Xem Nhiều 12/2022 #️ Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục / 2023 # Top 16 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyện truyền kì là một loại hình tự sự bằng văn xuôi, thuộc văn học viết. Theo Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 293), thì truyện truyền kì Trung Quốc thường có bố cục gồm ba phần: a) Mở đầu: giới thiệu nhân vật (tên họ, quê quán, tính tình phẩm hạnh); b) Kể chuyện: kể các chuyện kì ngộ, lạ lùng; c) Kết thúc: nêu lí do kể chuyện. Các tác giả Việt Nam theo truyền thống truyền kì Trung Quốc, nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử.

Về một số đặc điểm khác của truyện truyền kì, tài liệu vừa nêu (tr. 295- 296), viết (lược ghi):

– Truyện có cốt truyện hoàn chỉnh như những tác phẩm nghệ thuật, có thắt nút, phát triển và mở nút.

– Truyện có thể kết thúc có hậu hay không.

– Truyện chú trọng vào việc hơn là chú trọng vào người, lấy việc mà biểu hiện người, răn người.

Truyện cổ tích thế tục(1) là một trong ba tiểu thể loại của truyện cổ tích (truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục, và truyện cổ tích loài vật). Truyện cổ tích thế tục được phân biệt với hai tiểu loại kia:

– So với tiểu loại truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kì(2), truyện phát triển chủ yếu theo logic thực tại, gồm hoàn cảnh, tính cách của nhân vật.

– So với tiểu loại truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thế tục không có nhân vật chính là các con vật nhằm phản ánh sinh hoạt, đặc điểm của chúng, cả việc giải thích nguồn gốc các hình dạng bề ngoài mà chúng hiện có.

2. Phân định giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích thế tục

2.1. Xét 262 mẩu truyện truyền kì được chọn vào Truyện truyền kì Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009, 3 quyển – viết tắt: [TTK])(3), có thể thấy khái niệm “truyện truyền kì” không chỉ giới hạn vào thời trung đại, mà còn mở rộng đến các tác giả thời hiện đại: Nhất Linh, Thế Lữ, Tchya, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển,… Điều đặt ra ở đây, là có khá nhiều mẩu truyện được chép ở tài liệu này, đồng thời, cũng được nhiều bộ sưu tập truyện cổ tích ghi nhận, một số chúng là truyện cổ tích thần kì, số khác là truyện cổ tích thế tục.

TT

Tên truyện

Tài liệu gốc của [TTK/II]

Số thứ tự và số trang ở [TTK/II]

Tài liệu sưu tập truyện cổ tích (hay truyện cổ dân gian) có chép truyện này

1

“Ác báo”; “Tiếc gà chôn mẹ”; “Sự tích thằng trời trồng”

Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề)

57/ tr. 46-47

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 398-399); b) Nghìn năm bia miệng, tập I (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65-67)

2

“Sống lại”; “Anh chàng họ Đào”

Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)

81/ tr. 108- 109

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 1336-1339)

3

“Chứa ác tự hại”; “Bò béo, bò gầy”; “Làng cướp”

Sơn cư tạp thuật (Khuyết danh)

115/ tr. 182- 183

a) Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 302- 305); b) Truyện cổ Hoa Lư (Phạm Vĩnh, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993, tr. 63-70).

4

“Tiết phụ hai chồng”

Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục)

158/ tr. 495- 497

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (sđd., tr. 424-426)

2.2. Vấn đề đặt ra là giữa truyện truyền kì và truyện cổ tích nói chung, cổ tích thế tục nói riêng, có quan hệ ra sao, mà lại có nhiều truyện nằm ở phần giao(4) của hai loại như thế? Câu trả lời, là do có khá nhiều truyện truyền kì xuất phát từ truyện kể dân gian, trước khi được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, và sự thiếu nhất quán về khái niệm “truyện truyền kì” ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, của người đời sau.

2.2.1. Với ý thứ nhất, giả sử có một truyện A lưu truyền trong dân gian, thì các sự việc, tình tiết của nó thường phiếm chỉ. Tức tên tuổi, quê quán của nhân vật, nếu có, hay bị lược đi. Bởi có thế thì nó mới dễ dàng được kể một cách rộng khắp ở nhiều giới, nhiều hạng người, và các địa bàn khác nhau. Trong lúc, một nhà văn muốn sử dụng A để chế tác thành truyện truyền kì, thì lại theo hướng ngược lại: nhà văn này sẽ cá thể hóa, cụ thể hóa các nhân vật, sự việc. Bấy giờ, họ tên, xã huyện, thời đại xuất hiện. Điều này thường được giải thích do phong cách của mỗi bên.

(1) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình sưu tập truyện cổ tích.

Ngày xưa, nhà nọ có người con gái xinh xắn, nết na. Lúc nàng lớn lên, một người học trò nghèo họ Đỗ đưa trầu cau đến hỏi làm vợ. Chàng là một tay văn hay chữ tốt, tính nết rất hiền lành. Thấy thế, người cha cô gái vui lòng hứa hôn, cô gái sung sướng được người chồng tử tế. Lễ cưới vừa xong thì cha nàng nhuốm bệnh qua đời.

Cô gái về nhà chồng một niềm trinh thuận. Chồng cô là người mồ côi cha mẹ. Gia tài chỉ có một đám vườn nhỏ với mấy quyển sách, nhưng họ sống trong bầu không khí hòa nhã, yêu thương. Chồng đọc sách, vợ quay tơ, thú gia đình tưởng không ai hơn được.

Ít lâu sau, đột nhiên người chồng mắc bệnh hủi. Người vợ lo lắng tìm thầy chạy thuốc. Phải bán luôn nữ trang của mình, bán cả đám vườn đang ở để dùng vào việc chữa chạy cho chồng. Nhưng bệnh mỗi ngày một nặng, cho đến lúc hết phương điều trị. Duy chỉ có người vợ ngày ngày hầu hạ chu tất không chút quản ngại. Thấy thế, anh chàng thương vợ quá. Chàng cho phép vợ li dị để mặc mình với số phận. Nhưng người vợ nhất định không nghe, nàng nói:

– Vợ chồng là nghĩa lâu dài, còn bệnh tật của chàng chẳng qua là sự không may. Thiếp xin cùng chung số phận với chàng, không đi đâu cả.

Nhưng bệnh của người chồng ngày một đáng sợ hơn. Anh chồng luôn cố khuyên vợ trở về với mẹ đẻ, để khỏi vì mình mà khổ thân, tuy vậy vợ vẫn kiên quyết ở lại. Một hôm, để cho vợ khỏi chịu thiệt thòi, chồng cất bước lẻn đi, để lại cho vợ một phong thư, nói rằng mình sẽ không bao giờ trở về nhà nữa, và cho phép vợ tự do đi lấy chồng khác.

Sau khi chồng đi biệt, người vợ chảy không biết bao nhiêu là nước mắt. Mẹ đẻ của nàng khuyên con đi lấy chồng khác, nhưng nàng không chịu. Ba năm trôi qua, tin tức chồng vắng bặt. Nhiều người đoán rằng chàng đã quyên sinh cho khỏi đau khổ. Rồi người vợ trả nhà cửa cho họ hàng nhà chồng, trở về với mẹ đẻ, lập bàn thờ, coi như chồng đã chết. Người mẹ nàng luôn luôn bảo rằng:

– Con thủ tiết với chồng như thế là trọn đạo. Không nên bỏ phí xuân xanh một đời.

