Xem Nhiều 2/2023 #️ Phân Tích Tư Thế Ung Dung, Hiên Ngang Của Người Lính Qua Hai Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi) # Top 3 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phân Tích Tư Thế Ung Dung, Hiên Ngang Của Người Lính Qua Hai Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi) # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Tư Thế Ung Dung, Hiên Ngang Của Người Lính Qua Hai Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi) mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân tích tư thế ung dung, hiên ngang của người lính qua hai khổ thơ đầu trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật (bài làm của học sinh giỏi)

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

+ Phạm Tiến Duật(1941-2007), quê ở Phú Thọ, thường viết về người lính và những cô thanh niên xung phong

+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969

– Nêu vấn đề cần nghị luận: tư thế ung dung, hiên ngang ra trận của người lính trong hai khổ thơ đầu

– Nêu cảm nhận ban đầu

* Dẫn dắt: Từ nhan đề của tác phẩm giới thiệu về hai khổ thơ

* Khổ 1:

– Hình ảnh những chiếc xe không kính

+ Điệp ngữ “không có”: nhấn mạnh sự thật về những chiếc xe không kính

+ Điệp từ “bom”

+ Các động từ mạnh: giật, rung,

– Thái độ của người lính lái xe:

+ Hình ảnh đĩnh đạc, bất chấp gian khổ

* Khổ 2:

– Điệp từ “nhìn”: nhấn mạnh sự tập trung cao độ của người lính lái xe

+ Nhìn đất: nhìn đường để đi

+ Nhìn trời: nhìn để phát hiện máy bay của địch

+ Nhìn thẳng: nhìn vào khó khăn phía trước

– Nguy hiểm trên đường đi:

+ Người lính tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài

+ Gió vào xoa mắt đắng

+ Cánh chim: như sa, ùa vào buồng lái

* Liên hệ mở rộng

* Khái quát lại nghệ thuật

– Khái quát lại vấn đề

– Cảm nhận cá nhân

Phạm Tiến Duật là nhà thơ chuyên viết về người lính và những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn với giọng điệu sôi nổi, trẻ trung. Gắn liền với tên tuổi, phong cách thơ của ông là bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được sáng tác năm 1969. Bài thơ với hình ảnh những chiếc xe không kính đã khắc họa nổi bật hình tượng người chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn với những nét đẹp và phẩm chất đáng quý. Mà trong đó hai khổ thơ đầu tiên đã làm bật lên tư thế ung dung, hiên ngang của người chiến sĩ lái xe. Họ là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ thời kì xẻ dọc Trường Sơn cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Ngay từ nhan đề của bài thơ đã khắc sâu trong lòng người đọc một dấu ấn thật khó phai. Hai chữ “bài thơ” được viết ngay ở đầu nhan đề như cách mà tác giả đưa ra để nhấn mạnh ngòi bút hiện thực chiến đấu của mình. Bên cạnh đó còn là “xe không kính” gợi mở cho người đọc sự chú ý, lôi cuốn ngay từ đầu.

Trong chiến tranh, một chiếc xe không có kính không có gì là xa lạ và cũng chẳng có gì là hiếm hoi. Ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh ấy trong thời chiến là vậy nhưng có mấy ai đưa chúng được vào trong thơ ca mà hay, sâu sắc và tinh tế như Phạm Tiến Duật:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”

Có vẻ như chính họ đang tự kể về những chiếc xe của mình. Họ kể về hiện thực của những chiếc xe: đó là những chiếc xe không có kính nhưng không phải vì nó vốn thế mà là do bom đạn của quân thù đã phá hủy nó, khiến cho nó không còn nguyên vẹn như trước nữa. Điệp ngữ “không có” được lặp lại tới hai lần trong cùng một câu thơ càng góp phần nhấn mạnh thêm về sự tàn phá ấy. Không chỉ có thế thôi đâu. Tác giả còn sử dụng hàng loạt những động từ manh như “giật”, “rung” trong câu thơ tiếp theo cùng danh từ “bom” để nhấn mạnh hơn, tô đậm và khắc sâu hơn vào kí ức của người đọc về cái dữ dội của cuộc chiến đấu. Tuy khốc liệt là như vậy nhưng cách người chiến sĩ lái xe kể về nó, đối diện với nó lại hoàn toàn trái ngược:

