Xem Nhiều 12/2022 #️ Một Trăm Khúc Haiku Hay Nhất Mọi Thời Đại – Câu Lạc Bộ Haiku Việt / 2023 # Top 18 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Một Trăm Khúc Haiku Hay Nhất Mọi Thời Đại – Câu Lạc Bộ Haiku Việt / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Trăm Khúc Haiku Hay Nhất Mọi Thời Đại – Câu Lạc Bộ Haiku Việt / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Michael R. Burch* tuyển

Lê Văn Truyền dịch

Trần Anh Thơ hiệu đính

Haiku là gì? Trong ngôn ngữ Nhật Bản, “hai” có nghĩa là “khác thường”/ “tuyệt vời” (unsual) và “ku” có nghĩa là “khổ thơ” (verse/strophe). Sir George Sansom gọi haiku là “những giọt tinh túy của thơ” (little drops of poetic essence). Harold Henderson gọi haiku là những khoảnh khắc“trầm tư/thiền định” (meditations). Tôi nghĩ về haiku như là những lát cắt được cấu trúc bằng ngôn từ, là “hình ảnh bằng ngôn ngữ”. Một định nghĩa có ích khác: haiku là những “hình ảnh siêu nghiệm” (transcendent images). Ví như khúc haiku sau đây:

Grasses wilt: the braking locomotive grinds to a halt.

Yamaguchi Seishi, Michael R. Burch phỏng dịch Đám cỏ tàn úa

đầu tầu giảm tốc vào ga

nghiền nát

Trong khi theo truyền thống Nhật Bản, haiku được viết thành 3 dòng với 5-7-5 âm tiết thì trong sáng tác haiku bằng tiếng Anh, đó không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, vì vậy dịch haiku khi cần thiết tôi thường dùng số âm tiết nhiều hơn miễn là chuyển tải được hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa của khúc haiku theo như tôi cảm nhận được.

Ảnh hưởng của haiku đối với thơ ca anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Quả thực, nhiều quy tắc của Chủ nghĩa hình tượng (Imagism) bắt nguồn từ haiku, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc “xử lý trực tiếp sự vật (chủ thể/khách thể)”. Ezra Pound, cha đẻ và là người tiên phong của trường phái hình tượng đã dịch nhiều thơ phương Đông và cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tương tự. Bài thơ “Trong ga tầu điện ngầm” là một trong những bài thơ có dáng dấp haiku của ông.

The apparition of these faces in the crowd;

Petals on a wet, black bough

Những khuôn mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa trên một cành cây khô, ướt đẫm.

Những thi phẩm nổi tiếng mang dáng dấp haiku gồm có “The Red Wheelbarrow” (Bánh xe cút kít mầu đỏ) của William Carlos Williams và “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách nhìn một con chim hét) của Wallace Stevens. Các nhà thơ Anh khác đã sáng tác, dịch và chịu ảnh hưởng của haiku gồm có Richard Wright, Allen Ginsberg, Gary Snyder, Jack Kerouac, Amy Lowell, Kenneth Rexroth, Margaret Atwood, Robert Hass và Paul Muldoon. Cũng có thể ghi nhận ảnh hưởng của Phương Đông đối với các sáng tác của những nhà thơ trường phái hiện đại đầu tiên như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Đây là một trong những dòng thơ cổ nhất được ghi trong quyển sách cổ nhất của Nhật Bản:

While you decline to cry, high on the mountainside a single stalk of plumegrass* wilts.

Khi bạn muốn òa khóc

trên triền núi cao

một bông lau héo rũ

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Và đây, là một trích dẫn khác với sắc thái hài hước cũng từ Kojiki: Hush, cawing crows; what rackets you make! Heaven’s indignant messengers, you remind me of wordsmiths!

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh mịch, tiếng quạ kêu vang

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn

Và một bài khác: Onyx, this gem-black night. downcast, I await your return like the morning sun, unrivaled in splendor.

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Mã não, viên ngọc huyền

ta chờ em trở lại

như mặt trời rực rỡ vô song Snow –obcured heights, mist-shrouded slopes: this spring evening.

Ilio Sõgi (1421-1502), Michael R. Burch phỏng dịch Đỉnh núi tuyết phủ

dốc núi mờ sương

chiều Xuân chạng vạng Soundlessly they go, the herons passing by: arrows of snow filling the sky.

Yamâzki Sõkan (1464-1552),Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn diệc lặng lẽ bay

những mũi tên tuyết trắng

ngập tràn bầu trời xanh O, fluttering moon, if only we could hang a handle on you, what a fan you would be!

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng lung linh

ước gắn một cái cán

cho trăng thành chiếc quạt

An orphaned blossom returning to its bough, somehow? No, a solitary butterfly.

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa đơn côi sao lại bay lên cây?

ồ không, một chú bướm

tha thẩn trong nỗi buồn

Life: a solitary butterfly swaying unsteadily on a slender stalk of grass, nothing more. But so exquisite!

Nishiyama Soin (1605-1682), Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc đời: cánh bướm cô đơn

lửng lơ trên ngọn cỏ

không gì hơn, nhưng thật thanh tao

This darkening autumn: my neighbor, how does he continue?

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch Mùa thu ảm đạm này

người hàng xóm của tôi

liệu có qua khỏi?

Autumn darkness

descends on this road I travel alone

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch Bóng tối mùa thu

buông xuống con đường

mình tôi độc hành

Lightning shatters the darkness – the night heron’s shriek.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ánh sáng xua tan bóng tối

đêm đen

tiếng thét của những anh hùng

An ancient pond, the frog leaps: the silver plop and gurgle of water.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ao xưa

con ếch nhảy vào

nước xao ánh bạc

A crow settles on a withered branch: autumn nightfall.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch Quạ đậu

trên cành cây khô

hoàng hôn mùa Thu

My eyes, having observed everything, returned to the white chrysanthemums.

Kosugi Isshõ (1652-1688), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi mắt tôi

sau trải nghiệm cuộc đời

hướng về đóa cúc trắng

A white swan parts the cherry-petalled pond  with her motionless breast.

Roka (1671-1703), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái ức bất động

con thiên nga trắng

rẽ mặt ao ngập cánh anh đào

Năm 1692, Roka trở thành một môn đệ thụ giáo haiku với Basho; và đó là những năm cuối đời của Basho.

Useless dreams, alas! Over desolate fields winds whisper as they pass.

Uejima Onitsura (1661-1738), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, những giấc mơ hão huyền

như xạc xào cơn gió

lướt qua cánh đồng hoang Observe: see how the wild violets bloom within the forbidden fences!

Shida Yaba (1663-1740), Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy ngắm nhìn

hoa tím dại bừng nở

bên bờ dậu hoang

Leaves, like the shadows of crows cast by a lonely moon.