Thấy nàng xinh đẹp lại có đức hạnh, nhiều người muốn hỏi làm vợ, trong đó có người học trò họ Nguyễn. Tin qua mối lại xôn xao làm cho nàng không tự chủ được. Cuối cùng, nàng đành nhận lời đi bước nữa cùng với anh chàng họ Nguyễn. Về với chồng mới được ba năm, nàng sinh được hai người con trai. Hai vợ chồng rất tương đắc. Người học trò họ Nguyễn sau đó thi đậu tiến sĩ và được bổ làm án sát Sơn Tây.

Năm nọ ở Sơn Tây và các trấn lân cận mất mùa to, giá thóc gạo cao lên vùn vụt. Khắp mọi nơi đều có người chết. Đường sá, chợ búa đầy những đoàn người đói khổ đi kiếm miếng ăn. Quan án được lệnh đi phát gạo cho người đói.

Lại nói, chuyện anh chàng họ Đỗ từ khi trốn vợ ra đi, nhất quyết không trở về quê nữa. Chàng không muốn vì mình mà khổ đời một người đàn bà. Chàng cứ đi lang thang nay đây mai đó, sống bằng nghề bị gậy. Cứ như thế sau năm năm, bệnh của chàng vẫn như cũ, và chàng vẫn sống một cuộc đời đơn độc và đau khổ. Hôm ấy, nghe tin có cuộc phát chẩn, chàng lần mò tìm tới, nhập vào đội quân lĩnh chẩn.

Đến phiên được lĩnh, chàng kêu lên: “Tôi là học trò yếu đuối, tàn tật, không rá không mủng, không nồi không niêu, nên không muốn xin gạo, chỉ muốn xin ít tiền cho tiện…”. Nghe thế, quan án cho gọi chàng tới, hỏi mấy câu về văn chương, quả nhiên, anh chàng bề ngoài tuy rách rưới, tiều tụy, nhưng đối đáp rất trôi chảy, thơ phú, điển tích cũng phong phú. Sẵn có lòng yêu người tài giỏi, ông bèn đặc biệt lấy tiền ra cho, lại có phần hậu hơn những kẻ khác.

Khi về dinh, quan án thuật lại chuyện vừa rồi cho vợ nghe. Thấy tả hình dáng, người đàn bà ngờ rằng đó là người chồng cũ. Nàng ra chợ tìm cách đứng nấp để xem mặt, thì đúng là người chồng ngày xưa. Tự nhiên lòng thương chồng cũ nay lại bừng bừng bốc lên. Nàng phải nuốt thầm những giọt nước mắt, vì mình đang ở vào một tình thế khó xử. Suy đi nghĩ lại mãi, cuối cùng nàng dùng lời nói khéo cố khuyên người chồng mới đưa “người học trò khó mà có tài” đó về dinh, cho ở một gian lều sau trại. Như thế vừa làm được một việc nghĩa, vừa có người làm bạn văn chương. Được người chồng mới ưng thuận, nàng sung sướng vô hạn. Từ đó, ngầm sai người hầu chu cấp, chăm nom tử tế. Có điều, nàng không bao giờ để lộ một hành động gì cho chồng biết, và cũng không bao giờ cho người chồng cũ thấy mặt.

Người chồng cũ, hôm nọ đau bụng đi tả, vào giữa đêm khuya bị khát quá, bèn lần ra một cái chum gần trại múc nước uống. Hôm sau, chàng mới biết là mình uống nhầm phải một thứ nước trong đó có một con rắn trắng chết. Nhưng thật không ngờ, một thời gian sau những mụn hủi lở chốc bay hết, và dần dần bệnh tự nhiên lành hẳn; da thịt của chàng trở lại trắng trẻo như xưa. Rồi chàng ôn luyện kinh sử. Và nhờ sự giúp đỡ tận tình của quan án, chàng lại quẩy lều chõng đi thi.

Tất cả những việc đó xảy ra làm cho người đàn bà vừa vui mừng vừa đau khổ. Nàng thấy mình không thể chịu đựng âm thầm mãi như vậy được. Khi nghe tin người chồng cũ đậu tiến sĩ, sắp sửa vinh quy, nàng viết một bức thư rất dài kể hết nỗi lòng của mình cho người chồng mới biết. Nàng xin chồng tha lỗi về sự giấu giếm của mình từ bấy lâu nay. Có hai đứa con trai, nàng xin một đứa cho làm con nuôi ông nghè mới. Đoạn nàng trốn chồng con, bỏ đi biệt.

(Nguồn: Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, sđd., tr. 424-426)

(2) TIẾT PHỤ HAI CHỒNG qua một công trình về truyện truyền kì.

Đời nhà Lí, ở xã nọ thuộc huyện Nam Chân, có một nhà sinh được người con gái, từ lúc tóc còn tết bím đã thông minh không mấy người đọ nổi, lại biết chữ nghĩa và không hay buông thả nói cười. Cha nàng lấy làm lạ, lúc sắp mất dặn lại vợ rằng:

– Con gái ta lớn lên, thế nào cũng phải gả về anh nho sinh Mỗ làng nọ.

Rồi ông quay sang nói với con:

– Con hãy nhớ lấy lời cha, đừng gá nghĩa với ai khác.

Nói xong, ông tắt nghỉ.

Về sau, chàng nho sinh Mỗ nghe tin, bèn đến xin hỏi cô gái làm vợ. Vợ chồng rất tương đắc. Nhưng chỉ được ít lâu, chàng bỗng mắc bệnh hủi, không ai dám tới gần, mọi việc đều cậy nhờ vào vợ. Vợ một niềm kính yêu săn sóc, không chút nề hà. Đám trai trẻ tinh quái trong làng gặp nàng giữa đường, thường nhại bài thơ của Bạch Cư Dị để giễu:

Lưu Cương dữ phụ cộng thăng tiên Lộng Ngọc tùy phu diệc thướng thiên Hà tự nhi gia phu phụ hảo Hà cô Lí lão hợp sàng miên.

(Lưu Cương cùng vợ lên tiên Theo chồng, Lộng Ngọc cũng lên cõi trời Ai như nhà chị tốt đôi Cô Hà lão Lí cùng ngơi một giường)(5)

Người chồng biết chuyện, thẹn mình mắc chứng bệnh lạ lùng làm lụy đến vợ, bèn cho phép vợ cải giá. Nàng khóc lóc mà nói:

– Còn lời cha trăng trối đấy thì sao? Chẳng lẽ khi lành lặn thì ở với nhau, gặp lúc ốm đau lại chia lìa, thần nào chứng cho!

Rồi nàng nhất quyết không nghe. Chồng bèn thừa cơ trốn đi. Cả nhà tìm khắp, nhưng biệt tăm chẳng còn tung tích. Dẫu thế, nàng vẫn thề không đổi tiết. Mẹ đẻ nàng rất bực, nói dỗi:

– Chồng mày bị tàn tật, mà nay cũng còn đâu nữa. Mày định làm bà vãi ư? Thì tao biết nương tựa vai ai bây giờ?

