Xem Nhiều 2/2023 #️ Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân” # Top 11 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân” # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân” mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất Nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…

(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2018, tr. 121)

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT

Hiếm có một giai đoạn văn học nào mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Đất nước lại tập trung cao độ như giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với ” Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” (Vui thế hôm nay), Chế Lan Viên với “Sao chiến thắng”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Đất nước của nhân dân”. Tư tưởng ấy được thể hiện đậm nét qua đoạn thơ sau:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…

1. Khái quát: Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn. “Đất nước” là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”.

Ngày xưa, người ta thường quan niệm: Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân.

2.1. Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định ấy là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ:

” Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”

Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định ấy đã thể hiện một cách chân thành, mãnh liệt tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc. Hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn ai hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài đất nước. Vì thế Đất Nước không của riêng ai mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân.

Các bạn đang xem đề thi: Phân tích đoạn thơ Để đất nước này là đất nước của nhân dân… sông xuôi

Ở câu thơ thứ hai, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định ” Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp ” Đất nước của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh ” Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc đến ca dao thần thoại ta lại càng nhớ đến nhân dân, vì hơn ai hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Mà đất nước của “ca dao thần thoại” nghĩa là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người. Và không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất.

2.2. Và khi nói đến “Đất nước của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc:

Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Chức năng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Chức năng ấy cùng với ý nghĩa của nó được thể hiện qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Nhà thơ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai ấy không phải là ngọn gió thoáng qua, không phải là lời của bướm ong mà là lời nói là nghĩ suy chân thật. Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung bền vững không gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao ấy. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân người ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên cường. Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành.

Ở phương diện thứ hai, Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ ấy lấy ý từ ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng: ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần giá trị vật chất.

Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao cuộc chiến vệ quốc vĩ đại. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh để đến ngày toàn thắng.

2.3. Bốn câu thơ cuối: Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:

Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…

Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông không biết đến từ bến bờ nào nhưng khi hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” ấy vừa có ý nghĩa là dòng sông của quê hương đất nước nhưng vừa có ý nghĩa là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa đa dạng “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun đắp phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một đất nước đậm đà bản sắc dân tộc.

3. Tổng kết nghệ thuật: Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca đặc sắc nhưng không lấy lại nguyên văn mà sáng tạo làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc nhà thơ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam.

Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã thể hiện một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân”. Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình:

Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông

– Các bạn vừa xem đề thi: Phân tích đoạn thơ Để đất nước này là đất nước của nhân dân

Trích cuốn: Cẩm nang LTĐH môn Ngữ văn do thầy Phan Danh Hiếu chủ biên.

