Xem Nhiều 12/2022 #️ Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Trần Tế Xương / 2023 # Top 19 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Trần Tế Xương / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Trần Tế Xương / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường không được quan tâm nhiều. Một người phụ nữ phải chịu nhiều “gông xiềng” đeo trên vai. Nào là “Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nào là “tam tòng, tứ đức”v.v.v. Dường như người phụ nữ luôn xuất hiện phía sau người chồng, người con của mình. Họ không có được sự tự do trong cuộc sống và thường là người gánh chịu nhiều nỗi đau về tinh thần do tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo. Vậy nên trong suốt chiều dài lịch sử, những thi nhân thường không đưa hình ảnh người vợ vào trong thơ ca của mình, mà thay vào đó là “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”. Bởi thế, Trần Tế Xương đã được người đời nhớ đến khi trong thơ ông, hình ảnh một người vợ lam lũ, vất vả đã được khắc họa một cách đầy đủ với thái độ trân trọng và yêu thương. Đó thực sự là một nét chấm phá đặc biệt của văn học thời kỳ phong kiến. Bài thơ “Thương vợ” của ông được xem như một trong những tác phẩm “khác lạ” giữa nền thi ca.

Nói bài thơ này khác lạ bởi thông thường các thi sĩ chỉ làm thơ về người bạn đời của mình khi họ đã mất đi. Còn với Tú Xương, ông đã viết về người vợ của mình một cách chân thực, sống động và đầy lòng yêu thương ngay khi vợ ông còn sống. Khác lạ còn bởi trong xã hội phong kiến, người đàn ông là chủ gia đình, mọi quyết định đều do họ. Và hiếm ai chấp nhận một sự thật rằng vợ chính là người nuôi sống cả một gia đình. Ấy nhưng với Tú Xương, đó là một điều hiển nhiên, bởi ông còn bận học hành, thi cử để có chút công danh. Và không ai khác ngoài người vợ chính là nguồn sống cho cả gia đình. Điều đó được khẳng định ở ngay câu đầu tiên của bài thơ

Sự vất vả, cực nhọc đã được thể hiện một cách rõ ràng. Một mình người vợ mà phải “cõng” tới năm người con và một đức ông chồng. Chữ “mom” ở đây rất có giá trị. Mom là một mô đất nhô ra bên bờ sông, nó nhỏ bé và gợi lên chút gì đó chênh vênh, không bền vững. Đối lập với đó là năm người con và người chồng. Một sự đối sánh có tính chất không cân đối đã nói lên muôn vàn vất vả lo âu của người vợ cho gia đình của mình. Làm sao để có thể kiếm sống để chu đáo cho một gia đình với những đứa con nhỏ.

Người phụ nữ trong thời đại phong kiến thường được ví như những “hạt mưa sa”; “giếng giữa đàng”, ý nói về sự bấp bênh của số phận, may mắn thì được vào gia đình tốt, được yêu thương còn không thì gặp muôn vàn đắng cay, khổ cực mà không biết kêu ai. Ở trong những câu tiếp theo, dường như Tú Xương đã cảm thán thay cho người vợ đáng thương của mình.

Hình ảnh người vợ đã được ông ví như cánh cò nơi dòng nước, nhỏ bé, cô đơn. “Thân cò” là một sự so sánh vô cùng hợp lí và thú vị dành cho người vợ. Động từ “lặn lội” đã phác họa rõ nét hơn tình cảnh của người vợ, người mẹ. Có lẽ đọc đến đây ta cũng xót thương cho những người phụ nữ thời xưa. Hình ảnh người vợ Tú Xương cũng là sự khái quát cho những người phụ nữ Việt Nam thời kỳ phong kiến, phải lam lũ, vất vả một nắng hai sương lo cho gia đình, nhưng lại không được công nhận. Và qua những vần thơ, dường như Tú Xương đang tạo nên một bước chuyển mới trong nhận thức của các đấng nam nhi, cần phải coi trọng người phụ nữ của mình nhiều hơn nữa.

Sự cam chịu của người vợ đã khiến cho Tú Xương không đành lòng. Nhưng người vợ không bao giờ nói ra với ông những nỗi vất vả, khó khăn ấy. Và chính ông đã là người nói ra giúp vợ mình. Một tiếng thơ cũng là tiếng thở than, trách cứ, dằn vặt của người chồng, là tiếng trách mắng nhẹ nhàng của người vợ dành cho người chồng.

Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ: vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài hước.

Với chất thơ bình dị, dễ đọc, dễ nhớ và đậm chất nhân văn Tú Xương đã khắc họa nên hình ảnh người vợ chịu thương chịu khó của mình trong mối tương quan với chồng, con. Đó cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà ông dành cho những người chồng, người cha còn “bạc”với người vợ đầu gối tay ấp của mình bằng chất liệu trào phúng đặc trưng.

Tác Giả, Tác Phẩm, Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023

Tác giả, tác phẩm, Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương

Tác giả, tác phẩm

Trần Tế Xương (1870 – 1907), là một nhân tài để lại sự nghiệp thơ ca bất tử nhưng cuộc đời lại bất hạnh, ngắn ngủi.

Hai mảng thơ trào phúng , trữ tình viết về quê hương, đất nước, con người đặc biệt có những sáng tạo khi khắc họa chân dung người phụ nữ.

Bài thơ viết về bà Tú, người vợ chịu thương chịu khó của ông.

Phân tích tác phẩm

“Quanh năm” chỉ thời gian suốt cả năm không kể ngày mưa hay nắng, quanh năm còn là vòng xoay liên tục của thời gian, từ năm này qua năm khác.

Địa điểm mà công việc:

a. Hai câu đề

“quanh năm buôn bán ở mom sông/ nuôi đủ năm con với một chồng” là lời kể về công việc làm ăn lo toan cho gia đình của bà Tú.

Sự tri ân của ông dành cho bà: “nuôi đủ năm con với một chồng”

+ Mom sông: phần đất nhô ra ở phía lòng sông, nơi chênh vênh nguy hiểm.

+ buôn bán: công việc đầy bon chen, mặc cả giữ chốn đông người.

Qua câu thơ hình ảnh bà Tú tảo tần hiện lên rõ nét, bà nuôi đủ ở đây không chỉ là đủ ăn đủ mặc cho các con mà còn đủ để ông tiêu pha chuyện đèn sách cả những thú ăn chơi của những kẻ sĩ ngày xưa. Trong cái thời buổi khó khăn, một mình buôn bán lo thân đã vất vả, đằng này lại nuôi đủ thêm 6 miệng ăn. Nỗi chua chát ấy được nhà thơ thể hiện khôi hài thông qua hình ảnh “năm con với một chồng”. Ông đánh đồng bản thân mình là một thứ con đặc biệt, đứa con này lại đặt ngang hàng với 5 đứa còn lại. Tú Xương vẽ nên hình ảnh đôi gánh hàng mà bà Tú gành hằng ngày, một bên là 5 con một bên là chồng. Tự trách bản thân là gánh nặng cho vợ, ông cũng gửi niềm tri ân của mình đến bà Tú một cách kín đáo.

+ Nuôi đủ: không thừa, không thiếu thốn

+Cách đếm: năm con một chồng cho thấy bà Tú phải một mình gánh vác cả gia đình 6 người chưa kể bản thân mình.

“Lặn lội thân cò” hình ảnh thân cò, cái cò trong ca dao xuất hiện rất nhiều để chỉ người nông dân nói chúng và người phụ nữ nói riêng vất vả, gian truân…Qua bàn tay sáng tạo của Tú Xương, nó trở thành thân cò chỉ bà Tú, không còn là một cánh cò nào đấy mơ hồ về số kiếp con người, thân cò chỉ thân phận cụ thể, nỗi đau cụ thể.

So với ca dao hình ảnh thân cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của thời gian mà còn cái rợn ngợp vô cùng của không gian “khi quãng vắng” chỉ thời điểm vắng vẻ, nguy hiểm ở một nơi hẻo lánh.

Biện pháp đảo ngữ “lặn lội” lên trước “thân cò” nhấn mạnh sự vất vả nhọc nhằn của công việc buôn bán.

“Eo èo mặt nước” từ láy eo sèo chỉ âm thanh nhốn nhào, ồn ào của buổi chợ trong đó có lời qua tiếng lại, mặc cả bán mua.