Vừa lúc ấy, có anh học trò cũng người trong quận đến xin hỏi, bà mẹ bắt ép nàng phải nhận lời. Được vài năm, nàng sinh hai con trai, rồi người chồng lại thi đỗ, trải thăng đến chức đề hình tỉnh Sơn Tây.

Gặp năm đói kém, quan đề hình phụng mệnh vua đi phát chẩn cho dân. Bấy giờ, người ăn xin tụ tập đông như quạ, cả người học trò bị bệnh hủi kia cũng có mặt ở đấy. Khi phát gạo cho anh, anh không nhận, nói:

– Tôi ốm yếu đã lâu, không nấu nướng được, và cũng không có nồi, lấy gạo làm gì?

Đề hình nghe, lấy làm lạ, gọi anh đến hỏi:

– Anh là học trò ư? Là học trò hẳn cũng biết, người xưa những ai từng phải đi ăn xin chứ?

Chàng hủi lần lượt kể tên các ông Ngũ Viên, Đào Tiềm, Vương Bá(6),…, để đáp lại, lời lẽ rất trôi chảy. Quan lại càng lấy làm lạ, cấp cho một ít tiền, và sau khi về dinh rồi, vẫn còn than thở mãi. Thấy thế, phu nhân gạn hỏi lí do, ông nói:

– Vừa rồi, tôi đi phát chẩn, có người ăn xin là học trò, lại bị bệnh hủi, tôi đặt mấy câu hỏi khó, anh ta đều ứng đối được cả. Tội nghiệp con người như thế mà sao lại mắc bệnh hiểm nghèo thế chẳng biết!

Nàng nghe, ngờ là chồng cũ của mình, bèn lựa lời bảo chồng:

– Chí thành là đức của người danh sĩ. Ông tiếc gì một chút công khó, nỡ để cho người có học phải lụy với kiếp trong trần ư?

Quan thấy thế, liền cho gọi anh học trò hủi đến. Nàng dòm trộm thì quả là chồng cũ của mình, bèn khuyên ông cho anh ở nhờ trong nhà, và chu cấp rất hậu. Từ đó, bao giờ nàng cũng bận quần lót, thắt dây lưng thật chặt, và không chịu chung chăn gối với chồng nữa, chẳng ai hiểu là vì duyên cớ gì.

Một đêm kia, chàng hủi bỗng mắc bệnh đau bụng tháo dạ, mình nóng miệng khát, phải lần mò ra sân vục xuống uống nước trong một cái ang. Thế rồi, sáng hôm sau, bệnh hủi bỗng biến đâu mất. Xem lại, thì ra trong ang có con rắn trắng chết nằm trong ấy. Quan đề hình biết lấy làm mừng lắm, khuyên anh dự kì thi hương. Khoa ấy, anh đỗ hiếu liêm(7), rồi mùa xuân năm sau, lại đỗ luôn tiến sĩ.

Tin mừng về đến dinh, phu nhân bỗng ăn mặc chỉnh tề, bước ra nhà ngoài, lạy chồng mà nói:

– Thiếp là người không giữ tiết, chẳng đáng sống nữa làm gì; may được hầu khăn lược, đã có hai con trai, nay con lớn để lại thờ chàng, xin để đứa con thứ hai cho quan nghè mới, được thế, thiếp không còn ân hận gì nữa.

Dứt lời, nàng nuốt liều thuốc độc chết ngay. Chồng rất đỗi kinh ngạc. Đến khi vị tân khoa tiến sĩ vinh quy về tới nhà, nói chuyện với nhau, mới rõ nguồn cơn, bèn đem việc ấy tâu lên triều đình. Vua bèn ban cờ biển đề mấy chữ Lưỡng phu trinh tiết, nghĩa là tiết phụ hai chồng.

Vân Sử thị bàn rằng: Đã lấy hai chồng sao lại được gọi là trinh tiết? Vì có lấy hai chồng mới rõ tiết tháo của nàng. Nếu lấy anh chồng hủi mà trọn đời hài hòa cầm sắt thì cũng chỉ là cặp vợ chồng tốt mà thôi, chứ sao rõ ra được là người trinh tiết? Ta thấy người đời được lụa quên sồi, có mới nới cũ, có người lại còn ôm tả ấp hữu, ngủ đông ăn tây, đĩ già hoàn lương mà chồng còn cho là trinh. Đời mạt, ít có người hoàn toàn, thì gọi là “tiết phụ hai chồng” cũng được.

(Nguồn: Phạm Đình Dục, Vân nang tiểu sử, Nguyễn Đức Vân dịch – dẫn lại, theo: [TTK/II, 495-497])

So sánh hai văn bản vừa dẫn, ngoài những sự khác biệt như đã nêu, còn nhận ra:

– Nếu truyện cổ tích nhằm hướng tới những người bình thường (ngày trước, đa số là không biết chữ), thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người có học và giới quan lại. Có thể thấy điều này, khi ở truyện truyền kì, tên các học vị, chức vụ chuẩn xác, câu hỏi của quan đề hình và lời đáp của anh học trò bị hủi khá bài bản, đặc biệt là bài thơ giễu đầy ắp các nhân vật trong sách vở Trung Hoa xưa, là những điều khó gặp ở truyện cổ tích – chưa nói đến chất giọng, quan niệm của người kể chuyện, một mực hướng về, hay bảo vệ tầng lớp nho sĩ.

Ở bài “Thể loại giai thoại” (in trong: Văn học dân gian người Việt – Góc nhìn thể loại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 423), Kiều Thu Hoạch viết: “Riêng trong các sách Hán Nôm, thì những mẩu chuyện mang nội dung giai thoại được ghi chép khá phong phú, rải rác từ thời Lê đến thời Nguyễn. Trong đó, sách Công dư tiệp kí chẳng hạn, ghi chép khá nhiều giai thoại xung quanh các nho sĩ”.

Điều này cho thấy, đã có sự thiếu nhất quán về quan niệm truyện truyền kì chẳng những ở các bộ sách được cho là có tập hợp loại truyện này, mà còn ở sự nhìn nhận về nó của các nhà nghiên cứu hiện nay. Sự thiếu nhất quán này đã khiến một số truyện được [TTK] chọn tuyển, là truyện cổ tích (như đã dẫn), giai thoại (như “Giữa đồng ép cuộc mây mưa” [TTK/II, 524-526](8)),…

3. Kết luận

Điều quan trọng là tránh đồng nhất hay coi giữa chúng có “đường biên”, bởi với hai thực thể riêng biệt thuộc hai lĩnh vực khác loại, đó là điều không thể. Nói cách khác, cái gọi là phần giao đã nói chỉ là một sự tương ứng về sự việc được đề cập hay phản ánh (chứ không phải cùng đường biên mà có).

T.N   (TCSH330/08-2016)

——————– 1. Khái niệm “Truyện cổ tích thế tục” ở đây, tương ứng với “truyện cổ tích sinh hoạt”, “truyện cổ tích  sinh hoạt xã hội”, “truyện cổ tích thế sự”,… Đồng thời, nó là một dạng viết tắt của “Truyện cổ tích  thế tục Việt Nam”, bao gồm truyện cổ tích thế tục của người Kinh, và truyện cổ tích thế tục của  người thiểu số.