Phân Tích Đoạn 2

thân bài. Phú sông Bạch Đằng (tên chữ Hán Bạch Đằng giang phú) được dự đoán ra đời vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên thắng lợi của nhà Trần. Lấy cảm hứng từ một đề tài cũng không hề xa lạ, bởi sông Bạch Đằng đã trở thành thi liệu sáng tác của nhiều nhà thơ như Trần Minh Tông, Nguyễn Sưởng, sau này là Nguyễn Trãi. Nhưng Trương Hán Siêu trong Phú sông Bạch Đằng đã mang tới biết bao cảm xúc vừa chân thực, thiết tha vừa hoài niệm, xúc động để khơi dậy nên niềm tự hào, lòng yêu nước và khẳng định những tư tưởng nhân văn cao đẹp về giá trị con người. Có nhiều ghi chép cho rằng, Trương Hán Siêu sáng tác bài phú này vào thời điểm đất nước dưới thời hậu Trần (hai vị vua Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông) có dấu hiệu suy thoái. Vốn là một trọng thần, học vấn uyên thâm, tính tình đức độ, trải qua bốn đời vua Trần, từng được các vua tôn kính và gọi là “thầy”, trước thực trạng đất nước như vậy, ông cảm thấy chán nản và tự mình ngao du đây đó. Và điểm đến của ông không đâu khác chính là con sông Bạch Đằng để hoài niệm về một thời vàng son của dân tộc. Có lẽ bởi vậy mà bài phú mới toát lên dư vị pha lẫn của một tâm hồn nghệ sĩ lãng tử, một sử nhân hoài cổ và một nỗi niềm nhân thế thầm kín. ở đoạn 2, các bô lão là hình ảnh tập thể, xuất hiện nhằm tạo ra vẻ tự nhiên của một cuộc trò chuyện. Đây có thể là những người dân địa phương mà tác giả gặp trên đường vãn cảnh, cũng có thể là nhân vật tác giả hư cấu để bày tỏ tâm trạng của mình một cách khách quan hơn. Bằng thái độ nhiệt tình và hiếu khách, các bô lão kể cho khách nghe về chiến công Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã, về trận Ngô chúa phá Hoằng Thao, là những chiến thắng oanh liệt của quân dân ta trên sông Bạch Đằng. Các trận đánh được tái hiện từ thời Ngô Quyền đến thời Trần Hưng Đạo. Điều đó cho thấy thời ấy dân tộc ta luôn phải đương đầu với quân xâm lược phương Bắc và vận nước nhiều lúc lâm nguy, ngàn cân treo sợi tóc. Các bô lão kể lại diễn biến của từng trận đánh. Ngay từ đầu, quân ta và quân địch đã tập trung binh lực hùng hậu cho một trận đánh quyết tử. Nghệ thuật đối đã nêu bật không khí chiến trận bừng bừng: Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới, Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói, Trận đánh được thua chửa phân, Chiến lũy bắc nam chống đối. Đó là sự đối đầu không chỉ về lực lượng mà còn là đối đầu về ý chí: quân dân ta với lòng yêu nước và sức mạnh chính nghĩa; quân địch thì thế cường với bao mưu ma chước quỷ. Chính vì vậy mà trận chiến diễn ra ác liệt: Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, Bầu trời đất chừ sắp đổi. Đây là những hình tượng kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ, được đặt trong thế đối lập: nhật nguyệt / mờ, trời đất / đổi, báo hiệu một cuộc thuỷ chiến kinh thiên động địa. Nguyên nhân của cuộc đối đầu quyết liệt ấy chính là mưu mô thâm hiểm của quân xâm lược phương Bắc, cho dù có khác nhau về thời gian nhưng thống nhất ở mục đích cướp nước Đại Việt bằng được: Kìa: Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối. Những tưởng gieo roi một lần, Quét sạch Nam bang bốn cõi! Thế nhưng: Trời cũng chiều người, Hung đồ hết lối! Bằng cách sử dụng điển cố và lối nói khoa trương, tác giả đã ngầm so sánh chiến thắng trên sông Bạch Đằng với những trận thuỷ chiến vang dội nhất trong lịch sử phương Bắc: Khác nào khi xưa: Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay, Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi. Hình ảnh đặc tả tan tác tro bay và hoàn toàn chết trụi nhấn mạnh tính chất khốc liệt của trận chiến và sự thất bại thảm hại của quân giặc. Theo quy luật của trời đất, cuối cùng thì người chính nghĩa chiến thắng, còn lũ hung đồ hết lối, chuốc nhục muôn đời: Đến nay nước sông tuy chảy hoài, Mà nhục quân thù khôn rửa nổi! Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi. Hình ảnh: Đến nay nước tuy sông chảy hoài đối lập với hình ảnh Mà nhục quân thù khôn rửa nổi. Câu thơ vừa tả thực, vừa tạo sự liên tưởng so sánh thú vị. Dòng nước cứ mải miết trôi đi, thời gian qua đi, người xưa cảnh cũ rồi cũng thay đổi nhưng mưu mô xâm lược cùng thất bại của quân thù thì mãi mãi không gì gột rửa nổi. Đó là bài học đắt giá cảnh tỉnh tham vọng xâm lược phi nghĩa. Bên cạnh đó thì những câu thơ trên cũng khẳng định sức mạnh to lớn và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của những người chiến thắng. Thái độ, giọng điệu của các bô lão trong khi kể về chiến công Bạch Đằng đầy tự hào, tạo cảm hứng phấn khích cho tác giả. Lời kể không dài dòng mà súc tích, cô đọng, tuy khái quát nhưng vẫn gợi lại được diễn biến, không khí của trận đánh một cách sinh động. Các câu trong đoạn này tuy dài ngắn khác nhau nhưng đều mang âm hưởng hào hùng, đanh thép.

