăn hối lộ lại đòi của ngon (chê xôi, đòi ăn thịt) …

Trong truyện TIẾU LÂM (tục) ta thấy rõ vũ khí tiếng cười đã áp đảo kẻ thù bằng cách gây dư luận đả kích chúng mạnh mẽ. Tiếng cười đó đã biến kẻ thù thành Bia Miệng. Mà TRĂM NĂM BIA ĐÁ THÌ MÒN, NGÀN NĂM BIA MIỆNG VẪN CÒN TRƠ TRƠ. Như vậy, Tiếu lâm (tục) vừa gây cười, vừa thể hiện một khoái cảm thắng lợi, vừa hạ diệt (cái xấu). Càng cười thoải mái bao nhiêu, càng đáp ứng được cái khuynh hướng gây hứng thú trong cuộc sống bấy nhiêu.

(Trích bài báo của Đỗ Lai Thuỷ)

KHOÁI CẢM THẮNG LỢI THỂ HIỆN RA CÁC KIỂU CƯỜI

Về kiểu cách cười, trong thiên hạ cũng có nhiều loại cười rất khác nhau :

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI VÔ TƯ SẢNG KHOÁI như : Cười ha hả, cười hả hê, cười sằng sặc, cười dòn tan, cười như nắc nẻ, cười hồn nhiên, cười thoải mái, cười khoái trá, cười rổn rảng, cười sang sảng, cười rạng rỡ, cười cởi mở, cười hở mười cái răng, cười hết cỡ, cười ngặt nghẽo, cười híp mắt, cười dài, cười góp, cười khà, cười khanh khách, cười khè, cười khì, cười nôn ruột, cười ngất, cười phá lên, cười như bắp rang, cười ồ, cười ra rả, cười rè, cười rộ, cười xoà, cười hềnh hệch …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI HÌNH NHƯ RIÊNG Ở NAM GIỚI như: Cười khùng khục, cười hô hố, cười khơ khớ,…

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI TƯỞNG CHỈ DÀNH CHO NỮ GIỚI như : Cười duyên, cười ruồi, cười e ấp, cười e lệ, cười thẹn thùng, cười lỏn lẻn, cười nụ, cười tình, cười rúc rích …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI CHƯA HẾT CỠ, như : cười thầm, cười nửa miệng, cười mủm mỉm, cười chúm chím, cười mím chi, cười rỉ rả, cười khúc khích, cười khục khặc …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI NGHE CHÓI TAI như : cười the thé, cười như xé vải, cười rần rật, cười sặc sụa …

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI RA NƯỚC MẮT, như : cười gượng, cười méo xẹo, cười não nuột, (khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt), cười giã biệt, ngậm cười nơi chín suối… cười héo hắc…

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI TỎ RÕ THÁI ĐỘ, như : cười độ lượng, cười mai mỉa, cười ngạo mạn, cười khinh khỉnh, cười khẩy, cười mát, cười mũi, cười nhạt, cười khan, cười khô khốc, cười huề, cười bả lả, cười xã giao, cười đãi bôi, cười đưa đẩy, cười trừ, cười cợt, cười gằn … cười gượng.

CÓ NHỮNG CÁI CƯỜI ĐÁNG GHÉT, như : cười xảo quyệt, cười ranh mãnh, cười gian ác, cười nịnh bợ, cười cầu tài, cười đểu cáng, cười nhăn nhở, cười rậm rật, cười dâm dật, cười đĩ thoã, cười lơi lả, cười lẳng lơ, cười mơn trớn… 

TRONG DÂN GIAN TA CÓ NHỮNG CÂU CA DAO NÓI VỀ CƯỜI :

– Phòng trong sớm mở tối gài,

Ai cười KHÚC KHÍCH để phòng ngoài ngẩn ngơ ?

– Bắp non xao xác trỗ cờ,

Thương nhau xin chớ nhởn nhơ CƯỜI TRỪ!

– Đứng xa kêu bớ em Mười

Thương hay không thương, em nói thiệt, chớ đững CƯỜI ĐẨY ĐƯA!

– Phất phơ ngọn cỏ gió lùa,

Thấy em CƯỜI GƯỢNG anh chua xót lòng !

– Cây tre nhặc mắt, gió quặt, ngọn tre oằn,

Nghe anh cất tiếng CƯỜI GẰN, em trở gót thối lui.

-Thứ Nhứt là đạo làm người

Dù no dù đói vẫn CƯỜI như không.

– Thấy em có cục duyên ngầm

Nụ CƯỜI CÓ NGHĨA, anh quên mần, bỏ ăn.

– Con quạ nó núp vườn chồi

Thấy em đứng CƯỜI LỎN LẺN với ai ?

– Cô kia CƯỜI CỢT ghẹo trai

Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò.

– Cóc nghiến răng còn động lòng trời,

Anh say em có điệu CƯỜI MÍM CHI.