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Những chiếc lá như những con quạ đen

gieo trên mặt trăng cô đơn

A kite floats at the same place in the sky where yesterday it floated …

Yosa Buson (1716-1783), Michael R. Burch phỏng dịch

Con diều trôi

trên bầu trời

đúng chỗ hôm qua nó lượn

Standing beneath cherry blossoms who can be strangers?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ngồi dưới anh đào nở

có ai thấy xa lạ?

Overdressed for my thatched hut: a peony blossoms.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Lợp lại mái tranh

túp lều của tôi

mẫu đơn bừng nở

Oh, magnificent peony, please don’t disdain these poor surroundings!

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ơi đóa mẫu đơn lộng lẫy

xin đừng kiêu kỳ

giữa bao người nghèo đói

Insolent peony! Demanding I measure your span with my fan?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Bông mẫu đơn hỗn hào

đòi ta đọ ngươi

với cái quạt của ta?

“This big!” The child’s arms measured the peony.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay trẻ thơ

đo cánh mẫu đơn

“Ồ! Nó to thật!”

Peonies blossom; the world is full of fibbers.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch Hoa mẫu đơn bừng nở

quanh ta đầy người dối trá  Hình như Issa có một phức cảm yêu – ghét đối với những bông hoa mẫu đơn, bà viết đến 84 khúc haiku về loài hoa này, khi thì ca ngợi và khi thì phê phán sự kiêu kỳ của chúng.

Sing, my sacred tortoiseshell lyre; come, let my words accompany your voice

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cây thụ cầm đồi mồi thần thánh

hãy cất tiếng đàn

cho ta hòa theo

Sappho là nhà thơ trữ tình đầu tiên đến nay chúng ta vẫn nhắc đến tên tuổi và nữ thi sỹ có thể vẫn là nhà thơ trữ tình lớn nhất. Nữ haijin nổi tiếng về sự dí dỏm, giống như haiku đơn giản, súc tích đôi khi đến mức làm ta sửng sốt. Vì tôi đã phụ trách một trang thơ về những vần thơ trữ tình hay nhất mọi thời đại, dòng thơ haiku sau đây đã xuất hiện với tôi một cách hoàn toàn bất ngờ, và hoàn toàn không có ý định từ trước, tôi đã chấm dứt trang thơ này và bắt đầu dịch nhiều bài haiku.

Dark-bosomed clouds pregnant with heavy thunder … the water breaks

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đám mây đen

mang sấm sét trong lòng

trời bỗng tuôn mưa

The butterfly  perfuming its wings  fans the orchidMatsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm

quạt cánh hoa lan

ướp thơm đôi cánh

Thật thú vị khi nhận thấy sự tương đồng giữa ba bài thơ của những nhà thơ rất khác biệt. Sappho là một nhà thơ của Hy Lạp cổ đại sinh trưởng ở đảo Lesbos; tính cách tình dục đồng giới của bà đã mang lại sự biểu đạt và nghĩa rộng của những từ “Lesbian” hay “Sapphic” mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay.

Matsuo Basho là một bậc thầy haiku cổ của Nhật Bản, đã ảnh hưởng (và vẫn tiếp tục ảnh hưởng) đến nhiều nhà thơ Phương Tây. Tôi là một nhà thơ Mỹ không mấy tên tuổi nhưng rất yêu thích các trường phái thơ ca khác nhau. Các bài thơ cùng có chung một loạt các đặc điểm: sự khúc chiết, súc tích, trong sáng và việc sử dụng hình ảnh để biểu đạt cảm xúc. Trong mỗi bài thơ, người thi sỹ sử dụng hình ảnh để biểu đạt nhiều thông tin về cảm xúc của mình còn nhiều hơn những dòng văn xuôi.

Sappho viện dẫn đến cây đàn lyre, một loại đàn giống cây thụ cầm (đàn harp), nhạc cụ đã đem lại thuật ngữ hiện đại “thơ trữ tình” (lyric poetry). Khi Sappho nói đến “cây đàn lyre thần thánh” (the lyre sacred), nhà thơ cũng đã viện dẫn đến Muse, những nữ thần Thơ Ca (những vị thần của Hy Lạp cổ đại đã giải thích cội nguồn của thi ca, là nguồn cảm hứng tuyệt diệu).

Thơ haiku của Basho là những tuyệt tác có thể làm cho ta nhầm lẫn vì vẻ ngoài đơn giản của chúng, nhưng chúng có thể lột tả một cách sinh động bản chất cộng sinh (symbiotic nature) của đời sống. Những con bướm hút mật hoa, và qua đó giúp hoa thụ phấn. Thơ của Basho là một minh chứng cho nghệ thuật phản ánh thiên nhiên; thật khó để nói lên cái gì là đáng yêu hơn: con bướm, nhành lan hay những dòng thơ được chạm trổ một cách trang nhã. Khúc haiku của tôi so sánh những đám mây tích sấm sét trước cơn mưa với một thai phụ vỡ ối. Tôi cho rằng đó là một hình ảnh có hiệu ứng, mặc dù tôi nghĩ bạn đọc có thể cho rằng rằng tôi không xứng đáng là một bậc thầy haiku. Hy vọng rằng, tôi có thể dành cho bạn đọc sự tôn kính xứng đáng. Và bây giờ, sau đây là những khúc haiku tôi yêu thích.

Pausing between clouds the moon rests in the eyes of its beholders

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những đụn mây trắng

Chị Hằng nghỉ ngơi

trong mắt người chiêm ngưỡng 

Oh, fallen camellias, if I were you, I’d leap into the torrent!

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa hoa trà

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng suối 

Eros harrows my heart: a wind on desolate mountains uprooting oaks.

Sappho, fragment 42, Michael R. Burch phỏng dịch

Người anh hùng dày vò tim ta

ngọn gió trên núi đồi hoang vu

bật gốc cây sồi già

Tôi nghĩ trong bài thơ này của Sappho hiện hữu “sự tương đồng nguồn cội” (family resemble) giữa dòng thơ trữ tình ngắn gọn, súc tích và đầy sức gợi của Sappho với dòng thơ của các bậc thầy phương Đông.

when you opened my letter were you surprised my heart fell out?

Michael Windsor McClintock (USA)

Khi mở lá thư anh

em có ngạc nhiên

thấy trái tim anh rơi ra?

next door the lovemaking subsides stars fall from other worlds

Michael Windsor McClintock (USA)

Nhà bên cuộc yêu lắng xuống

những vì sao rơi

từ thế giới khác

an old photo of my parents young and happy – of all the things I own that is the saddest

Michael Windsor McClintock (USA)

Một bức ảnh cũ

bố mẹ vui vẻ trẻ trung –

buồn thay những gì tôi đang có

Tôi nghĩ những bậc thầy thời xưa cũng sẽ tán thưởng những bài thơ như thế này.

One apple, alone in the abandoned orchard reddens for winter

Patrick Blanche, Michael R. Burch phỏng dịch

Quả táo cô đơn

trong vườn hoang

ửng hồng đón mùa Đông

Our life here on earth: to what shall we compare it? It is not like a rowboat departing at daybreak, leaving no trace of us in its wake?