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Đoạn 1

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi

Mở đầu bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu là 4 câu thơ theo thể ngũ ngôn. Xuân Diệu đã sử dụng đến hai lần biện pháp nghệ thuật điệp từ điệp ngữ. Đầu tiên là điệp từ Tôi muốn trong hai câu: Tôi muốn tắt nắng đi và Tôi muốn buộc gió lại. Sự xuất hiện ngay từ đầu của chủ thế trữ tình xưng tôi đã thể hiện sự dõng dạc, quyết liệt vang lên. Nó biểu thị tư thế của con người cá nhân giữa đất trời, vũ trụ. Trong bước lập dàn ý cảm nhận 13 câu đầu bài vội vàng, các em học sinh nên phân tích kĩ khao khát này để làm tiền đề cho việc phân tích đoạn sau.

Cùng với đó, tác giả sử dụng những động từ thể hiện sự mãnh liệt, niềm khao khát của nhà thơ trước thiên nhiên nhiên, tạo hóa. Nhân vật trữ tình chỉ muốn lưu giữ lại những hương sắc của cuộc đời đẹp tươi mà không muốn chúng bị tàn tạ, nhạt phai hương sắc. Biện pháp điệp từ thứ hai trong hai câu Cho màu đừng nhạt mất và Cho hương đừng bay đi lại càng nhấn mạnh thêm cái khát vọng khỏe khoắn ấy của Xuân Diệu.

2, phân tích bài thơ vội vàng đoạn 1: 5 câu thơ tiếp theo

Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

9 câu thơ tiếp theo của Vội vàng là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất của tác phẩm. Hình ảnh thiên nhiên hiện lên căng tràn sự sống, rực rỡ ngát hương thơm

Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Lại một lần nữa thủ pháp nghệ thuật điệp từ điệp ngữ cùng với phép liệt kê đã gợi lên một bức tranh sống động như đang hiện ra rước mắt người đọc. Khi làm đề cảm nhận của anh chị về 13 câu thơ đầu của bài thơ vội vàng, cần đặc biệt chú ý phân tích kĩ phép điệp từ này đây. Cụ thể, điệp từ này đây lặp lại đến 5 lần trong suốt 5 câu thơ đầu đoạn 2. Nó như một tiếng reo vui kinh ngạc, vừa như lời kể hãnh diện, tự hào về vẻ đẹp của mùa xuân đang tràn trề sức sống. nó còn mnag đến sự luyến láy cùng nhịp điệu cho đoạn thơ

3, phân tích bài thơ vội vàng đoạn 1: 4 câu thơ cuối

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Hình ảnh Tháng giêng ngon như một cặp môi gần sử dụng biện pháp nghệ thuật chuyển đổi cảm giác. Nó đã hình tượng hóa tháng giêng – một khoảng thời gian vô hình thành cặp môi gần – một sự vật hữu hình. Hình ảnh mùa xuân hiện lên ngọt ngào say đắm giàu sức gợi hình gợi cảm. Hình ảnh này là ý phân tích chính khi lập dàn ý 13 câu đầu của bài thơ vội vàng

Song, khi đang chìm đắm trong sự say mê ngọt ngào là thế, nhịp ngắt chuyển đột ngột tại câu Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: đã thể hiện sự bừng tỉnh của nhân vật trữ tình. Nỗi phập phồng lo sợ hiệu hữu ngay cả trong lúc say đắm nhất.

Chỉ với 13 câu thơ đầu của bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu đã mang đến một hình ảnh mùa xuân vô cùng khác biệt. Vẫn là căng tràn nhựa sống đầy sắc hương song mùa xuân trong thơ Xuân Diệu còn hiện lên gợi cảm và quyến rũ. Xuân Diệu quả thật là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Khi phân tích bài thơ vội vàng đoạn 1 với các em khá giỏi, các em có thể phân tích về nhận định này.