“Buổi đò đông” Ca dao có câu” Con ơi nhớ lấy câu này, sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” để nhắc nhở chuyến đò đông ẩn chứa nhiều nguy hiểm. Vậy mà, bà phải buôn bán chốn đò đông.

Hai câu thơ sử dụng biệp pháp đối lập “lặn lội thân cò ó eo sèo mặt nước” “buổi đò đông ó nơi quãng vắng” để làm nổi bật tính chất công việc của bà Tú.

b. Hai câu thực

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ eo sèo mặt nước buổi đò đông” cảnh làm ăn vất vả mưu sinh của bà Tú.

Hai câu thơ Tú Xương sử dụng hai thành ngữ “một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa”

c. Hai câu luận

“Một duyên hai nợ, âu đành phận/ năm nắng mười mưa dám quản công” cảnh đời éo le oái oăm bà Tú phải chịu.

+ “Một duyên hai nợ” theo triết trí nhà phật, con người gặp được nhau, đến với nhau là duyên nhưng sống với nhau thì do nợ. Bà Tú đến với ông Tú duyên chỉ có một mà nợ có đến hai, chứng tỏ bà Tú phải chịu nhiều thiệt thòi, éo le để trả nợ ân tình.

Ông Tú lên tiếng nói hộ vợ mình nỗi cực nhọc, đắng cay của cuộc đời, ấy cũng là nỗi dằn vặt bấy lâu nay của ông, một kẻ sĩ chí lớn nhưng phải ngửa tay xin tiền vợ tiêu xài. Lời thơ như một tiếng thở dài chua xót, nặng nề. Qua đó, ta thấy được nỗi lòng của ông Tú, hơn ai hết ông là người thấu hiểu, cảm thông và yêu thương vợ mình.

+ “năm nắng mười mưa” số đếm năm mười tăng theo cấp số nhân như muốn nói bà Tú sống với ông Tú phải chịu nhiều vất vả, nỗi vất vả ấy ngày một tăng dần.

+ “Âu đành phận, dám quản công” chỉ thái độ cam chịu, chấp nhận số phận của bà Tú, cực khổ thế, gian nan là thế mà bà nào dám quản công.

“Thói đời” tác giả đang nhắc đến là những định kiến và tư tưởng khắc khe về người phụ nữ, phụ nữ phải tam tòng, tứ đức, công dung ngôn hạnh. Họ đặt ra cho người phụ nữ quá nhiều đòi hỏi nhưng lại cướp mất đi của họ nhiều quyền lợi.

“Cha mẹ” tác giả vận dụng lời ăn tiếng nói của dân gian vào thơ tạo nên một giọng điệu thơ gân gũi, dung dị rất đời thường nhưng cũng chứa đựng nhiều suy ngẫm.

“Ăn ở bạc” tác giả oán trách thói đời bạc bẽo, bà Tú vì nợ mà phải gánh vác trách nhiệm nặng nề, nhưng không phải vì thế ông đổ hết cho duyên số. Tú Xương chửi chính bản thân mình làm chồng mà “hờ hững” để vợ gánh vác một mình.

Tú Xương sòng phẳng với cuộc đời và cũng sòng phẳng nhìn nhận bản thân, ông không tiếc lời mạt sát, chửi chính mình. Qua đó ta thấy một Tú Xương không hề hờ hững như ông đã nói mà là một ông Tú nặng tình đời, tình người, có nhân cách cao đẹp, đáng quý hơn là tấm lòng chân thành với vợ.

d. Hai câu kết

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ có chồng hờ hững cũng như không” là tiếng chủi mình, chửi đời.

Vận dụng nhiều ca dao, thành ngữ, khẩu ngữ dân gian và sáng tạo rất thành công.

Khắc họa chân dung người phụ nữ trong xã hội phong kiến tảo tần, đảm đang thương yêu hi sinh mình vì gia đình, qua đó thấy được tấm lòng trân quý của người chồng dành cho vợ.

Giới Thiệu Về Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Trần Tế Xương / 2023

Thương vợ là bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Trần Tế Xương, bài thơ là lời giãi bày đầy chân thành của nhà thơ đối với người vợ tần tảo, giàu yêu thương của mình. Giới thiệu về bài thơ Thương vợ sẽ giúp người học hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sáng tác cũng như nội dung chủ đạo của bài thơ này.

1. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

– Bà Tú đi vào thơ của Tú Xương như một nhân vật người phụ nữ điển hình

Nhà thơ Trần Tế Xương có một người vợ xinh đẹp, đảm đang và đáng kính trọng. Vợ ông là Phan Thị Mẫn, thuộc dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan. Bà Tú đi vào thơ của Tú Xương như một nhân vật người phụ nữ điển hình, hấp dẫn. Ông có hẳn một đề tài viết về bà Tú, bao gồm thơ, văn tế sống và câu đối, trong đó có bài thơ “Thương Vợ”.

– “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

“Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú, đồng thời cũng là bài thơ tiêu biểu cho trữ tình của Trần Tế Xương bởi cảm xúc rất chân thành, lời thơ tuy giản dị mà sâu sắc.

2. Nội dung của bài thơ

Trong bài thơ, ông đã miêu tả rất sâu sắc, xây dựng rất thành côn chân dung của một người vợ vất vả đảm đang, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh. Thông qua bài thơm tác giả đã bày tỏ lòng thương quý và sự biết ơn đối với bà Tú, ông đã không ngần ngại buông lời chửi chính bản thân mình, thừa nhận mình là một người chồng vô trách nhiệm, không những không lo được cho gia đình mà còn là gánh nặng cho vợ. Đi vào tìm hiểu bài thơ, chúng ta sẽ thấy được sự thành công của tác giả trong nghệ thuật thể hiện: sử dụng vốn Tiếng Việt giàu có phong phú, lại giản dị, tự nhiên và giàu sức biểu cảm, bên cạnh đó tác giả còn vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

Có thể thấy, tình yêu thương quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong các tác phẩm văn học trung đại. Trong khi đó bài thơ này lại diễn tả cảm xúc ấy bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian. Điều đó đã chứng tỏ hồn thơ Tú Xương tuy mới lạ, độc đáo nhưng vẫn rất gần gũi với mọi người, có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.

Phân Tích Bài Thơ “Thương Vợ” Của Nhà Thơ Trần Tế Xương / 2023

Lập dàn ý

Mở bài : Giới thiệu tác giả Trần Tế Xương, dẫn vào bài thơ “Thương vợ”. Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật :

“Ghi nguyên văn bài thơ”

Thân bài :

Khái quát : Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, bố cục bài thơ, nội dung chính của bài thơ.

Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ : Các ý chính cần phân tích

Hai câu đề :

Phân tích : Ngôn ngữ đời thường giản dị; từ ngữ chọn lọc (quanh năm, mom sông, nuôi đủ), sử dụng số đếm (năm con, một chồng).

Làm rõ : Lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm đương thể hiện sự tri ân của ông Tú với vợ.

Hai câu thực:

Phân tích : Phép đối, phép đảo, từ láy gợi hình gợi cảm, vận dụng sáng tạo thi liệu dân gian (“thân cò”).

Làm rõ : Đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú, cho thấy nỗi cảm thông sâu sắc trước sự tảo tần của người vợ.

Hai câu luận :

Phân tích : Phép đối, vận dụng thi liệu dân gian (thành ngữ); giọng thơ mang âm hưởng dằn vặt, vật vã.

Hai câu kết :

Phân tích : Sử dụng khẩu ngữ; lời thơ giản dị, tự nhiên.

Làm rõ : Tiếng chửi – tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc; bộc lộ nhân cách đáng trọng của ông Tú.

Nghệ thuật cả bài thơ :

Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian.

Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng.

III. Kết bài:

Kết luận về nội dung, nghệ thuật và nêu ý nghĩa bài thơ.

Bài viết

Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử. Sáng tác của ông có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình. Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳn một đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó có bài thơ “Thương vợ”. Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững có như không.

Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết. Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thương chồng thương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ và nhân cách cao cả của ông Tú.