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc sống ta trên trái đất này

có gì sánh được?

không giống chiếc du thuyến

khởi hành lúc rạng đông

không để lại dấu vết gì trên đuôi sóng

Graven images of long-departed gods, dry spiritless leaves: companions of the temple porch

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hình ảnh của thần linh

khắc trên những chiếc lá khô vô hồn

bạn đồng hành của cổng đền

The temple bells grow silent but the blossoms provide their incense a perfect evening!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chuông chùa dần lặng

hoa nở ngát hương

màn đêm tuyệt vời

Và một bài khác:

See: whose surviving sons visit the ancestral graves white-bearded, with trembling canes?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nhìn: những đứa con sống sót

râu tóc bạc run rẩy chống gậy

viếng mộ cha ông

Does my soul abide in heaven, or hell? Only the sea gull in his high, lonely circuits, may tell.  Michael R. Burch, theo Glaucus

Linh hồn tôi ngụ trên Thiên Đàng hay dưới Địa Ngục?

chỉ những con mòng biển cô đơn

trên trời cao mới biết

Và đây là một đoạn văn bia cổ Hy Lạp khác có thể sánh được với một khúc haiku hay nhất về sự đơn giản, chân thật, rõ ràng và thẳng thắn của nó:

Mariner, do not ask whose tomb this may be, but go with good fortune: I wish you a kinder sea.

Michael R. Burch, theo Plato

Này, thủy thủ, đừng hỏi đây là nấm mồ của ai

hãy ra khơi may mắn

hãy là đứa con của biển khơi

I remove my beautiful kimono: its varied braids surround and entwine my body

Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiếc kimono đẹp buông rơi

quanh thân tôi

chỉ còn những dải áo

This day of chrysanthemums I shake and comb my wet hair, as their petals shed rain Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày Hoa cúc

tôi vẩy làn tóc ướt

cánh hoa tỏa mưa

Sau đây là một số khúc haiku của Matsuo Basho:

Let us arrange  these lovely flowers in the bowl since there’s no rice

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hãy cắm những bông hoa đẹp

trong cái bát

khi không còn một hạt cơm

The first soft snow: leaves of the awed jonquil bow low

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết đầu mùa:

lá cây hoa trường thọ

cúi chào

Come, investigate loneliness! a solitary leaf clings to the Kiri tree

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy đến đây, nỗi cô đơn!

một chiếc lá mồ côi

níu lấy cành Kiri

The first chill rain: poor monkey, you too could use a woven cape of straw

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mưa đầu mùa lạnh lẽo:

con khỉ đáng thương

hãy đội cái mũ rơm

This snowy morning: cries of the crow I despise (ah, but so beautiful!)

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Buổi sáng tuyết lạnh này

chẳng màng tiếng quạ kêu

(ôi, buổi sáng tuyệt đẹp)

Like a heavy fragrance snow-flakes settle: lilies on rocks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Như mùi hương ngát

hoa tuyết đậu trên đá:

những bông huệ tây

The cheerful-chirping cricket contends gray autumn’s gay, contemptuous of frost

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Tiếng dế rả rích

đua với thu vàng

không màng sương giá Whistle on, twilight whippoorwill, solemn evangelist of loneliness

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hoàng hôn, tiếng hót chim bắt muỗi

phúc âm trang nghiêm

nỗi niềm hiu quạnh

The year’s first day … thoughts come, and with them, loneliness;  dusk approaches

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày tân niên

cô đơn cùng những suy tư;

hoàng hôn buông xuống

An empty road lonelier than abandonment: this autumn evening

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con đường hoang vắng

cô đơn hơn bị bỏ rơi

trong chiều thu này 

Ballet in the air! two butterflies, twice white, meet, mate, unite.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vũ điệu trong không trung

đôi bướm trắng

gặp nhau, kết đôi, hòa hợp

High-altitude rose petals  falling falling falling: the melody of a waterfall.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Từ trên cao

những cánh hoa hồng

rơi

rơi

rơi

giai điệu của dòng thác

The cicada’s cry  contains no hint to foretell how soon it must die.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ve sầu ca vang

không hề biết trước

khi nào đời tàn

Fever-felled mid-path my dreams resurrect, to trek through a hollow land

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa cơn sốt kinh hoàng

những giấc mơ trỗi dậy

dìu tôi qua những miền đất hoang

The sea darkening, the voices of the wild ducks: my mysterious companions!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mặt biển tối dần

tiếng kêu những con vịt hoang

những người bạn đường bí ẩn

Will we meet again? Here at your flowering grave: two white butterflies

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

These wilting summer flowers? The only remains  of “invincible” warriors

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Những bông hoa mùa hè tàn héo

chỉ còn lại dấu tích

những người chiến binh vô địch Spring has come: the nameless hill  lies shrouded in mist

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mùa xuân đã đến

ngọn đồi vô danh

ẩn mình trong sương

Among the graffiti one illuminated name: yours.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Giữa những bức tranh tường

chỉ một cái tên rực rỡ

đó là tên em

A spring wind  stirs willow leaves as a butterfly hovers unsteadily.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Gió Xuân

lá liễu lay

như cánh bướm lửng lơ

Swallow flitting in the dusk, please spare my small friends buzzing among the flowers!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Chim nhạn lượn trong bóng đêm

hãy để những người bạn nhỏ của tôi

bay liệng giữa những đóa hoa

Morning glories blossom, reinforcing the old fence gate

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

cổng rào cũ chắc hơn 

Scrawny tomcat! Are you starving for fish and mice or pining away for love?

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Con mèo đực khẳng khiu

vì đói ăn

hay vì nỗi thất tình day dứt

The moon: glorious its illumination! therefore, we give thanks dark clouds cast their shadows on our necks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hằng Nga lộng lẫy

cám ơn những đám mây đen

tỏa bóng trên cổ ta

Curious flower, watching us approach: meet Death, our famished donkey

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Bông hoa kỳ dị

canh chừng chúng ta:

con lừa khốn khổ gặp Thần Chết

Ah me, I waste my meager breakfast morning glory gazing!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Ồ, tôi bỏ

bữa điểm tâm đạm bạc

ngắm bình minh rực rỡ

Right at my feet! When did you arrive here, snail?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú sên