Nguồn: chúng tôi

Phân Tích Đoạn 3 Bài Thơ Tây Tiến Ngắn Và Hay

Hãy xác định đoạn 3 và phân tích đoạn 3 bài thơ Tây Tiến bằng một bài viết. Đề bài này xuất hiện nhiều trong các bài kiểm tra thường xuyên và cuối kì. Các bạn nhớ đón xem.

Phân tích đoạn 3 bài thơ Tây Tiến

Nếu nhắc đến các nhà thơ tiêu biểu thời kỳ văn học kháng chiến chống Pháp ta có thể không nhắc đến Quang Dũng nhưng nói về tác phẩm tiêu biểu ta nào có thể không kể đến Tây Tiến. Từng câu từng chữ trong Tây Tiến như dựng lại cả một chặng đường kháng chiến hào hùng của dân tộc với hình ảnh đoàn quân chiến đấu:

” Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành!“

Bằng những nét vẽ cụ thể, gân guốc nhà thơ đã vẽ nên những hình ảnh tả thực về đoàn quân Tây Tiến. Đây là những hình ảnh tả thực, thực một cách trần trụi. Các chiến sĩ Tây Tiến phải hành quân ở nơi rừng thiêng, nước độc đến nỗi tóc không thể mọc được; người lính ấy ngày ngày phải đối mặt với những cơn sốt rét rừng hành hạ. “Quân xanh” ở đây dùng để chỉ màu xanh của chiếc áo chiến sĩ, màu xanh của lá ngụy trang và phải chăng đó còn chính là màu xanh của làn da ốm yếu, nhợt nhạt vì thiếu máu. Thế nhưng người chiến sĩ hiện lên thật oai hùng qua cụm từ “dữ oai hùm”. Dù khó khăn, bệnh tật, thiếu thốn trăm bề nhưng đoàn quân Tây Tiến vẫn hừng hực khí phách, hăm hở lên đường chiến đấu, một lòng sục sôi ý chí quyết tâm lên đường đánh giặc. Nhà thơ dùng hai chữ “đoàn binh” chứ không phải là đoàn quân để diễn tả khí thế đông đảo, hùng mạnh, lấn át kẻ thù. Tả thực nhưng không hề bi lụy mà hiên ngang, phi thường và độc đáo vô cùng. Đó chính là hình ảnh những đoàn binh Tây Tiến nói riêng, những đoàn quân trong kháng chiến lịch sử của nhân dân Việt Nam nói chung.

Giữa những gian khổ, hiểm nguy người lính vẫn không quên ghi lại cho mình những phút giây lãng mạn rất riêng:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

” Mắt trừng gửi mộng qua biên giời

“Mắt trừng” là ánh mắt quyết tâm, sáng rõ, một ánh mắt chứa đựng biết bao lý trí và tình cảm sâu nặng. Người lính gửi ước mộng và giấc mơ cao đẹp đến nơi biên cương khói lửa và Hà Nội thân thương. Đó là ước mộng lập công giành chiến thắng và giấc mơ nơi quê nhà yêu dấu. Hai giấc mơ này đan xen hòa hợp, thống nhất trong nội tâm người chiến sĩ. ” dáng kiều thơm” Là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái thướt tha, thùy mị, thanh lịch trong tiềm thức của người chiến sĩ. Đã có những lúc vần thơ này được cho là mộng rớt tiểu tư sản, là cái không đáng có trong cốt cách người chiến sĩ. Thế nhưng xem xét cho đến cùng ta lại thấy nó không hề mâu thuẫn với khí phách tráng sĩ của đoàn binh. Bởi đó là chất lãng mạn cách mạng, là liều thuốc tinh thần và là hậu phương vững chắc trong tâm hồn người lính. Sự lãng mạn cách mạng ấy đan xen hòa hợp với chất lính ngang tàn, dũng mãnh tạo lên vẻ đẹp hào hoa, hòa hùng đặc trưng của người lính Tây Tiến.

Xác định lên đường chiến đấu là xác định không tránh khỏi những mất mát hi sinh. Những người lính tây tiến cũng vậy:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

” Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Giọng thơ như trầm xuông để những nỗi lòng cứ thế chậm lại, nghẹn ngào. Người lính lên đường ra chiến trận có mấy ai được may mắn sống xót. Bao con đường hành quân đi qua, bao nấm mồ của đồng đội nằm rải rác nơi rừng hoang biên giới hiu quạnh. Chỉ có chiếc chiếu và nấm mồ đắp tạm cùng lòng thương xót, biết ơn của đồng đội đưa tiễn.