2. Yếu tố thần kì gồm ba dạng cơ bản và một dạng kết hợp, như sau:

– Dạng 1:Các đối tượng siêu nhiên và chỗ trú ngụ của họ: Bụt, thần tiên, ma quỷ,…; thiên đình,  thủy cung, địa phủ,… – Dạng 2:Các con vật, cây cối có tài phép: trăn tinh; đại bàng; con vật biết nói năng, hành động  như người; cây chặt không đứt;…   – Dạng 3:Các đồ vật có phép lạ: cây đàn thần; búa thần; gậy thần;… – Dạng 4:Sự kết hợp: a) Kết hợp giữa ba dạng 1, 2 và 3 với nhau: thần tiên biến thành con vật,  cây cối và ngược lại; đồ vật biến thành con vật, cây cối và ngược lại;… b) Kết hợp giữa con người  với ba dạng 1, 2 và 3: người được sinh đẻ và trưởng thành bất thường; người có tài phép như thần  tiên, ma quỷ; người lấy thần tiên, ma quỷ; người mang lốt con vật, cây quả; người hóa thành con  vật, cây cối, đồ vật;…   Đã là truyện cổ tích thần kì thì phải có yếu tố thần kì, còn truyện cổ tích thế tục thì không có yếu  tố ấy.

3. Tài liệu này chọn truyện từ 21 tập truyện chữ Hán (như: Công dư tiếp kí – Vũ Phương Đề; Lan Trì  kiến văn lục – Vũ Trinh; Vân nang tiểu sử -Phạm Đình Dục;…); 11 tập truyện quốc ngữ (như: Trại  Bồ Tùng Linh -Thế Lữ; Báo oán – Nguyễn Tuân; Nằm vạ – Bùi Hiển;…).  

4. Giao là một khái niệm được dùng khi tìm hiểu về tập hợp (giao của A và B là một tập hợp, gồm  những phần tử thuộc cả A và B); ở đây, được mượn dùng.

5. Theo nguyên chú, bài thơ của Bạch Cư Dị (772-846) chỉ khác hai câu sau: “Hà dĩ Sa Kha lĩnh Thôi  tẩu/ Bích du chàng dẫn hướng Tần Xuyên” (Sao lại như Sa Kha đưa chị họ Thôi đi/ Cờ biếc dẫn  tới đất Tần Xuyên). Các tên Lưu Cương, Lộng Ngọc, Hà cô, Lí lão trong bài thơ phóng tác, đều là  nhân vật thần tiên.  

6. Ngũ Viên (?-484 tr. CN), người đời Xuân Thu; Đào Tiềm (khoảng 365-427), người đời Tấn; Vương  Bá, người đời Đường. Cả ba đều là người hiền tài gặp vận đen, phải tạm ăn nhờ người khác.  

7. Hiếu liêm: chỉ học vị cử nhân (đời Minh và đời Thanh, Trung Quốc, gọi người đỗ cử nhân là  hiếu liêm).

8. Kể việc Nguyễn Công Trứ thuở chưa gặp thời, rất thích một nàng ca kĩ. Ông quảy gánh đi theo  phục vụ việc ca hát của nàng ấy ở khắp nơi. Một hôm, khi nàng ca kĩ cùng ông và một chú bé mang  đàn theo hầu đi ngang qua một cách đồng vắng vẻ, ông vờ bảo quên mang theo dây đàn, khiến chú  bé phải chạy về lấy. Bấy giờ, ông ép nàng vào cuộc mây mưa. Nàng không chống cự nổi đành phải  để mặc ông làm gì thì làm. Lúc ông hành sự, nàng có rên mấy tiếng “ứ hự”, vẻ nửa miễn cưỡng,  nửa bằng lòng. Sau đó, ông tìm đường lỉnh đi. Về sau, Nguyễn Công Trứ đỗ đạt, ra làm quan. Một  lần, nhân ngày sinh nhật của mình, ông triệu các con hát nổi tiếng ở nhiều nơi đến giúp vui. Nàng  ca kĩ ngày xưa cũng đến dự. Nàng nhận ra ông quan chính là anh đầy tớ ngày nào, bèn hát rằng:   “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ không?”. Nghe nhắc lại chuyện  xưa, ông nhớ ra, bèn bỏ ra nghìn vàng, cưới nàng làm vợ lẽ. Truyện này được chép ở nhiều tài liệu sưu tập giai thoại, như: a) Trương Chính, Thơ văn Nguyễn Công  Trứ, Nxb. Văn học, 1983, tr. 163 (mục giai thoại); b) Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch, Giai thoại  văn học Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 190-192; c) Ninh Viết Giao, Văn hóa dân gian xứ  Nghệ – Tập 3: Truyện cười và giai thoại, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 537-538;…   

Phân Định Giữa Truyện Ngụ Ngôn Và Truyện Cổ Tích Loài Vật / 2023

1.2.Truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật có quan hệ khá gắn bó với nhau, việc tách bạch chúng không mấy dễ dàng. Khi xem xét mối quan hệ này, Chu Xuân Diên viết: “Ở Việt Nam, tính chất cổ xưa của loại truyện về loài vật đã bị pha trộn với khuynh hướng của người đời sau mượn truyện loài vật để nói về xã hội loài người, do đó giữa loại truyện này với truyện ngụ ngôn có những trường hợp không có sự phân biệt thật rạch ròi” (2).

Khi chỉ kể về các quan hệ giữa những con vật với nhau, người kể không thể tách rời sự việc với xã hội con người, nên hiện tượng đồ chiếu quan hệ giữa các con vật vào quan hệ của xã hội loài người, được xem là hiển nhiên (theo nguyên lí văn học phản ánh hiện thực). Những phản ánh ấy xuất phát từ các con vật và “xã hội”, môi trường sống của chúng, nên ý nghĩa của tác phẩm được nói đến nhuốm màu ngụ ngôn. Có điều, giữa ý nghĩa nhuốm màu ngụ ngôn và truyện ngụ ngôn, là hai lĩnh vực khác nhau.

Ngày xưa, có con cáo ranh ma, láu lỉnh. Hôm nọ, cáo đi kiếm ăn sớm, chẳng may gặp hổ. Cáo định lủi tránh, nhưng hổ đã nom thấy, gọi lại:

– Này, cáo! Mày có biết qua mặt tao mà không bẩm báo là tội gì không?

Cáo biết nó không gặp may rồi, nhưng cố trấn tỉnh, hỏi:

– Tao muốn đi chơi xuân với mày.

Hổ biết cáo giỏi việc trộm cắp, muốn lợi dụng cáo đưa đường chỉ lối cho mình, để việc kiếm ăn dễ dàng hơn. Hổ nói tiếp, vẻ thân thiện:

– Mày đừng có sợ! Tao cũng biết cách ăn ở sao cho hợp lẽ. Chúng mình hãy kết bạn với nhau. Nói lại: tao với mày là bạn. Rõ chưa?

Cáo nghĩ: “Hổ đã nói vậy mà mình không chơi với nó, là mình ngu”. Nó hỏi:

– Ở cái vườn bên kia dãy núi.

– Đi xa như vậy, đói bụng lấy gì ăn?

Hổ đáp, như đã chuẩn bị sẵn:

– Thì mày hãy đem theo một con gà, tao đem theo một con heo. Nếu tao ăn hết heo mà vẫn còn đói, thì có mày đây, để làm gì?