đến đây khi nào

ngay dưới chân ta

Oh, brilliant moon is it true that even you must rush away, as if tardy?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng sáng

cũng vội vàng trôi

như sắp muộn rồi

Ghostly the gray cow comes mooing mooing

mooing  out of the morning mist.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Con bò xám gầy trơ xương

một sáng mờ sương

rống lên ai oán

Peonies blossom; the world is full of blooming liars.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa diên vỹ nở

thế giới đầy người dối trá

After killing a spider, I was overcome by loneliness in the bittercold night.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Tôi giết một con nhện

lòng ngập tràn cô đơn

trong đêm đen giá buốt Summer river: ignoring the bridge, my horse charges through the water.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Lờ đi cây cầu

trên sông mùa hạ

ngựa thồ qua sông

After the fireworks, the spectators departed: how vast and dark the sky!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Sau màn pháo hoa

mọi người đi rồi

trời đêm mênh mang

Such a small child sent to become a priest: frigid Siberia!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Như chú tiểu đồng

thụ giáo đi tu

Siberi lạnh lẽo We cannot see the moon and yet the waves still rise

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Chẳng thấy được chị Hằng

sóng biển vẫn trào dâng

The first morning of autumn: the mirror I investigate reflects my father’s face Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Một sáng mùa Thu

trong gương tôi soi

cha tôi hiện bóng

Wild geese pass leaving the emptiness of heaven revealed

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn ngỗng trời bay qua

để lại khoảng trống

trên bầu trời bao la

Silently observing the bottomless mountain lake: water lilies

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Lẳng lặng ngắm nhìn

mặt hồ không đáy trên núi:

những bông hoa súng Cranes  flapping ceaselessly test the sky’s upper limits

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những con sếu

vỗ cánh không ngừng

thách thức trời cao

Falling snowflakes’ glitter tinsels the sea

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những hoa tuyết rơi

lấp lánh

trang hoàng biển xanh

Blizzards here on earth, blizzards of stars in the sky

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên mặt đất bão tuyết

trời cao

bão sao băng

Completely encircled in emerald: the glittering swamp!

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọc lục bảo bao quanh

đầm lầy lấp lánh

The new calendar!: as if tomorrow is assured …

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Quyển lịch mới

như nói cùng ta

ngày mai có chắc …

Ah butterfly, what dreams do you ply with your beautiful wings?

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, con bướm

miệt mài dệt giấc mơ nào

với đôi cánh đẹp Because morning glories hold my well-bucket hostage I go begging for water

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái gầu của tôi

vướng phải dây hoa bìm bìm

tôi đi xin nước

Spring stirs the clouds in the sky’s teabowl

Kikusha-ni, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân

lay động những áng mây

bầu trời trong chén trà Tonight I saw how the peony crumples in the fire’s embers

Katoh Shuhson, Michael R. Burch phỏng dịch

Đêm nay tôi thấy

cánh diên vỹ nát nhàu

trong tro tàn lò sưởi It fills me with anger, this moon; it fills me and makes me whole

Takeshita Shizunojo, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng làm tôi giận dữ

cũng vầng trăng này

đem lại bình yên

War stood at the end of the hall in the long shadows

Watanabe Hakusen, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiến tranh

trong bóng tối đứng ở cuối đại sảnh

Because he is slow to wrath, I tackle him, then wring his neck in the long grass

Shimazu Ryoh, Michael R. Burch phỏng dịch

Anh ấy không cáu gắt

nên tôi vít cổ anh

lăn xoài trên cỏ xanh

Pale mountain sky: cherry petals play as they tumble earthward

Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Bầu trời nhạt nhòa trên non

những cánh hoa gió lay

rối tung trên mặt đất Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

The frozen moon, the frozen lake: two oval mirrors reflecting each other.

Hashimoto Takako, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng đóng băng

mặt hồ đóng băng

hai tấm gương hình trái xoan phản chiếu

The bitter winter wind ends here with the frozen sea

Ikenishi Gonsui, Michael R. Burch phỏng dịch

Gió đông lạnh buốt

ngừng thổi nơi này

biển xanh băng giá Oh, bitter winter wind, why bellow so when there’s no leaves to fell?

Natsume Sôseki, Michael R. Burch phỏng dịch

Hỡi gió đông lạnh

còn gào thét làm chi

khi cây đà trụi lá

Winter waves roil  their own shadows

Tominaga Fûsei, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

No sky, no land: just snow eternally falling …

Kajiwara Hashin, Michael R. Burch phỏng dịch

Tuyết rơi, tuyết rơi

không trời

không đất

Along with spring leaves my child’s teeth take root, blossom Nakamura Kusatao, Michael R. Burch phỏng dịch

Răng sữa con tôi

cũng bắt đầu nhú

mầm xuân nẩy chồi

Stillness: a single chestnut leaf glides on brilliant water

Ryuin, Michael R. Burch phỏng dịch

Trong tĩnh lặng:

chiếc lá dẻ rơi

lướt trên mặt nước 

As thunder recedes alone tree stands illuminated in sunlight: applauded by cicadas

Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

The snake slipped away but his eyes, having held mine, still stare in the grass

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Con rắn trườn trong đám cỏ

đôi mắt không rời

khiến tôi bất động

Girls gather sprouts of rice: on the backs of their hats

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Những cô gái gieo mạ

ánh nước lung linh

đằng sau chiếc nón

Murmurs follow the hay cart  this blossoming summer day

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Xe ngựa thồ cỏ khô

lọc cọc

ngày hè hoa nở 

The wet nurse paused to consider a bucket of sea urchins then walked away

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Dừng chân ngắm đám nhím biển

rồi cất bước đi

cô nhũ mẫu ướt đẫm

May I be with my mother  wearing her summer kimono by the morning window

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Ước gì được cùng mẹ

khoác chiếc kimono

một sáng hè bên cửa sổ

The hands of a woman exist to remove the insides of the spring cuttlefish

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Vẫn đôi tay ấy

người đàn bà bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

The moon hovering above the snow-capped mountains rained down hailstones

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên đỉnh núi tuyết

chị Hằng rong chơi

tuôn rơi mưa đá

Oh, dreamlike winter butterfly: a puff of white snow cresting mountains

Kakio Tomizawa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm mùa đông đẹp như mơ

bông tuyết trắng

đồi núi nhấp nhô Spring snow cascades over fences in white waves

Suju Takano, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết mùa Xuân

đọng trên hàng rào

những làn sóng trắng

LỜI BẠT

Haiku “những giọt tinh túy của thơ” hay còn được gọi là “những hình ảnh siêu nghiệm” của các haijin Nhật Bản qua bản dịch tiếng Anh của nhà thơ Hoa Kỳ Michael R. Burch đã được người dịch không chuyên, haijin Lê văn Truyền dịch ra tiếng Việt, thổi hồn cho những gì là tinh túy và siêu nghiệm trong thế giới cõi người và cõi đời này. Những trải nghiệm buồn vui, đau đớn từ những gì cụ thể nhất của nơi sâu thẳm tình người và tình đời cho đến chốn vô thức mà vẫn long lanh như những giọt sương mai đọng trên những nỗi niềm trắc ẩn nơi con người. Thật đúng như lời học giả Jeihyi Hsich: “Cuộc sống là một phần những gì chúng ta đã làm nên, và một phần được làm nên bởi những người ta chọn làm bạn”.