“Ung dung buồng lái ta ngồi”

Tính từ “ung dung” được đảo lên đầu câu là cách mà tác giả lựa chọn để tả được một cách trực tiếp nhất về thái độ bình thản của người lính. Đó là sự tự tin, vững vàng không một chút lo lắng, run sợ. Các anh luôn giữ trong mình tâm lí tốt nhất, tư thế đĩnh đạc nhất để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong mọi trường hợp có thể xảy ra. Người chiến sĩ vẫn cứ lái, xe vẫn chạy. Trên dọc quãng đường xe chạy cùng sự thật không có kính đã vô tình trở thành cơ hội cho người lính tận hưởng, tiếp xúc gần nhất với thế giới bên ngoài:

“Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Đây là câu thơ có cách ngắt nhịp hoàn toàn khác so với những câu thơ trước đó: 2/2/2. Nhịp thơ tạo nên sự cân bằng, vững chắc của những chiếc xe không kính đang lăn bánh trên tuyến đường huyền thoại dưới tay lái vững vàng, điêu luyện của người chiến sĩ. Một câu thơ, ba chữ “nhìn” đã nêu rõ được sự tập trung đến cao độ của các anh. Họ nhìn đất để thấy được đường đi cho xe chạy, nhìn trời để kịp thời phát hiện ra máy bay của quân địch, nhìn thẳng là nhìn vào gian khổ trước mặt, nhìn về một tương lai rộng mở. Và họ đã được tiếp xúc trực tiếp với thế giới không gian bên ngoài qua cửa xe không kính:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái”

Những chiếc xe vẫn tiếp tục lăn bánh, người lính dù tập trung cao độ nhưng vẫn kịp cảm nhận khoảnh khắc của “gió vào xoa mắt đắng” hay sao trên trời, chim dưới đất cứ thế mà ập đến “như sa như ùa” vào buồng lái của người chiến sĩ lái xe. Một loạt các hình ảnh được lần lượt liệt kê thật đầy đủ và chi tiết cũng chính là biểu tượng cho hiện thực khốc liệt và đầy dữ dội của chiến tranh. Trước cái gian khổ làm nản lòng người thì người chiến sĩ lại đón nhận nó bằng cái tinh nghịch, trẻ trung và cũng rất lãng mạn của tuổi trẻ. Họ đã và đang giữ vững trong mình một tinh thần sắt đá, một nghị lực phi thường để vượt qua mọi rào cản trở ngại phía trước mà hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.

Với nhiều hình ảnh tiêu biểu cùng các biện pháp tu từ đảo ngữ, điệp ngữ….., cách ngắt nhịp 2/2/2 trong câu thơ thứ tư đã cùng làm nên thành công cho hai khổ thơ mở đầu về tư thế ung dung, hiên ngang của người chiến sĩ lái xe. Có thể nói, trên những chiếc xe không kính này, dù khó khăn, gian khổ là thế nhưng không thể làm lung lay ý chí vững vàng của người lính mà ngược lại họ còn thích thú, khoái chí khi tiếp xúc với thiên nhiên.

Lê Quỳnh Chúc

Lớp 9B – Trường THCS Thái Nguyên, Thái Bình

Phân Tích Khổ Thơ Thứ Hai Của Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật

Phan tich kho tho thu hai cua bai tho Bai tho ve tieu doi xe khong kinh. Đề bài: Những cảm giác, ấn tượng của những người lính lái xe trong những chiếc xe không kính trên đường ra trận của tác giả rất cụ thể, sinh động. Em hãy phân tích khổ thơ thứ hai để thấy rõ điều ấy.

Bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật đã mang đến cho những người đọc những cảm giác,những ấn tượng vô cùng chân thực, sinh động về những người lính lái xe trên những chiếc xe không kính trên tuyến đường Trường Sơn. Hình ảnh ấy không chỉ tái hiện lại không khí của một thời kì lịch sử đầy dữ dội của dân tộc mà còn làm nổi bật lên tinh thần yêu nước cùng quyết tâm giải phóng miền Nam của những người lính cụ Hồ trong kháng chiến.

Hình ảnh của những người lính lái xe được xây dựng dựa trên hình ảnh của những chiếc xe không kính. Hay nói cách khác, thông qua những chiếc xe không kính mà nhà thơ Phạm Tiến Duật đã xây dựng lên bức tượng đài anh hùng về những người lính lái xe trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Trước hết, tác giả đã đi xây dựng lên hình ảnh của những chiếc xe không kính:

“Không có không phải xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Những chiếc xe vốn là những xe lành lặn, nguyên vẹn nhưng đi qua khói lửa của chiến tranh, chịu sự khủng bố khốc liệt của quân thù thì chiếc xe trở nên méo mó, không vẹn nguyên. Dễ nhận thấy nhất đó chính là những chiếc kính xe bị phá hủy hoàn toàn “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Đối lập với cái khốc liệt của chiến tranh, sự méo mó của hình dạng những chiếc xe là sự lạc quan, kiên định trong tinh thần của những người lính. Không bị tác động bởi cái hiểm nguy,khốc liệt của bom đạn, những người lính vẫn ung dung, lạc quan lái xe cùng một tinh thần kiện định tuyệt đối “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái”

Thiếu đi kính xe cũng đồng nghĩa với việc những người lính lái xe gặp phải rất nhiều những trở ngại trong quá trình làm nhiệm vụ chi viện. Không có kính khiến cho những cơn gió mang theo bụi đất nơi chiến trường lùa vào buồng lái, làm cho những đôi mắt cay xè,trở ngại tầm nhìn của những người lính lái xe “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng”.

Bên cạnh những khó khăn khi chiếc xe thiếu đi những tấm kính thì tác giả Phạm Tiến Duật cũng mở ra một hình ảnh mang tính biểu tượng. Thiếu đi những tấm kính làm cho người lính khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ lái xe nhưng lại mở ra tầm nhìn sáng rõ về con đường mà mình đã lựa chọn. Đó là con đường đấu tranh giải phóng cho miền Nam. Con đường này dường như đẹp hơn, sáng hơn trước những tàn phá khốc liệt của chiến tranh.

Không có kính, những cánh chim có thể ùa vào buồng lái, vào thời khắc ban đêm thì những ánh sao dường như cũng đã trở thành người bạn thân thiết của những người lính lái xe. Như vậy, những biểu tượng của tự nhiên như sao trời, chim trời đã trở thành những người bạn đồng hành của những người lính trên đường ra trận. Qua đó ta cũng có thể thấy được tinh thần lạc quan cùng chất trẻ chảy trong con người của những người lính. Họ phát hiện ra những cảnh thơ mộng, lãng mạn trong chính hoàn cảnh khốc liệt nhất của chiến tranh.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

XE KHÔNG KÍNH

XE KHONG KINH

TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Tiến Duật Và Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi)

Thuyết minh về tác giả Phạm Tiến Duật và bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính (bài làm của học sinh giỏi)

– nêu đánh giá chung ban đầu

* Tác giả Phạm Tiến Duật

– sinh năm 1941 mất năm 2007

– quê ở huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ

– năm 1946 ông gia nhập vào quân đội hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn

– không biết về hình ảnh của người lính và những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn

– giọng điệu thơ sôi nổi trẻ trung tinh nghịch vào chất lính

* Bài thơ về tiểu đội xe không kính

– được sáng tác vào năm 1969 trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra gay go ác liệt

– được in trong tập thơ “vầng trăng quầng lửa”