Nghe vậy, cáo xanh mặt, chực lủi trốn. Nhưng hổ cười:

– Nói chơi vậy thôi, chứ đã là bạn bè với mày, tao không ăn thịt mày đâu.

Chúng hẹn sáng mai, hai bên đem theo mồi, gặp lại nhau ở đây.

Đúng hẹn, cáo đem gà đến, hổ cõng heo tới. Thấy cáo giữ gà trong hai tay, hổ bảo:

– Mày đưa đây tao mang hết cho. Thứ gà mái của mày trăm con tao cũng mang nổi.

Cáo đắn đo: “Sức lực của hổ mạnh thế kia, nó muốn giựt thì mình cũng không giữ nổi. Thôi thì đưa phức cho rồi!”. Rồi cáo đưa gà cho hổ. Hai bên cùng đi. Đến chỗ khe suối, hổ đặt hai con mồi xuống đất, rủ cáo đi uống nước.

Khi trở lại, thấy có thêm một quả trứng, hổ nói:

– Heo làm sao lại đẻ được trứng? Con gà mái của tôi đẻ đó.

Thế là hai đứa cãi nhau kịch liệt, bất phân thắng bại. Chúng kéo nhau đi nhờ bên thứ ba phân xử.

– Này thỏ kia! Tao nói heo tao đẻ ra cái trứng này mà thằng cáo lại nói gà của nó đẻ. Mày nghĩ coi, nó nói bậy nói bạ vậy nghe có được không?

Thỏ vốn nhát gan, thấy hổ là run, nên nói nịnh:

– Xưa nay họ nhà chúng tôi ai cũng khen ông hổ tài ba lỗi lạc. Hễ có bàn tay của ông nhúng vào, thì nó đẻ ra thứ gì mà chẳng được!

Ý thỏ là hổ bảo sao thì sự việc là như vậy. Nhưng cáo vờ không hiểu, nói:

– Chú thỏ nói hàng hai, hàng ba, ai hiểu cho nổi?

Cả hai lại kéo nhau đi. Chúng gặp một con trâu đang ăn cỏ. Hổ nói:

– Này trâu kia! Tao nói heo của tao đẻ trứng, mà thằng cáo lại nói gà của nó đẻ. Vậy mày hãy nói coi, tao đúng hay nó đúng?

Trâu tuy to xác nhưng lại yếu bóng vía, rất sợ oai hổ. Nó nói:

– Ngài là chúa tể sơn lâm, mỗi lời nói ra đều là khuôn vàng thước ngọc. Vậy điều ngài nói ra là đúng!

Cáo không chịu, đòi đi hỏi nữa. Hổ giao ước:

– Sự bất quá tam, nếu lần thứ ba này gặp thằng nói như hai đứa trước, thì mày phải chịu thua tao; nộp cho tao cả gà lẫn trứng. Rõ chưa?

Cáo đồng ý. Lần này, cáo và hổ gặp khỉ. Hổ chặn khỉ lại hỏi:

– Này khỉ kia! Tao nói heo của tao đẻ trứng. Thằng thỏ, thằng trâu đều cho là phải. Trong lúc cáo lại nói gà của nó đẻ cái trứng đó. Mày xem, có phải thằng cáo nói tầm bậy không?

Khỉ nhanh trí, hiểu ngay ra sự việc. Nhưng nó ậm ừ:

– Tôi đang đói, phải đi kiếm ăn đây! Thôi, thế này vậy: hai ông cùng đi với tôi, để trên đường đi, tôi suy nghĩ kĩ việc ấy xem sao, thì mới trả lới đúng được.

Ba con cùng đi một đỗi rất xa. Hổ sốt ruột lại hỏi, khỉ tỏ vẻ lúng túng, không chịu trả lời. Ba lần như vậy. Mãi cho đến lúc cả ba tới gần một cây cổ thụ to cao, khỉ đứng lại, dõng dạc nói:

– Này hai ông, hãy nghe cho rõ tôi nói đây: gà đẻ ra trứng!

Hổ liền nổi giận, phóng tới chụp khỉ. Nhưng đã chuẩn bị trước, khỉ nhảy phốc lên cành cây. Khỉ còn chõ mõm xuống, nói:

– Ông hổ! Ông làm lớn trong chốn lục lâm, phải ăn nói đàng hoàng với kẻ dưới. Chớ ỷ lớn mà nói năng bậy bạ để vơ lợi vào mình, bất chấp sự thật và đạo lí. Như vậy thì thiên hạ không ai phục ông đâu!

– Anh khỉ! Tôi khâm phục anh đã nói đúng sự thật. Nhưng sao hồi nãy anh không chịu nói ngay?

– Hãy thông cảm cho tôi. Hồi nãy, tôi không nói, vì chưa có cái thế để nói. Nay nhờ cây cổ thụ này bảo đảm cho tôi khỏi mất mạng, tôi mới nói được sự thật.

( Nguồn: Ngô Sao Kim (2011). Truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 156-157)

Việc đánh bạn giữa hổ và cáo không xuất phát từ tình cảm thật, nên đây là một sự kết hợp làm ăn. Đã kết hợp làm ăn thì phải tương xứng, nhưng hổ thì hung bạo, bao giờ cũng muốn lấn lướt đối phương, còn cáo thì yếu đuối, vừa muốn lợi dụng kẻ mạnh vừa sợ sệt nó; nên chẳng những không tương xứng mà còn tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn đối kháng. Cặp đôi này đã không vượt nổi thử thách đầu tiên: con gà của cáo đẻ trứng, nhưng hổ lại bảo con heo của nó đẻ! Hai bên cãi nhau, bèn đi nhờ kẻ thứ ba phân xử. Thỏ và trâu run sợ oai hùm, cho hổ đúng. Đến khỉ, nó khất lời đáp lại, và cùng đi với hổ, cáo một đoạn. Lúc đứng dưới một cây cổ thụ, khỉ mới nói: “Gà đẻ ra trứng!”. Hổ giận dữ vồ khỉ, nhưng khỉ đã nhảy tót lên cây. Nó còn chõ mõm xuống mắng hổ nói năng bất chấp sự thật và đạo lí. Cáo khâm phục khỉ, nhưng nó vẫn thắc mắc: Tại sao trước một điều hiển nhiên như vậy mà khỉ lại đắn đo, không chịu nói ngay? Khỉ đáp, đại ý: vì phải tìm ra cái thế cho khỏi mất mạng đã, mới nói được.

(II) TRÂU, HỔ VÀ NGƯỜI THỢ CÀY

Ngày xửa ngày xưa, con trâu và con hổ đều biết nói. Trâu bị con người nhỏ bé dắt ra đồng cày bừa từ sáng sớm. Đứng từ ven đồi nhìn ra ruộng cày, hổ thấy trâu to lại bị con người nhỏ bé đi sau, dùng roi quật vào đít, bắt kéo cày nhanh hơn, hổ thấy rất lạ. Đến giờ nghỉ giải lao, người thợ cày cho trâu nghỉ. Con hổ đến gần hỏi con trâu:

– Sao mày to thế mà để con người bé tí kia đánh vào mông?

Con trâu giọng trầm ngâm nói với hổ:

– Mày không biết đấy thôi, con người bé nhỏ nhưng nó có trí khôn đấy.