Thành công của người dịch không chuyên này là đã làm nổi bật một thực tế là ảnh hưởng của nền thơ haiku Nhật Bản đối với thơ ca Anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Có thể nói rằng chủ nghĩa Ấn tượng phương Tây phần nào đã bắt nguồn từ dòng thơ haiku đặc sắc của người Nhật, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc xử lý trực tiếp khách thể trong những phiến khúc haiku sau đây:

Những gương mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa

trên cành cây khô ướt đẫm

và:

Khi bạn muốn òa khóc

trên núi cao

một bông lau héo rũ

Những nét chấm phá đầy tính ẩn dụ đã làm cho khung cảnh hoang sơ bỗng như sống dậy, biết đi, biết nói, biết cất lên tiếng hát và cũng biết gào thét những nỗi truân chuyên của số phận đời người.

Ta hãy lắng nghe phiến khúc sau đây:

Tĩnh mịch tiếng quạ kêu

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn

Người đọc khó tưởng tượng rằng khúc haiku ấy lại chứa đựng cái hài hước, hóm hỉnh, tương phản giữa thế giới thực tại với không gian tĩnh mịch có tiếng quạ kêu để nhắc nhở người đời nhớ về một thế hệ xa xưa của một thời quá vãng. Vâng, ẩn ý ở đây là hãy “uống nước, nhớ nguồn” như một đạo lý, một lẽ sống ở đời mà ông cha ta thường dạy.

Qua một trăm phiến khúc haiku của các haijin Nhật Bản được Burch tuyển chọn, người dịch không chuyên haijin Lê văn Truyền đã giao lưu trực tiếp với các tác giả mà ông yêu thích, đây đó có lúc mê say như đang lạc lối vào cõi Thiên Thai, bởi lẽ những vần thơ chuyển ngữ đã minh chứng cho những cảm xúc thăng hoa mà ông là “người chép lại”. Thơ là người. Ông đã làm sống lại cái cảm hoài của các haijin xa xưa:

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

và:

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

rồi thâm trầm hơn, tinh túy hơn và siêu nghiệm hơn khi tự hỏi:

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

Vâng, người dịch, sau những trải nghiệm, tri niệm và tri âm cùng với nhiều tác giả, những phiến khúc tuyệt vời của các haijin Nhật Bản đã vào ngồi cùng với ông trong Vườn Thơ Việt Nam.

Vâng, trong sự lãng mạn của suy cảm, những vần thơ dịch đã làm sáng lên tinh thần yêu thơ haiku của một dịch giả không chuyên Việt Nam.

Trần Anh Thơ

Phó Chủ nhiệm Khoa tiếng Anh

Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ – Hà Nội

MICHAEL R. BURCH

Ông cũng là một nhà hoạt động vì hòa bình, là tác giả của sáng kiến hòa bình Burch-Elberry được mạng Diễn Đàn Quốc Gia về Liên Kết Tiến Bộ của Ấn Độ công bố. Ông cũng là nhà hoạt động tích cực cho trường phái New Formalist (Tân Hình Thức) và Neo-Romanticism (Tân Lãng Mạn). Ông đã công bố những bài thơ hay nhất trên trang mạng thơ The HyperTexts xuất hiện trong suốt hai thập kỷ qua và theo đánh giá của Google đã có hơn hai triệu lượt truy cập kể từ năm 2010. Thơ và truyện ngắn của Burch đã được đăng trên các tạp chí: TIME, USA Today, Writer Digest, Writer’s Journal, Writer’s Gazette, The Lyric, Poet Love … và trên hàng trăm tạp chí thơ ca khác. Ông phụ trách một cột báo hàng tuần trên tờ Nashville’s City Paper trong ba năm cho đến khi chuyên mục này ngừng vào năm 2013. Ông cũng dịch thơ từ tạp chí Old English và các ngôn ngữ khác ra tiếng Anh hiện đại. Burch đã dịch thơ của nhiều nhà thơ trong đó có Basho, Bertolt Brecht, Robert Burns, William Dunbar, Allama Iqbal, Ono no Komachi, Miklós Radnóti, Rainer Maria Rilke, Reneé Vivien và Sappho.

Michael R. Burch đã đạt 5 giải thưởng “Pushcart Prize” từ các nhà xuất bản The Aurorean, Romantics Quarterly, The Raintown Review, Trinacria và Victorian Violet Press. Tác phẩm “Ordinary Love” của ông được giải thưởng thơ “Algernon Charles Swinburne Poetry Award”. Đồng thời ông cũng đạt 6 giải thưởng các cuộc thi thơ và 35 giải thưởng các cuộc thi văn học khác.

Ông kết hôn với ca sỹ Elizabeth Harris Burch và có người con trai Jeremy Michael Burch là ca sỹ, nhạc sỹ và diễn viên.

(Theo WIKIPEDIA tiếng Việt)

Thi Pháp Haiku Hiện Đại / 2023

Một điểm nhìn mới về Haiku hiện đại

Haiku, ở một mức độ nào đó, tiếp nhận các đặc tính truyền thống của thơ “haikai” thời Edo (1603–1868) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc Cách tân Haiku của Masaoka Shiki (1867–1902) vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, haiku hiện đại như là một thể thơ đương đại thì chỉ tính từ thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, và có những đặc thù hiện đại của riêng nó. Ở đây, haiku hiện đại sẽ được xem xét trong so sánh với haiku truyền thống.

Cuộc Cách tân Haiku dưới ánh sáng thời nay

Khác biệt lớn nhất giữa haiku đầu thế kỷ 21 và haiku thời trước nằm ở chỗ, ngày nay haiku không còn là thể thơ riêng của nước Nhật. Haiku trong thế kỷ này đã trở thành một thể thơ thế giới, được thưởng thức ở hàng chục quốc gia: tức là, haiku được đọc và sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Từ giữa thế kỷ 20, nhiều loại hình nghệ thuật đã được toàn cầu hóa và tiến trình đó càng được đẩy nhanh với mạng internet. Theo cùng cách ấy, haiku cũng trở nên quốc tế hóa. Dẫu vậy, do thể luật của haiku mang đậm tính Nhật nên một số nhà thơ haiku Nhật theo khuynh hướng bảo thủ cảm thấy những vần thơ của Basho và các thi hào khác khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì không còn giống với nguyên tác. Thế nhưng, họ hãy nhớ rằng chính nước Nhật cũng đã tiếp nhận nhiều loại hình văn chương, được dịch sang tiếng Nhật, từ Ấn Độ và Trung Quốc thời xưa, và từ châu Âu những năm gần đây hơn.