         Ngay đầu bài thơ, hình ảnh bà Tú đã hiện ra :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Câu đầu nói về thời gian và không gian làm việc của bà Tú. Bà phải làm việc vất vả “quanh năm”, suốt bốn mùa không ngơi nghỉ, cứ hết ngày này sang ngày khác, hết năm này qua năm khác, không kể nắng mưa. Bà làm việc vất vả quanh năm suốt tháng như thế ở “mom sông”, nơi có mỏm đất nhô ra ven bờ sông chênh vênh, nguy hiểm. Bà phải cật lực buôn bán ở một nơi nguy hiểm như thế để đảm bảo kinh tế gia đình, “nuôi đủ” chồng và con. Câu hai cho thấy gánh nặng gia đình trên vai bà Tú. Đặc biệt, cách nói về gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm nhiệm thật độc đáo : “năm con với một chồng”. Dường như, ông Tú đang tự đặt mình lên bàn cân và thấy một mình ông “nặng” bằng năm đứa con. Bà Tú phải nuôi ông bằng nuôi thêm năm đứa con nữa. Cách nói ấy gợi ra nụ cười mỉa mai chính mình của ông Tú: hóa ra, mình cũng chỉ là một thứ con cần phải nuôi. Nhận ra mình là một gánh nặng trên đôi vai gầy của vợ cho thấy ông Tú hết sức biết ơn người vợ tần tảo của mình. Hai câu thơ đầu, bằng việc khắc họa thời gian, không gian làm việc của bà Tú và cách đếm con đếm chồng tếu táo của ông Tú, tác giả đã vẽ ra bức chân dung bà Tú tần tảo, đảm đang, chịu thương chịu khó và cho thấy tấm lòng tri ân vợ của nhà thơ.

         Hai câu tiếp theo tiếp tục khắc họa hình ảnh bà Tú :

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ có cấu tạo đặc biệt: đảo vị ngữ lên đầu câu, nhấn mạnh hai từ láy gợi hình. Bà Tú phải “lặn lội” sớm hôm, chạy vạy ngược xuôi “khi quãng vắng”. Công việc khiến bà Tú phải thức dậy đi làm từ khi mọi người vẫn đang còn ngủ và trở về nhà khi mọi người đều đã sum họp bên gia đình, khi bên ngoài đường đều là những “quãng vắng” có phần nguy hiểm với một người phụ nữ. Câu thơ đầu sử dụng hình ảnh ẩn dụ quen thuộc của ca dao Việt Nam là “con cò”. Trong ca dao, hình ảnh con cò thường tượng trưng cho người lao động, đặc biệt là người phụ nữ lam lũ, nghèo khổ, bất hạnh. Cách sáng tạo hình ảnh “con cò” thành “thân cò” để chỉ bà Tú vừa cho thấy sự lam lũ, vất vả, cực nhọc đến tội nghiệp, đáng thương của bà Tú, vừa cho thấy tình thương mà ông Tú dành cho bà. Chẳng những phải vất vả thức khuya dậy sớm mà bà Tú còn phải chịu những khó khăn chồng chất trong công việc buôn bán. Khi chợ đã đông, đã lắm kẻ bán người mua, bà không tránh khỏi phải chịu những điều tiếng kêu ca, phàn nàn “eo sèo” của khách hàng. Cả hai câu thơ, với việc sử dụng phép đối, phép đảo và những từ láy gợi hình cùng với hình ảnh ẩn dụ quen thuộc, nhà thơ đã khắc họa những vất vả, khổ cực của bà Tú, từ đó gợi ra hình ảnh một người vợ lam lũ, chịu thương chịu khó vì chồng con. Qua đó cũng cho thấy sự thấu hiểu, tình yêu thương của ông Tú với người vợ tảo tần.

           Hai câu luận vẫn là hình ảnh bà Tú :