Hổ thấy trâu nói vậy, nghĩ bụng: “Quái lạ! Sao người bé vậy mà con trâu to xác phải sợ?”.

– Anh cứ thử trêu người mà xem.

Con hổ tiến gần chỗ anh thợ cày và hỏi:

– Anh thợ cày ơi, cho tôi xem trí khôn của anh một tí?

– Nhưng mà tôi để quên trí khôn của tôi ở nhà rồi! Bây giờ, tôi về nhà lấy trí khôn ra cho anh xem. Nhưng khi tôi đi về nhà, sợ anh chạy lung tung làm tôi khó tìm. Hay là, anh để tôi lấy dây buộc tạm anh vào gốc cây để chờ?

Con hổ nghe anh thợ cày nói có lí, bèn đồng ý để cho anh ta dùng dây da trâu buộc vào gốc cây. Sau khi buộc chặt con hổ vào gốc cây, anh thợ cày bảo hổ cựa mình xem. Con hổ vùng vẫy mạnh nhưng không thể thoát ra được.

Lúc bấy giờ, anh thợ cày mới bảo với con hổ:

Nói xong, anh thợ cày dùng thân cày đánh vào đầu con hổ, cho đến khi con hổ chết mới thôi. Trong lúc đánh, miệng người thợ cày vẫn nói: “Trí khôn của ta đây!”. Con trâu nhìn thấy thế bảo với con hổ:

– Mày thấy chưa, nó bé người nhưng mà nó có lắm mưu kế.

Đồng thời, trâu khoái chí bò lăn ra cười, vô tình va vào hòn đá to làm gãy cả hàm răng trên. Từ đó trở đi, trâu không có hàm răng trên, khi nhai cỏ thì nhai bằng lợi trên với hàm răng dưới.

( Nguồn: Trần Hữu Sơn (Chủ biên) (2015), Văn hoá dân gian người Bố Y ở Lào Cai, tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 313-314)

Thằng cày mở trâu ra sắm sửa đi cày. Ra đồng cày đàng kia qua đàng nọ. Trâu mệt đà le lưỡi. Mà mắc cày ruộng gần chân núi, khi cày thì thằng trai cầm cày hò hét, đánh đập thá ví con trâu đà cơ khổ, lại thêm chửi rủa hành hạ quá chừng.

Con cọp ngồi rình trong bụi, ngó thấy vậy thì giận lắm. Đến buổi thôi cày, thằng chăn thả trâu ra đi ăn. Con cọp mới lại gần kêu con trâu, mắng nhiếc:

– Mày có vóc vạc mạnh mẽ, lại có hai cái sừng nhọn làm khí giới, sao mày không cự, không chống, lại cúi gầm đầu mà chịu nó? Mày muốn theo làm đầy tớ cho nó, để nó đánh mắng, nó trèo lưng cưỡi cổ mày sao?

Con trâu cười mà nói rằng:

– Trời sinh muôn vật mà khôn thì bao giờ cũng hơn mạnh thôi. Dù mày đi nữa cũng phải thua nó, huống chi là tao.

– Tao có nghề, lại mạnh, cho mười nó đi nữa tao cũng làm chết, lựa là một.

– Vậy thì mày đi lại đây, để tao kêu nó lại đánh với mày cho biết sức.

Cọp đồng ý. Trâu đến gọi thằng cày lại. Anh trai cày lơn tơn tiến đến, nói với cọp:

– Bây giờ tao đang đói bụng, không đánh với mày được.

– Vậy thì mày đi ăn cơm đi, rồi trở lại đây mà đánh với tao.

– Mày hay nói láo lắm! Tao bỏ về thì mày chạy mất, còn gì mà đánh?

– Mặt nào chứ mặt này chẳng thèm chạy đâu!

– Nếu đúng vậy thì để tao trói mày lại, đặng tao vào nhà ăn cơm cho no, sau đó tao trở lại mở mày ra, rồi đánh nhau. Không thì mày bỏ trốn, tao biết đâu được.

Cọp đồng ý để thằng cày trói nó. Trói xong, thằng cày chạy đi bẻ cây, quay lại đánh cọp. Cọp mắc trói thất thế, vùng vẫy không được, bị đòn mà chết.

Bấy giờ, trâu mới nói khẽ với cọp rằng:

– Tao đã nói với mày rồi mà mày không nghe! Mày chết là đáng số lắm!

Ấy là mạnh mà không mưu, ỷ thế mạnh mà khinh rẻ người ta. Có người tuy yếu thế, yếu sức mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn, mạnh thế mà thấp mưu. (3)

( Nguồn:[3, tr. 332-334/quyển IV] – trích từ: Trương Vĩnh Kí (1974), Chuyện đời xưa, Nhà sách Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, tr. 82-84)

Giả sử, truyện kết thúc sau lời của trâu nói với hổ “Tao đã nói với mày rồi mà mày không nghe! Mày chết là đáng số lắm!” (III), hay “Mày thấy chưa, nó bé người nhưng mà nó có lắm mưu kế” (II); thì hai truyện được dẫn tương tự nhau. Tức chúng có sự tương đồng về kết cấu, về ý nghĩa, và thể loại (ở đây, là thể loại ngụ ngôn). Để kiểm chứng, ta thử áp mô hình của truyện ngụ ngôn vào truyện (III) (4): a) Nhân vật kèm tính cách: một con cọp ngu dại; b) Nhân vật kèm tính cáchđứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó: cọp thấy con trâu to khoẻ phải chịu phép người cày, hỏi lí do thì trâu bảo: do người khôn ngoan, cho dù cọp cũng không đấu lại nổi; c) Nhân vật kèm tính cách đứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó,đã có hành động đáp trả phù hợp với tính cách của mình: cọp muốn thi đấu với người, người bảo đang đói không đánh nhau được, mà về ăn cơm thì cọp sẽ bỏ chạy, đề nghị được trói cọp lại; do quá muốn xem sức lực của người và bị chạm tự ái, cọp đồng ý để người trói (5); d) Nhân vật kèm tính cách đứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó, đã có hành động đáp trả phù hợp với tính cách của mình,để giành được thắng lợi hay phải chịu thua thiệt: cọp bị người đánh nhừ tử. Theo đó, đây là một kiểu truyện thuộc mô hình của truyện ngụ ngôn (6).

Nhưng đoạn kết truyện của chúng lại không như thế:

– “Ấy là mạnh mà không mưu, ỷ thế mạnh mà khinh rẻ người ta. Có người tuy yếu thế, yếu sức mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn (quyền), mạnh thế mà thấp mưu” (III).

– “Đồng thời, trâu khoái chí bò lăn ra cười, vô tình va vào hòn đá to làm gãy cả hàm răng trên. Từ đó trở đi, trâu không có hàm răng trên, khi nhai cỏ thì nhai bằng lợi trên với hàm răng dưới” (II).

Việc phân định giữa truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật, là cần thiết. Bởi đã có mối quan hệ xoắn xuýt giữa hai đối tượng này trong quá khứ. Ở cả hai bộ phận của truyện cổ tích loài vật đều có sự gắn bó theo cách riêng của chúng với truyện ngụ ngôn. Do vậy, việc “tháo gỡ” để tách bóc chúng ra phải lần theo từng bộ phận một. Bài viết này đã cố gắng giải quyết sự việc theo cách ấy.