Tuy nhiên mạch bài thơ đâu chỉ dừng lại ở cái bi cái lụy. Cái hi sinh mất mát chỉ là bức nền để người linh phô vẽ vẽ đẹp của mình. Giữa sự hi sinh gian khổ vẫn hừng hực một tiếng thơ quyết tâm vang lên : ” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” . Đời xanh ở đây chính là tuổi trẻ, là sức lực ấy thế mà người chiến sĩ lại chẳng tiếc. Một thái độ lạc quan, bình thản, bỏ ngoài những gian khổ mất mát hi sinh để hăm hở lên đường. Nhà thơ đã mượn khí thế dũng cảm, khảng khái của bậc trượng phu trong thi cổ: ” Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” đ ể khắc tạc lên dáng dấp người chiến sĩ.

Và rồi vẻ đẹp kiêu dũng được đẩy lên đến cực điểm khi:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

” Áo bào thay chiếu anh về đất

Áo bào là tấm áo được dùng để khoác lên vai người tướng quân ra trận thời xưa. Áo bào là vẻ đẹp cao cả, giá trị. Ở đây áo bào lại được phủ lên tấm thân người chiến sĩ. Đây là hình ảnh phóng đại làm mờ đi thực trạng thiếu thốn người lính vừa nâng cao vị thế người chiến sĩ. Người chiến sĩ khi về với nơi yên nghỉ cũng chẳng có lấy một tâm chiếu chôn thân, chỉ có tấm áo mỏng tiễn đưa. Tổ quốc ghi ơn những người chiến sĩ, đồng đội biết ơn họ đã nằm xuống nên đã dùng tấm ” áo bào” để ghi nhớ công lao, sự đóng góp của họ. ” anh về đất” là cách nói giảm nói tránh cảm xúc bi thương tiễn đưa người lính, thể hiện thái độ nhẹ nhàng, thanh thản của người chiến sĩ. Người chiến sĩ nằm xuống là trở về với đất mẹ thân thương, là đi vào lòng quê hương, đất nước. Người chiến sĩ cảm thấy thanh thản, mỉm cười vui vẻ mãn nguyện vì đã chiến đấu hết sức mình, hi sinh để bảo vệ quê hương, đất nước, thực hiện xong nghĩa vụ vinh quang và trọng trách cao cả của mình.

Chứng kiến giây phút tiễn đưa hào hùng ấy, thiên nhiên cũng bày tỏ nỗi niềm:

” Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Dòng sông Mã thân thuộc gắn bó với người lính đang tấu lên những khúc nhạc bi tráng, tiễn đưa người lính trở về với trời xanh, với đất mẹ yêu dấu. Tiếng gầm của dòng sông như tiếng đại bác dồn vang ngợi ca công lao biết ơn, tưởng niệm sự cống hiến, hi sinh của người lính vì lý tưởng tự do của dân tộc.

Hình ảnh thơ hiện lên không buồn đau bi lụy mà hùng dũng, hiên ngang, lẫm liệt.

Đoạn thơ với những hình ảnh thơ độc đáo, từ ngữ giàu tính nhạc họa, ý thơ giàu sức gợi, sâu xa mang tính biểu trưng lớn,.. tất cả đã vẽ nên một bức tượng đài thật đẹp về hình ảnh người lính thời kì chống Pháp- bi tráng, hào hùng, lãng mạn và vo cùng kiêu hãnh. Những năm tháng đã qua đi, biết bao huyền thoại có thể bị lãng quên nhưng hình tượng về những người lính Tây Tiến năm ấy vẫn mãi bất tử và trường cùng thời gian, không gian.