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Hai câu thơ mà có đến hai thành ngữ để nói về bà Tú. “Một duyên hai nợ” là thành ngữ cho thấy nỗi vất vả của bà: chỉ có một cái “duyên” may mắn với ông Tú mà bà lại chịu đến “hai nợ”, hai gánh nặng là chồng và con. Nhưng bà không hề kêu ca, phàn nàn, không than trời kêu đất mà vui vẻ chấp nhận như đó là số phận của mình, “âu đành phận”. Nỗi vất vả và đức hi sinh của bà Tú không chỉ có thế. Dù phải “năm nắng mười mưa”, đi trưa về tối thì bà vẫn “dám quản công”, bà không kể công lao, không quản ngại gian khó. Bà chịu đựng hi sinh tất cả để lo cho gia đình, bà không nghĩ gì cho riêng bản thân mình. Hai câu luận này, bằng phép đối và vận dụng sáng tạo thành ngữ, nhà thơ đã hoàn thành nốt bức chân dung về phẩm cách cao quý của bà Tú : lòng yêu thương chồng con và đức hi sinh cao cả. Ở hai câu thơ này, giọng thơ chùng xuống mang âm hưởng dằn vặt, vật vã, gợi ra một tiếng thở dài nặng nề, chua chát của một ông chồng cảm thấy mình vô dụng, phải để vợ một mình gồng gánh việc gia đình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng yêu thương vợ rất mực của Tú Xương.

Nếu như sáu câu đầu là bức chân dung bà Tú: tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha được vẽ bằng tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ hết mực của ông Tú thì đến hai câu cuối, ông đã mượn lời bà Tú để cất lên tiếng chửi :

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Câu trên, ông sử dụng khẩu ngữ “cha mẹ” để chửi “thói đời” làm bà Tú khổ. “Thói đời” ấy là cái “thói” phổ biến trong xã hội phong kiến cũ: chồng là nhà nho thì chỉ biết ăn, học, lều chõng thi cử, còn vợ lại một mình lo kinh tế gia đình, chèo chống giang sơn nhà chồng. Chửi thói đời đen bạc chưa hả, ông quay sang chửi chính mình là “chồng hờ hững”, là ông chồng vô tích sự, không làm gì được cho vợ đỡ khổ, lại còn “ăn bám” vợ. có lẽ tự giận mình quá nên ông Tú đã quá lời chửi mình là đồ “chồng hờ hững” chứ thực ra, một người phát hiện ra, biết trân trọng và hết lời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của vợ, còn tự nhận ra thiếu sót của mình mà tự lên án mình gay gắt như thế thì cũng không phải đến nỗi là “hờ hững”. Là một nhà Nho với tính tự trọng cao và đặc biệt là sống trong xã hội mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, vậy mà ông vẫn tỏ ra rất kính trọng người vợ của mình, chẳng những thế còn tự nhận khuyết điểm của mình một cách chân thành, tự chửi mình chứng tỏ ông Tú là con người có nhân cách đáng trọng. hai câu thơ cuối bài với ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên, vận dụng khẩu ngữ đời thường, tác giả bộc lộ sự xót xa vì cảnh làm chồng mà để vợ phải nuôi, trở thành gánh nặng cho vợ; đồng thời cũng thể hiện nhân cách cao đẹp của ông Tú.

Trong văn học trung đại Việt Nam, không thiếu những bài thơ viết về vợ nhưng chỉ mỗi Tú Xương nhận ra được vẻ đẹp tâm hồn của người vợ ngay trong cuộc sống đời thường và viết về bà ngay khi bà còn sống. có thể nói rằng, tuy có vất vả, cực khổ nhưng được chồng trân trọng, yêu thương, ngợi ca như thế thì bà Tú cũng mát lòng mát dạ mà hãnh diện với cuộc đời. Cả bài thơ, với việc vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình, Tú Xương đã gửi đến người đọc một cách nhìn tiến bộ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ.

“Thương vợ” là bài thơ viết về vợ hay và cảm động nhất của Tú Xương. Bài thơ đã vẽ nên bức chân dung bà Tú mang những phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam : tần tảo, đảm đang, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha. Qua đó cũng cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ rất mực và nhân cách cao cả của Tú Xương. Đọc xong bài thơ, không ai lại không cảm mến bà Tú và cảm động trước tình cảm chân thành mà ông Tú dành cho vợ. Và chắc rằng, bà vợ nào cũng sẵn sàng chịu đựng vất vả khó nhọc mà vẫn luôn vui vẻ nếu có được ông chồng biết yêu thương, trân trọng vợ như ông Tú. Cách nhìn về thân phận người phụ nữ khiến người đọc nhìn lại, ngẫm về người vợ, người mẹ của mình và thấy yêu thương, trân trọng, biết ơn họ

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tác Giả Trần Tế Xương / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!