Nhưng do dung lượng bài viết có hạn, nên có nhiều trường hợp khác phải để người đọc tự giải quyết. Như trường hợp truyện cổ tích loài vật bao hàm một hoặc nhiều truyện ngụ ngôn, hoặc không chỉ bao hàm truyện ngụ ngôn mà còn với một vài thể loại, tiểu loại khác (phần lớn số truyện này, truyện cổ tích loài vật có dung lượng lời lớn hơn hẳn thể loại, tiểu loại mà nó bao hàm – là cơ sở để có thể phân biệt).

3. Một số từ ngữ trong truyện: sắm sửa: chuẩn bị những thứ cần dùng; thá ví: tiếng hô đi sang phải hay sang trái, khi điều khiển trâu cày kéo; lựa là: lọ là, huống gì; kêu: gọi; quờn: quyền.

5. Do ngu dại nên cọp không lường được sự tráo trở của đối phương, khi mình bị thất thế.

6. Một truyện tương tự với truyện này, là “Trí khôn” (hay “Cọp và trí khôn của con người”), đã được một số tác giả xếp vào truyện ngụ ngôn (chẳng hạn, truyện này được chép ở: a) Minh Hạnh, Phan Hồng Sơn (1986), Truyện ngụ ngôn Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 126-127; b) Phạm Minh Hạnh (1993), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 269-270; c) Trương Chính (1998), Bình giải ngụ ngôn Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 105-107;…).

Vài Nét Tìm Hiểu Về Vai Trò Của Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyền Thuyết, Truyện Cổ Tích Và Truyền Kì / 2023

Như chúng ta đã biết Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động biến chuyển. Diễn tiến của văn học như một hệ thống với sự hình thành tồn tại thay đổi có mối quan hệ khăng khít chặt chẽ với thời kỳ lịch sử như hai mặt của một tờ giấy

Trong quá trình vận động Văn học phát triển trong sự kế thừa và cách tân, văn học dân gian là cội nguồn của văn học viết người sau kế thừa giá trị của người trước tạo nên giá trị mới. Sự vận động từ văn học dân gian sang văn học viết diễn ra một cách tự nhiên nhưng không nằm ngoài quy luật vận động của nền văn học. Chính văn học dân gian đã trở thành nguồn mạch mát lành nuôi dưỡng cho nền văn học viết Việt Nam ngày càng khởi sắc. Trong quá trình đó Văn học dân gian và văn học trung đại tuy là hai bộ phận văn học có phương thức sáng tác khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó rất mật thiết. Trong mối quan hệ với văn học trung đại Việt Nam thì văn học dân gian đóng vai trò là ngọn nguồn, là nền tảng. Đối với nền văn xuôi trung đại, kho tàng truyện kể dân gian có vai trò và ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành và phát triển thể loại văn học tự sự về nhiều mặt. Có thể nói kho tàng truyện kể dân gian chính là một trong những nguồn suối trong mát đã nuôi dưỡng cho khu vườn tự sự Việt Nam mãi mãi xanh tươi. Tìm hiểu tác động ngược lại của văn học trung đại đối với văn học dân gian, các nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Phan Ngọc,… chỉ ra tác động của văn học trung đại đối với việc tạo nên chất liệu, nguồn cảm hứng làm cho một số hình thức biểu hiện của văn học dân gian được nâng cao lên tầm cao mới. Trong quá trình tìm hiểu các thể loại tự sự dân gian như truyền thuyết, cổ tích và thể loại truyền kì của văn học trung đại, chúng ta nhận thấy sự hiện diện của các yếu tố kì ảo.

   Trong tác phẩm văn học, yếu tố kì ảo là cầu nối để đưa ta vào thế giới chưa biết, huyền diệu và bí ẩn trong trí tưởng tượng, vào những giấc mơ không có thật. Nó đem đến cảm giác mới lạ cho người đọc, mở ra một chân trời mới của sức tưởng tượng bay bổng. Mặt khác nó khiến con người không quay đi với đời sống thực tại mà luôn sẵn sàng đối diện, nhận thức đời sống một cách sâu sắc hơn. Trong bài viết, chúng tôi tìm hiểu vai trò các yếu tố kì ảo của văn học dân gian qua thể truyền thuyết ( Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy), truyện cổ tích thần kì ( Truyện Tấm Cám) và thể loại Truyền kì ( Chuyện chức phán sự đền Tản Viên– Trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ).

    Đến với thể loại truyện cổ tích thần kì: Chức năng của cổ tích là nhận thức con người, nhận thức những quan hệ giữa con người với con người, đồng thời giáo dục con người khát vọng hướng thiện. Truyện cổ tích là truyện hư cấu có chủ tâm và mang tính nghệ thuật . Chức năng và đặc điểm nghệ thuật ấy của truyện cổ tích biểu hiện khá rõ trong truyện cổ tích thần kì. Mang chức năng nhận thức con người, nhận thức những quan hệ giữa con người với con người…nên truyện cổ tích thần kì hướng về đời sống xã hội, lấy con người (chủ yếu là những người lao động nghèo khổ, lương thiện) làm nhân vật trung tâm. Trong truyện cổ tích thần kì, yếu tố thần kì có vai trò rất quan trọng ở việc hình thành thế giới cổ tích. Truyện cổ tích thần kì thể hiện chức năng nhận thức con người, nhận thức xã hội qua việc phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có nội dung rất quan trọng là phản ánh xung đột, mâu thuẫn xã hội. Xung đột, mâu thuẫn xã hội, khi đi vào thế giới cổ tích trở thành xung đột, mâu thuẫn truyện và yếu tố thần kì có vai trò to lớn, không thể thiếu, trong sự phát triển tình tiết, giải quyết xung đột, mâu thuẫn của truyện. Trong truyện cổ tích Tấm Cám cũng như nhiều truyện cổ tích thần kì khác xung đột trong truyện cổ tích thần kì luôn luôn được giải quyết nhờ sự can thiệp của các lực lượng thần kì. Yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì là yếu tố có vai trò biến thực tế cuộc sống thành thế giới cổ tích. Người nghe say mê thế giới cổ tích, trước hết là họ say mê chính cái thần kì trong thế giới cổ tích. Nhờ sự phù trợ của lực lượng thần kì, xung đột được giải quyết bao giờ cũng theo hướng người tốt, thật thà, lương thiện chiến thắng, hạnh phúc; kẻ xấu, tham lam, độc ác thất bại, bị trừng trị đích đáng. Sự chiến thắng và hạnh phúc của nhân vật hiền lành, lương thiện trong truyện cổ tích thần kì gần như chỉ là biểu hiện của niềm tin vào triết lí ở hiền gặp lành và ước mơ công lí của nhân dân mà thôi. Có nhận xét về truyện cổ tích cho rằng:các yếu tố thần kì tham gia vào cốt truyện để giúp những nhân vật bất hạnh thay đổi số phận, nhờ có sự hư cấu kì ảo này họ đều được hưởng hạnh phúc.