Lại cần nói thêm rằng, kỷ nguyên hiện đại của chúng ta không phải thời điểm gặp gỡ đầu tiên giữa haiku và thế giới. Haiku đã được giới thiệu tới châu Âu gần như cùng lúc với thời gian của cuộc Cách tân Haiku do Shiki chủ xướng. Shiki là người khởi dựng cho thể thơ haiku ngày nay. Trong thập niên 1880, ông đã cải cách haikai, thể thơ liên ca hợp tác truyền thống và là tiền thân của haiku, thành thể thơ một dòng hiện đại chỉ do một người soạn tác, và gọi nó là haiku. Shiki cải cách haiku như vậy là bởi ông cho rằng thơ haikai cũ đã trở nên sáo mòn. Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy vì lý do đó, ông có lẽ chỉ cần tái thiết lại haikai về đề tài, chất liệu và kỹ thuật. Nhưng sự cách tân không dừng lại ở đó; ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu thay đổi ngay chính hình thức thơ. Dường như lý do thực sự cho việc cách tân về thể thơ nằm ở chỗ thời đại của Shiki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc hiện đại hóa theo phương Tây. Chứng kiến xã hội Nhật đang trong đà hiện đại hóa/Tây hóa, có thể ông cảm thấy rằng nếu haikai cứ tiếp tục lối cũ thì sẽ chẳng ai còn hứng thú với nó nữa. Kết quả từ công cuộc cách tân ấy của Shiki, haiku đã nở rộ trên đất Nhật và ngày nay lan tỏa khắp toàn cầu.

Sau khi haiku được giới thiệu ra châu Âu, cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ một số ít nhà thơ ở các nước phương Tây, có thể kể đến Ezra Pound (1885–1972), quan tâm tới thể thơ này. Phải đến nửa sau thế kỷ 20, haiku mới bắt đầu mê hoặc nhiều thi sỹ hơn nữa trên thế giới. Giờ đây, haiku đã phổ biến trên toàn cầu, và dễ thấy rằng haiku như một thể “thơ thế giới” sẽ tác động trở lại haiku Nhật gốc trong tương lai, vì mọi thứ đều trở nên toàn cầu hóa ở kỷ nguyên này. Sau tất cả, tình huống toàn cầu hóa của haiku ngày nay gần như đồng cấu với tình huống của thời Shiki; cả hai đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài nước Nhật. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của haiku ôm vào nó nhiều nhân tố nội, ngoại khác nhau, không nên coi sự tiến hóa đó chỉ mang tính thụ động. Ngoài cuộc cách tân của Shiki, trong thời gian chiến tranh, haiku còn chịu tác động do cuộc đàn áp “Phong trào Shinko-Haiku (Tân hưng Haiku)” phản chiến từ phía cảnh sát, và sau Thế chiến, chịu thêm búa rìu từ bài “Luận về Haiku như một Nghệ thuật thứ cấp” của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo. Đây là những áp lực đến từ bên ngoài thế giới haiku, nhưng haiku đã vượt qua những phép thử đó và phát triển càng mạnh mẽ hơn.

Tính ngắn gọn

Đặc điểm của haiku là ngắn gọn. Nó là thể thơ ngắn nhất ở Nhật. Tính ngắn gọn này thường được xem có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trên thực tế, vào thế kỷ 17 – thời của Basho, thể haiku còn chưa tồn tại; “Haikai-no-renga” (bài hài liên ca), tiền thân của haiku, thì dài hơn rất nhiều. Haiku mà chúng ta biết, như đã nói ở trên, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, khoảng hơn 100 năm trước, có nghĩa rằng nó ra đời như một thể thơ hiện đại. Đây là lý do vì sao haiku thường có vẻ rất hiện đại. Basho thực chất không phải một nhà thơ haiku mà là một bậc thầy haikai, ông coi trọng “hokku” (phát cú – cú 17 âm đầu của một bài haikai) cũng như người soạn ra nó, và Basho đã nâng hokku lên tầm nghệ thuật.

Trong lịch sử thơ ca cổ điển thế giới, từ Homer đến thời Trung Cổ, rồi thời kỳ đầu hiện đại, châu Âu có truyền thống sáng tác các sử thi dài, ở đó, nhà thơ nỗ lực miêu tả trạng huống của sự vật một cách kỹ lưỡng sao cho người đọc hiểu được rõ ràng. Haiku ngược lại, nằm ở thái cực kia của bức phổ. Nguyên do haiku quá đỗi ngắn có thể là vì dưới thời chính quyền Kyoto và sau đó là Mạc Phủ Edo ở Nhật, quyền lực chính trị và cùng với đó các kiểu văn hóa được hợp nhất ở kinh đô. Hệ quả là, thị dân đủ học vấn để thưởng thức haikai có thể gợi lên một hình ảnh tương đồng từ quý ngữ trong một bài thơ. Những hình ảnh này được đặt cùng nhau vào “saijiki” (Tuế Thời Ký – từ điển các từ chỉ mùa).

Trong lịch sử văn chương thế giới, thơ ca có xu hướng thay đổi từ dài thành ngắn: từ sử thi đến thơ trữ tình và gần đây là haiku. Trong thời đại của chúng ta, nhờ vào các lực hợp nhất của việc toàn cầu hóa và mạng internet, thi sỹ trên khắp thế giới có thể có chung những ý tưởng tương đồng từ một sự vật, và do đó, haiku có thể là thứ thơ ca thế giới cho nhiều kiểu người khác nhau.

Ở bất cứ ngôn ngữ nào, haiku đều rất ngắn, ít diễn tả, đối lập với truyền thống thơ ca phương Tây. Bản chất ít diễn tả của nó dẫn đến việc quan hệ giữa các từ trong một bài haiku trở nên kém rõ ràng. Người đọc phải lấp vào những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng của họ. Như thế, với haiku hiện đại, việc đọc là tối quan trọng: người đọc phải tham gia vào mỗi bài haiku mà hoàn thiện nó. Nghịch lý của sự thiếu miêu tả có lẽ là một đặc điểm hấp dẫn giúp cho haiku lan tỏa rộng rãi trên thế giới.

Thể thơ

Thể chính yếu của haiku trong tiếng Nhật là 5-7-5-on (âm). Như vậy, haiku Nhật là loại thơ có thể thức cố định với nhịp điệu từ bên ngoài. Tuy nhiên, haiku trong các ngôn ngữ khác chủ yếu là thơ tự do ba dòng. Cho dù một số nhà thơ bên ngoài nước Nhật thử làm với kiểu 17 âm tiết, nhưng đó chỉ là thiểu số. Và nữa, có những người thử làm với kiểu thơ một dòng theo dạng haiku Nhật gốc, hay số khác thử với thể hai dòng hoặc hơn ba dòng, tất cả những kiểu như thế chỉ là ngoại lệ. Ta có thể nói rằng, về haiku bên ngoài nước Nhật, kiểu thơ nguyên gốc 17-on với ngoại nhịp đã chuyển hóa thành thể thơ ba dòng với nội nhịp. Thể thơ ba dòng này rất dễ nhận biết và dường như là một nhân tố khác cho việc truyền bá rộng rãi của haiku trên thế giới.