– Bông cúc nở trước sân, con bướm vàng hút nhuỵ

Thấy miệng em CƯỜI HỮU Ý, anh thương.

– Tưởng đâu bến đã gặp thuyền,

Nào hay em CƯỜI LẢNG NHÁCH, anh liền lui ghe.

– Chuồn chuồn đậu ngọn cau tơ,

Anh CƯỜI BẢ LẢ, em ngờ duyên anh.

– Chiều chiều ra đứng vườn cà,

Thấy anh CƯỜI LẠT, trở vô nhà hốt muối em ăn.

– Thà rằng chịu cảnh gông xiềng

Còn hơn có vợ CƯỜI VÔ DUYÊN tối ngày.

– Ra đường lắm chuyện bực mình

Về nhà gặp vợ CƯỜI TÌNH cũng no.

– Thôi thôi tình phải buông lơi,

Chưa chi em đã vội CƯỜI TOÉT TOE.

– Ngó lên búi tóc em tròn

Hàm răng em trắng, miệng CƯỜI GIÒN, anh mê

– Tóc em dài, em cài hoa thiên lý,

Thấy em CƯỜI HIỀN, anh để ý anh thương.

– Con kiến vàng bò ngang đám bí,

Thấy miệng em CƯỜI ẨN Ý, anh đỡ lo.

– Bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu,

Thấy miệng em CƯỜI, trời biểu anh thương.

– Chẳng tham nhà ngói rung rinh,

Tham về cái nỗi em xinh miệng CƯỜI

– Miệng cười em đáng mấy mươi,

Chân đi đáng nén, CHÚM CHÍM CƯỜI đáng trăm.

– Đàn bà cười SANG SẢNG tiếng đồng,

Chẳng khó đường chồng cũng khó đường con.

– Ông phật ngồi trên án MỦM MỈM CƯỜI,

Áo em em bận, sao mấy người xỏ tay ?

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Thơ Vui :Định Nghĩa Chồng Là Gì ??

Nghe định nghĩa vợ phàn nàn Thế thì thiếp định nghĩa chàng sao đây Chồng là can rượu nếp đầy Nhậu về quên đậy, mùi bay khắp nhà Chồng là cái máy mát-xa Chồng là tổ ấm, chồng là nắng xuân Chồng là nghệ sỹ nhân dân Chồng là một nửa những phần buồn vui Chồng là bợm nhậu, bạn đời

Chồng là thần tượng một đời thanh xuân Chồng là ong thợ chuyên cần Chồng là duyên nợ nửa phần đời ta Chồng là trụ cột trong nhà Chồng là chỗ dựa cho ta hàng ngày Chồng là chú cuội trên mây Lần nào về muộn cũng đầy lý do Chồng là một chú ngựa ô Là người lãng mạn thích bồ, yêu hoa

Chồng là cấp phó trong nhà Chồng là vệ sỹ, chồng là xe ôm Ra đường thích phở chê cơm Về nhà chê phở không hơn cơm nhà Chồng là bóng cả cây đa Chồng là bảo mẫu, là cha con mình Khi yêu vợ, nịnh: rất xinh

Khi giận lại bảo vợ mình “táo ta” Con ngoan thì nhận công cha Con hư lại bảo lỗi là mẹ cho Đêm ngủ thở ngáy o o Hút thuốc nhả khói như là nung vôi Nhìn gái thì mắt sáng ngời Nhìn vợ thì trợn con ngươi gờm gờm

Chồng là giận, chồng là thương Chồng là con nợ tiền lương tháng ngày Chồng là rượu ngọt men say Chồng là nỗi nhớ tháng ngày khó quên Chồng là bảo vệ đêm đêm Cho vợ được ngủ bình yên say nồng Chồng là thỏ đế mềm lòng Sợ vợ nổi giận, sợ dòng lệ rơi Chồng là kho báu trên đời

Chồng là lãng tử, là người đa đoan Chồng là chú học trò ngoan Lỗi nào cũng nhận nhưng làm lại quên Chồng là Phật, chồng là Tiên Chồng là cái máy in tiền cho ta

Chồng là cái máy điều hoà Chồng là con nghiện bỏ nhà lang thang Khi tỉnh, gọi vợ nữ hoàng Khi say đập ghế đập bàn nói mê Chồng là con cháu ông Đề Nếu không quản lý ra đê mà nằm Yêu thì yêu, bụng vẫn căm Hễ nghe có nhậu phăm phăm ra ngoài

Chồng là con đỉa bám dai Khuya rồi mà vẫn vật nài nỉ non Chồng là gương sáng cho con Chồng là đấu sỹ vàng son một thời Chồng là hoàng tử con trời Vì yêu nên mới làm người trần gian…

TƯ CHƠI(CẦU BA CẲNG)

(Upload,ai đóng góp quên rồi)

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Lời Thơ, Ý Nghĩa Bài Thơ: Tết Đang Vào Nhà

Xuân sang Tết đến, Thành Trung Mobile xin gửi tặng các bạn bài thơ Tết đang vào nhà cùng với những lời chúc sức khỏe, lời cảm ơn sâu sắc đã tin tưởng và đồng hành cùng chúng tôi trong suốt thời gian qua.