     Qua hàng ngàn năm, văn học dân gian Việt Nam vẫn giữ được sức sống lâu bền của nó, trở thành cội nguồn vô tận nuôi dưỡng tâm hồn người Việt và là mảnh đất màu mỡ ươm mầm và phát triển những tài năng nghệ thuật. Văn học dân gian là chiếc cầu vô hình nối quá khứ với hiện tại, tương lai; gắn kết tình cảm mọi thế hệ con người Việt Nam. Đó chính là sự khởi nguồn, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.

    Nói đến thể truyền kì, tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được xem là tác phẩm mở đầu mẫu mực trong văn học trung đại Việt Nam- xứng đáng là “ Thiên cổ kì bút”, “ áng văn hay của bậc đại gia”. Truyền kì mạn lục mượn yếu tố hoang đường, kì ảo, mượn truyện xưa để phản ánh xã hội đương thời. Dòng truyện kì ảo trung đại, dù vẫn còn mang bóng dáng của văn học dân gian, nhưng đây là những sáng tác đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, gắn liền với sự bừng ngộ, sự ý thức của con người đối với hiện thực. Cảm hứng của Nguyễn Dữ khi sáng tác Truyền kì mạn lục là lấy cái “ kì” để nói cái “ thực”. Tác phẩm có sự kết hợp của yếu tố kì và thực trong bút pháp nghệ thuật. Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên có vẻ như “ người thực, việc thực” bởi cách dẫn người, dẫn việc cụ thể, xác định đến cả thời gian, địa điểm. Nhưng chính câu chuyện về Ngô Tử văn lại cũng chứa đầy tính li kì, huyền hoặc bởi sự xuất hiện của thế giới Minh ti. Chịu ảnh hưởng từ tư duy thần linh siêu hình của các sáng tác dân gian, của những truyện kì quái phương Bắc, Nguyễn Dữ đã đưa vào các câu chuyện của ông nhiều yếu tố hoang đường, huyền ảo. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, trước hết, có thể kể đến sự xuất hiện của các yếu tố kì ảo trong thế giới nhân vật như hồn ma tên tướng giặc phương Bắc, quỷ, quỷ Dạ Xoa, Thổ công, Diêm Vương, các phán quan. Tất cả các nhân vật này đều thuộc về cõi âm. Trong Truyền kỳ mạn lục, cái kỳ ảo được Nguyễn Dữ sử dụng một cách có ý thức như một thủ pháp nghệ thuật, còn cái hiện thực được hiểu là toàn bộ hiện thực muôn mặt của cuộc sống đời thường với biết bao cảnh đời đau khổ. Hai yếu tố hiện thực và kỳ ảo có mối quan hệ gắn bó. Ở hầu hết các truyện trong Truyền kỳ mạn lục, hai yếu tố đó đan xen vào nhau, tương tác nhau để cùng bộc lộ tư tưởng của tác giả và nội dung của tác phẩm. Yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức kể chuyện làm cho câu chuyện được kể thêm hấp dẫn, tăng tính chất lãng mạn, trữ tình.

  Nếu nhìn trong sự vận động của yếu tố kì ảo trong văn học, ta nhận thấy yếu tố kì ảo trong truyền kì có sự kế tục cả hai thể loại văn học dân gian nêu trên trong việc phản ánh quan niệm, phản ánh ước mơ và tư duy siêu hình. Bên cạnh đó thể loại văn học này đã thể hiện điểm mới trong quan niệm của tầng lớp trí thức phong kiến mang tinh thần dân tộc. Trong truyền kì dấu ấn cá nhân ( của tác giả và tầng lớp trí thức ) được bộc lộ.

     Từ những cốt truyện dân gian, Nguyễn Dữ (thế kỉ XVI), Đoàn Thị Điểm (thế kỉ XVIII) khi viết những tác phẩm truyền kì đã hư cấu chúng thành những câu chuyện hoàn chỉnh vừa có yếu tố lãng mạn, vừa có tính tư tưởng nhân văn sâu sắc, vừa có giá trị nghệ thuật cao. Kho tàng truyện kể dân gian không chỉ có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thể loại tự sự văn xuôi, mà còn có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển các thể loại tự sự văn vần của văn học thời trung đại. 

    ( Lê Thị Nghĩa- GV Ngữ văn, Tổ trưởng CM- Trường THPT Dương Xá)

Truyện Cổ Tích Thế Giới / 2023

Truyện Cổ Tích Thế Giới – Cô Bé Lọ Lem Truyện Cổ Tích Thế Giới Chọn Lọc tuyển tập những câu chuyện cổ tích xuất sắc được nhiều thế hệ độc giả trên thế giới yêu thích. Cuốn sách đưa các em nhỏ bước…

Giao hàng toàn quốc

Được kiểm tra hàng

Thanh toán khi nhận hàng

Chất lượng, Uy tín

7 ngày đổi trả dễ dàng

Hỗ trợ xuất hóa đơn đỏ

Giới thiệu Truyện Cổ Tích Thế Giới – Cô Bé Lọ Lem

Truyện Cổ Tích Thế Giới – Cô Bé Lọ Lem

Truyện Cổ Tích Thế Giới Chọn Lọc tuyển tập những câu chuyện cổ tích xuất sắc được nhiều thế hệ độc giả trên thế giới yêu thích. Cuốn sách đưa các em nhỏ bước vào thế giới của những sắc màu lung linh với lâu đài nguy nga, tráng lệ; những nàng công chúa xinh đẹp, nhân hậu; chàng hoàng tử thông minh, tuấn tú Mỗi câu chuyện được tuyển chọn đều hàm chứa những bài học đạo đức sâu sắc, dạy các em biết điều thiện, biết đối nhân xử thế, bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách trong sáng của các em. Cuốn sách có nhiều hình ảnh đẹp, thu hút các em vào mỗi diễn biến của câu chuyện, các em sẽ hình dung và tưởng tượng được tốt hơn. Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi của độc giả nhỏ tuổi. Truyện Cổ Tích Thế Giới Chọn Lọc – Cô Bé Lọ Lem kể về ngày xửa ngày xưa, có một cô bé xinh đẹp và tốt bụng, tên là Lọ Lem. Cha mẹ mất sớm, Lọ Lem sống với người dì ghẻ và 2 cô con gái riêng. Mụ dì ghẻ ghét Lọ Lem lắm. Mụ bắt Lọ Lem phải làm việc suốt ngày, không lúc nào được ngơi tay. Một hôm, hoàng tử tổ chức một buổi vũ hội và mời tất cả các thiếu nữ trong cả nước tới dự để hoàng tử kén vợ. Mụ dì ghẻ vui vẻ, sắm sanh để hai con đi dự lễ hội. Tuy nhiên mụ ta không muốn Lọ Lem được đi, nên đã lấy một thúng đỗ trộn với một thùng tro và bắt Lọ Lem nhặt riêng đỗ và tro rồi mới cho phép đ

Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

Thông tin chi tiết

Công ty phát hành

Công Ty CP Văn Hóa Nhân Văn

Loại bìa

Bìa mềm

Số trang

159

Nhà xuất bản

Nhà Xuất Bản Thanh Hóa

SKU

5797859844569

Liên kết: Mascara kiêm dưỡng mi Gold Collagen Volume Mascara fmgt The Face Shop

Bạn đang xem bài viết Phân Định Giữa Truyện Truyền Kì Với Truyện Cổ Tích Thế Tục / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!