I found my / cat – one / Silent star[1]

Tôi tìm thấy

con mèo của mình

tĩnh lặng một vì sao

Jack Kerouac

Khi xem xét định nghĩa thế nào là haiku ở các phần lãnh thổ khác của thế giới ngoài nước Nhật, chúng ta phải thừa nhận một điều rằng nó không phụ thuộc vào kiểu thức cố định 17-on. Trên thực tế, kiểu thức của haiku thế giới khác về căn bản so với haiku Nhật gốc. Thế thì đâu là điểm chung của haiku giữa Nhật và thế giới? Có một gợi ý cho vấn đề này khi ta nhìn vào lịch sử haiku Nhật. “Haiku Tự Do” (Jiyuritsu Haiku), khoảng năm 1910, là một phong trào cách tân khác nhằm mục đích giải phóng haiku khỏi niêm luật 17-oncố định và quý ngữ.

片つ方の耳にないしよ話しに来る

Katatsukata no mimi ni naishi yo hanashi ni kuru

To one of my ears, she comes to tell a secret[2]

Nàng đến thì thầm vào một bên tai tôi điều bí mật

Hosai Ozaki

Watch again / Jesus’s despair / made of rocks[3]

Nhìn lại

nỗi thất vọng của Jesus

làm từ đá

Ban’ya Natsuishi

Chủ đề

Insist on the hairpin / in the rain / of ash[4]

Nài chiếc cặp tóc

trong làn mưa

tro

Kakio Tomizawa

Bài haiku này, làm nổi bật hình ảnh “chiếc cặp tóc”, thể hiện một phong cách mới. Trong khi nhiều người nghĩ haiku chỉ là một thể thơ truyền thống, những hướng tiếp cận như thế này, tiếp nối tinh thần cách tân của Shiki, có thể được xem là tương đối sớm trong lịch sử haiku.

Đa phần các nhà thơ Nhật đều viết haiku trong một dòng, haiku nhiều dòng là một thử nghiệm mới ở nửa cuối thế kỷ 20.

Holding a lyre

a nameless

god

drifted ashore[5]

Cầm cây đàn lia

một vị thần

không tên

trôi giạt vào bờ

Shigenobu Takayanagi

Đi tìm Tinh thần Haiku

Định nghĩa chính xác về thể thơ haiku trên thế giới gần như là điều không thể. Dẫu chỉ xét trong nước Nhật, ý niệm “thể thơ cố định về bốn mùa” lấy từ bách khoa toàn thư cũng không thể đem áp dụng cho toàn bộ lịch sử haiku Nhật được. Do đó, định nghĩa về haiku hiện đại ở Nhật cũng như trên thế giới nên là “một thể thơ ngắn mang tinh thần haiku truyền thống, bảo tồn những giá trị đậm chất thơ của nó, và đồng thời truy cầu những tinh thần haiku mới”. Bất cứ bài haiku xuất sắc nào cũng biểu lộ ý niệm này. Bởi thế, haiku cốt ở cái tinh thần, không phải ở hình thức: Điểm mấu chốt không nằm ở phong cách mà ở chính cái tinh thần của haiku. Vậy tinh thần haiku là gì? Quả thực, nhận định chính xác điều này cũng thật khó. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng đó là một cảm thức mà thể thơ haiku có được từ khởi nguồn của nó, và các thi sỹ haiku có thể cảm nhận một cách vô thức. Sau tất cả, haiku có thể dung hòa cả tinh thần truyền thống lẫn cách tân.

TOSHIO KIMURA

ĐINH TRẦN PHƯƠNG dịch

World Haiku số 13 của WHA, 2017

[1] Jack Kerouac, Book of Haikus (Penguin, 2003), tr. 4.

[2] Hosai Ozaki, “The Sky”, Japanese Poets Collection 30 (Shincho-sha, 1969), tr. 133.

[3] Ban’ya Natsuishi, World Haiku 10 (Shichigatsudo, 2014), tr. 40.

[4] Kakio Tomizawa, “Revelation”, The World of Modern Haiku Vol. 16 (Asahi, 1985), tr. 98. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

[5] Shigenobu Takayanagi, “Collection of Mountains and Oceans”, Complete Works of Shigenobu Takayanagi Vol. 1 (Rippu Shobo, 1985), tr. 194. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

dịch thuật haiku Nhật hiện đại haiku thế giới lý luận Toshio Kimura

Trở Về Tuổi Thơ Cùng Những Bộ Anime Hay Nhất Mọi Thời Đại / 2023

One Piece – Đảo Hải Tặc là bộ phim xuất sắc khi nói đến những bộ phim hoạt hình anime hay nhất. Được lên sóng trên đài truyền hình Nhật Bản lần đầu tiên vào năm 1999, câu chuyện về cuộc hành trình của thuyền trưởng Luffy Mũ Rơm và các đồng đội đã tạo ra một tiếng vang lớn. Từ lúc lên sóng lên đầu tiên, đã có đến 13 bộ phim One Piece được ra đời và phát sóng liên tục vào các kỳ nghỉ xuân của học sinh Nhật. One Piece liên tục nằm trong danh sách những bộ anime hay nhất dành cho thiếu niên nhiều năm liền từ năm 2001 đến 2006, được tải về rất nhiều và được rất nhiều khán giả cũng như những nhà chuyên môn đánh giá cao từ nét vẽ sống động, nội dung sáng tạo và đầy trí tưởng tượng đến những cảm xúc đầy thú vị và mới lạ. Nếu là một fan cuồng của thể loại anime, chắc chắn bạn không thể bỏ qua bộ phim này rồi.

Death Note được lên sóng lần đầu tiên vào năm 2006 và kết thúc vào tháng 6 năm 2007. Mặc dù chỉ có 37 tập được phát sóng nhưng không thể nghi ngờ, Death Note chính là bộ phim được khán giả Nhật Bản lựa chọn là phim hoạt hình anime hay nhất.

Đây là câu chuyện xoay quanh cậu học sinh cấp 3 Yagami Raito (Kira), trong một lần vô tình đã nhặt được một cuốn sổ có tên “Death Note” – những ai được ghi tên vào quyển sổ này đều sẽ phải chết. Cuốn sổ này và Kari đã gây ra những cái chết thần bí không lí do và kinh động tới sự chú ý của cảnh sát quốc tế cũng như một vị thám tử tài ba tên L. Và cuộc chơi mèo vờn chuột giữa Kira và L bắt đầu từ đó.

Death Note có thể nói là một cốt truyện không mới nhưng được biến tấu theo một cách mới lạ và đầy thú vị. Người xem dường như không thể bỏ qua được những cuộc chiến cân não giữa hai thiếu niên tài giỏi này. Không có gì lạ khi nó thu hút được một lượng fan anime cực kì đông đảo.

Nhắc tới top những anime hay nhất, thật sai lầm khi không nhắc đến bộ phim đình đám Naruto – được chuyển thể từ bộ truyện cùng tên.