Lời bài thơ “Tết đang vào nhà” hay và tràn đầy ý nghĩa là món quà tinh thần tốt nhất dành tặng cho người thân và gia đình. Năm Canh Tý 2020 đang dần qua đi, năm Tân Sửu 2021 lại đến đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người. Mong rằng 2021 sẽ là một năm may mắn và thành công, luôn tràn đầy tiếng cười nhưng cũng không kém phần thử thách.

Chúc mừng năm mới

Lời bài thơ “Tết đang vào nhà”

Hoa đào trước ngõ

Cười tươi sáng hồng

Hoa mai trong vườn

Lung linh cánh trắng

Sân nhà đầy nắng

Mẹ phơi áo hoa

Em dán tranh gà

Ông treo câu đối

Tết đang vào nhà

Sắp thêm một tuổi

Đất trời nở hoa

Bài thơ “Tết đang vào nhà” của tác giả nào, có nội dung và ý nghĩa như thế nào?

Tác giả bài thơ “Tết đang vào nhà”

Bài thơ “Tết đang vào nhà” của tác giả Nguyễn Hồng Kiên.

Nguyễn Hồng Kiên là tiến sĩ sử học, nhà khảo cổ, nhà thơ, và còn là một blogger có tiếng trong và ngoài nước với bút danh Gốc Sậy. Thơ của ông nhẹ nhàng, thong thả mà đầy tràn đầy cái tình, cái tin yêu cuộc sống.

Ý nghĩa bài thơ “Tết đang vào nhà”

Tết đến luôn mang lại nhiều cảm xúc cho mọi người, nhất là đối với các bạn nhỏ.

Bài thơ “Tết đang vào nhà” tuy ngắn gọn nhưng đã miêu tả rất chân thật những dòng cảm xúc ấy. Lời thơ giản dị, mộc mạc khiến các bé dễ dàng cảm nhận được không khí nhộn nhịp, vui tươi của ngày Tết đang đến gần. Các bé sẽ rất thích đọc bài thơ “Tết đang vào nhà”

Tác giả Nguyễn Hồng Kiên đã nhân hóa hình ảnh đào mai cười vui, rung rinh lên đón mùa xuân đang về để diễn tả sự hân hoan chờ đón mùa xuân mới trong bài thơ tết đang vào nhà.

Không khí Tết đang đến rất gần, mẹ tranh thủ trời nắng giặt những bộ quần áo đẹp để cả nhà có thể diện trong mấy ngày Tết, bạn nhỏ dán tranh gà – một loại tranh dân gian truyền thống của Việt Nam, còn ông thì đi treo câu đối. Ai nấy đều tất bật trang hoàng lại nhà cửa để đón năm mới. Tuy bận bịu nhưng tất cả đều tràn ngập niềm vui trong lòng.

Bài thơ “Tết đang vào nhà” khá ngắn gọn, vần, rất dễ dạy cho các bé mẫu giáo đọc và học thuộc lòng theo, nhất là khi các bé mẫu giáo còn nhỏ, khả năng ngôn ngữ nhiều hạn chế cũng như tính cách hiếu động, hay quên. Bên cạnh đó, lời thơ đơn giản, dễ hình dung giúp bé hiểu thêm ý nghĩa, cảm nhận rõ hơn về không khí Tết, biết được rằng khi hoa đào, hoa mai nở chính là dấu hiệu báo trước của một mùa Xuân, ngày Tết cổ truyền dân tộc đang đến rất gần trong bài thơ tết đang vào nhà

Hình ảnh bài thơ Tết đang vào nhà

Hình ảnh bài thơ Tết đang vào nhà: Cháu chúc tết ông bà

Hình ảnh bài thơ Tết đang vào nhà: Ông và cháu treo tranh và câu đối ngày tết

Bài thơ “Tết đang vào nhà”

Hình ảnh: Mẹ tranh thủ phơi quần áo ngày nắng cho gia đình (Nguồn: internet)

Hình ảnh: Hai ông cháu cùng nhau trang trí cây đào ngày Tết (Nguồn: internet)

Hình ảnh bài thơ Tết đang vào nhà: Cây đào ngày Tết trước ngõ (internet)

Video đọc bài thơ tết đang vào nhà

Cung Chúc Tân Xuân Phước Vĩnh Cửu

Chúc Trong Gia Quyến Được An Khương

Tân Niên Lai Đáo Đa Phú Quý

Xuân Đến An Khương Vạn Thọ Tường

Bài thơ tết đang vào nhà.

Bạn đang xem bài viết Lời Bài Thơ Định Nghĩa “Vợ” (Nguyễn Khắc Thiện) trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!