Phân Tích Đoạn Thơ 2 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

(Bài làm của học sinh Lưu Thị Thanh Lịch, THPT Xuân Mai)

Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

Với hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa, Quang Dũng đã cho ra đời tác phẩm Tây Tiến năm 1948. Là một nghệ sĩ đa tài, bài thơ Tây Tiến được ông phát huy khả năng hội họa, soạn nhạ, điện ảnh. Vì thế mà bài thơ có sức cuốn hút vô cùng mạnh mẽ đối với người đọc. Phải chia tay binh đoàn Tây Tiến do nhiệm vụ công tác, Quang Dũng nhớ lại những kỷ niệm về binh đoàn tại nơi dừng chân là miền Tây ở đoạn thơ thứ hai:

Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào. Hoạt động cùng binh đoàn gần hai năm, cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác; vì thế cảm xúc chủ đạo toàn bài thơ là nỗi nhớ da diết. Ông nhớ về chốn dừng chân tại miền Tây với những kỷ niệm ngọt ngào thắm thiết ân tình. Tại “doanh trại” nơi đóng quân của binh đoàn đang diễn ra hội đuốc hoa.

Với động từ “bừng lên”, tác giả nhấn mạnh ánh sáng đột ngột xuất hiện trong không gian đêm hội. Đó là ánh sáng của những ngọn đuốc bập bùng trong không khí rộn ràng. Đó cũng có thể là ánh sáng kì diệu hân hoan trong ánh mắt, trong tâm hồn của những người lính Tây Tiến; là thứ ánh sáng rực rỡ, tình tứ, mang đầy yêu thương, ấm áp tình dân quân.

Như một tiếng reo vui ngỡ ngàng, trìu mến khi các cô gái vùng cao xuất hiện trong trang phục truyền thống của dân tộc mình. Những cô gái ấy càng đẹp hơn khi tiếng khèn, điệu múa được bắt đầu. Những điệu nhạc lạ của tiếng khèn man điệu uyển chuyển mê hoặc lòng người đến lạ lùng. Họ hòa cùng không khí đêm hội và thu hút bởi vẻ đẹp nữ tính, thẹn thùng e ấp. Để rồi Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ, cùng không khí âm nhạc, những điệu múa uyển chuyển, thứ ánh sáng kì diệu, những chàng trai Hà Nội thả hồn phiêu du hướng về Viên Chăn với niềm thương mến và tinh thần đầy trách nhiệm.

Cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến phút chia tay; buổi chia tay trên sông nước miền Tây chiều ấy là kỷ niệm đầy luyến lưu. Ta thấy hiện ra không gian bảng lảng đầy khói sương đặc trưng của miền Tây Bắc mang lại cảm giác buồn da diết.

Đó có thể là dáng những cô gái Thái, Mèo uyển chuyển mềm mại cầm lái đưa thuyền chở các chiến sĩ vượt sông. Đó cũng có thể là hình ảnh những chiến sĩ rắn rỏi, kiêu dũng vượt thác, vượt mọi hiểm nguy cửa địa hình. Quang Dũng sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và phép đối lập trong câu thơ cuối của khổ hai như lời tạm biệt. Ông vẽ lên một thiên nhiên dữ dội vùng thác nhưng trên đó lại có những bông hoa nhẹ nhàng “đong đưa” tình tứ quyến luyến như cái vẫy tay từ biệt cô gái sơn nữ miền Tây với người lính chiến trường.

Ngòi bút của Quang Dũng không chỉ miêu tả mà còn gợi, cảnh vật như có hồn thiêng của núi rừng, đậm màu sắc cổ tích giống như nét vẽ hư ảo trên bức tranh sông nước miền Tây. Bức tranh ấy mang đậm dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, tình tứ lãng mạn, tài hoa, vô cùng yêu mến gắn bó với mảnh đất nơi đây.

Bằng ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, hồn thơ mang đậm chất lãng mạn, hào hoa, Quang Dũng đã để lại dấu ấn đẹp về thơ ca kháng chiến mà thành công là sự hòa hợp kì diệu giữa thiên nhiên và con người miền Tây ở khổ thơ thứ hai của bài thơ. Cái đẹp mĩ lệ, thơ mộng đầy chất nhạc, chất họa, chất mơ mộng của từng nét vẽ. Nét bút của Quang Dũng đã tạo nên một thế giới của cái đẹp, cái ân tình yêu thương, ấm áp giữa quân và dân vùng Tây Bắc.

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân” trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!