Đây là câu chuyện về quá trình lớn lên và trưởng thành của Naruto – một cậu bé có tuổi thơ bất hạnh khi thiếu thốn tình thương của cha mẹ và còn bị mọi người hắt hủi. Nhưng nhờ sự cố gắng của bản thân, cuối cùng Naruto đã tốt nghiệp được học viện ninja và sự kiện này đã mở ra một cánh cửa mới trong cuộc đời cậu, định nghĩa lại thế giới của cậu.

Bộ anime này được phát sóng vào năm 2002 và hoàn thành vào năm 2007 với 220 tập bao gồm 130 tập đầu được lấy từ 27 tập truyện và 90 tập sau là những phần bổ sung. Dù đã kết thúc từ rất lâu, nhưng Naruto vẫn luôn là bộ phim được tìm kiếm và thưởng thức rất nhiều trên internet cho đến tận bây giờ tựa như sức hấp dẫn của nó vẫn chưa bao giờ phai nhạt đi vậy. Chính nhân vật Naruto giả tưởng và cuộc hành trình của cậu ấy đã mang lại cho chúng ta nhiều bài học vô giá và đầy tính nhân văn trong cuộc sống.

Fairy Tail có thể được công nhận như một bộ anime phép thuật hay nhất dành cho thiếu niên.

Tên phim được lấy từ tên của một hội pháp sư rất mạnh ở Fiore, nổi tiếng với việc phá hoại mọi thứ. Bộ phim này được phát sóng lần đầu vào năm 2009 và đến năm 2013 thì câu chuyện kết thúc với gần 100 tập phim được mua lại bản quyền và chiếu tại Việt Nam vào năm 2014 – 2015.

Bộ phim anime này nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình và khán giả nhờ vào những giá trị nhân văn mà nó mang lại. Fairy Tail là những bài học đáng nhớ về tình bạn, tình đồng đội, tình thân và họ là một gia đình đúng nghĩa, họ đem những thứ tốt đẹp đến thế giới và đưa chúng ta chạm tới những giá trị chân-thiện-mỹ đẹp đẽ hơn.

Dragon Ball Z – 7 viên ngọc rồng có thể nói là một trong các bộ anime hay nhất trên toàn thế giới. Mỗi ngày, không ít người đều chờ mỗi tập phim của nó được phát sóng. Không chỉ là một bộ manga tuyệt vời mà Dragon Ball Z cũng là một bộ anime xuất sắc, nhận được đánh giá cao của các nhà phê bình về tất cả mọi thứ từ lời bình, cốt truyện đến từng lời thoại trong phim.

Bộ phim anime Dragon Ball Z được lên sóng lần đầu vào năm 1989 và kết thúc vào năm 1996 với 291 tập được phát sóng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới và thu hút lượng khán giả khổng lồ. Cho đến tận ngày nay, loạt phim 7 viên ngọc rồng này vẫn chưa từng hết hấp dẫn đối với lứa tuổi thiếu niên.

Những Truyện Cười Ngắn Hay Nhất Mọi Thời Đại: / 2023

Tên quê: Ba đứa con Tí đang dạy anh một bài học về Địa lý. Chợt Tí quay sang hỏi Ba: -Bà, sao có Áo mà không có Quần? Ba con nhỏ suy nghĩ một hồi rồi nổi khùng lên: -Con học hành gì mà hỏi ngu thế, bố mẹ tốn cơm thế nào? Vậy nếu chúng ta có quần, làm sao chúng ta có thể nhìn thấy nước … Cuba?

Có một đứa bé đi học về khoe với bố: – Bố ơi, hôm nay con chở một bà già qua đường. Cha anh vỗ đầu khen ngợi anh. Ngày hôm sau, anh ta và ba người bạn khác quay lại và nói: – Bố ơi, chúng con vừa dẫn một bà già qua đường. Bố anh lại khen và cho mỗi đứa một viên kẹo. Hôm sau, anh thắng đứa trẻ kéo cả lớp về nhà và nói – Ba ơi, chúng con vừa dẫn một bà già qua đường. Bố anh vẫn khen và cho kẹo, nhưng hỏi: – Con dẫn bà già qua đường chưa? Cậu bé liền đáp: – Bố tưởng dễ, cô đánh như điên cho cả lớp kéo qua.

Một cô gái gọi điện tán tỉnh và nói: – Mau vào nhà em đi, không có ai ở nhà !!! Nhanh lên !!! Cô bạn phóng xe đến nhà cô bạn, bấm chuông và là …………. KHÔNG CÓ MỘT NGÔI NHÀ THẬT SỰ !!!

Một người đàn ông giàu có và một nữ tu sĩ đi chơi gôn. Đánh trượt đầu tiên, phú ông thốt lên: “Trời ơi, trượt !!!” Nữ tử liền nói: “Nếu chủ nhân không gọi Thần như vậy, sẽ bị thần đánh chết.” Đến lần bắn trượt thứ hai, anh lại khóc: “Trời ơi, bắn trượt !!!” Nữ tử nói: “Xin đừng gọi nữa, gọi lại sẽ bị sét đánh.”. Anh thốt lên: “Trời, trượt !!!” Bỗng có một tiếng nổ rất lớn, mọi người quay lại thì thấy ni cô bị sét đánh. Bỗng một giọng nói từ trên trời vọng xuống: “SKIN OH, HANG !!!”

Cá nói: Tôi không bao giờ nhìn thấy nước mắt của tôi, bởi vì tôi sống trong nước … Nước nói: Tôi có thể cảm nhận được nước mắt của bạn, bởi vì bạn luôn sống trong trái tim tôi … Cá nói: Tôi yêu bạn! Tôi luôn mở to mắt để bạn có thể chảy vào trong tôi, để tôi luôn có thể nhìn thấy bạn! Nước nói: Tôi yêu bạn! Anh luôn ở bên em, để anh có thể quấn lấy em, để anh có thể ôm em vào lòng…. Nồi báo: Sắp sôi rồi! Vẫn còn đó để tâm sự !!! “Dấu chấm hết cho một cuộc tình”

Tôi hỏi bố: “Phân chia giai cấp là gì vậy bố?” Bố trả lời: “Lấy nhà tôi làm ví dụ, nếu tôi kiếm tiền, bố tôi là giai cấp tư bản, mẹ tôi dẫn dắt bà mẹ, mẹ tôi là chính phủ, con cái là người dân, và em trai tôi là tương lai, quản gia là lớp của tôi. ” mức lao động “. Tối hôm đó, bé đi đại tiện, bé trai đi tìm mẹ thì thấy mẹ ngủ say, vào phòng giúp việc thì tìm bố…. Sáng hôm sau, bố hỏi: “Hôm qua con đã hiểu chưa?” Tôi trả lời: “Giai cấp tư bản đè đầu cưỡi cổ giai cấp công nhân, còn chính quyền thì ngủ quên không biết gì, tương lai thì bẩn thỉu, dân chúng không biết làm gì”.

Bạn đang xem bài viết Một Trăm Khúc Haiku Hay Nhất Mọi Thời Đại – Câu Lạc Bộ Haiku Việt / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!