– đề tài của tác phẩm là chiến tranh và người lính

– có thể chia tác phẩm thành 3 phần

– khắc họa nổi bật hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ với tư thế hiên ngang tinh thần lạc quan dũng cảm

– thể thơ tự do ngôn ngữ ngang tàn tinh nghịch giàu tính khẩu ngữ

– biện pháp nghệ thuật so sánh nhân hóa hoán dụ Điệp Từ liệt kê đối lập đảo ngữ động từ mạnh điệp cấu trúc

* khái quát lại giá trị tác phẩm

– đánh giá chung

– cảm nhận cá nhân

Hình ảnh những người lính hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn đã trở nên quen thuộc với mỗi người Việt Nam. Họ là những anh hùng của dân tộc những người không sợ hy sinh để chiến đấu bảo vệ hòa bình cho đất nước. 97 công lao to lớn ấy mà họ đã trở thành hình tượng cao đẹp cho các văn nghệ sĩ mà Phạm Tiến Duật cũng thế. Gắn liền với tên tuổi của ông là bài thơ ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

Phạm Tiến Duật sinh năm 1941 mất năm 2007 quê ở huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Năm 1946 ông gia nhập vào quân đội hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Hai hình tượng nổi bật trong thơ của Phạm Tiến Duật là người lính và những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ của ông có giọng điệu sôi nổi trẻ trung ngang tàn tinh nghịch giàu chất lính.

Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được viết vào năm 1969 trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra gay go ác liệt. Bài thơ được in trong tập thơ ” vầng trăng quầng lửa” của tác giả được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo văn nghệ năm 1969.

Khi phân tích bài thơ ta có thể chia làm 3 phần. Phần thứ nhất gồm hai khổ thơ đầu với nội dung là tư thế hiên ngang ra trận của người lính, phần thứ hai gồm bốn khổ thơ tiếp theo nêu lên tinh thần dũng cảm lạc quan và phần thứ ba là khổ thơ cuối cùng nêu lên ý chí chiến đấu. Bên cạnh đó cũng có thể chia thành hai ý chính để phân tích là hình ảnh những chiếc xe không kính và người lính lái xe Trường Sơn xuyên suốt bài thơ.

Về nội dung qua hình ảnh độc đáo những chiếc xe không kính bài thơ đã khắc họa nổi bật hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ với tư thế hiên ngang tinh thần lạc quan dũng cảm bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Để xây dựng thành công nội dung cũng không thể không kể đến sự góp mặt của những nét nghệ thuật đặc sắc. đó là thể thơ tự do ngôn ngữ thơ ngang tàn tinh nghịch giàu tính khẩu ngữ tự nhiên khỏe khoắn và việc sử dụng một loạt các biện pháp nghệ thuật như so sánh nhân hóa hoán dụ điệp từ liệt kê đối lập đảo ngữ động từ mạnh và điệp cấu trúc.

Năm tháng dần trôi những công lao to lớn của các anh đã được ghi chép đầy đủ trong kho tàng lịch sử nước nhà cũng như trong thơ ca. Đọc bài thơ về Tiểu Đội Xe Không Kính càng khơi dậy trong em niềm tự hào về những vị anh hùng của dân tộc đã hi sinh xương máu của mình đến ngày nay chúng ta có được một cuộc sống yên bình và tươi đẹp.

Lê Quỳnh Chúc

Lớp 9B – Trường THCS Thái Nguyên, Thái Bình

Từ khóa tìm kiếm:

thuyết minh vè phạm tiến duật

thuyet minh ve tac gia tac pham bai tho ve tieu doi xe

Hình Tượng Người Chiến Sĩ Lái Xe Trong Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật.

Dàn ý I. Mở bài:

– Giới thiệu đôi nét về Bài thơ tiểu đội xe không kính và tác giả Phạm Tiến Duật.– Giới thiệu hình ảnh người chiến sĩ lái xe trong bài thơ.II. Thân bài: Cảm nghĩ về những người chiến sĩ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính1. Tư thế của những người chiến sĩ: “Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”

– Tư thế rất ung dung

– Khi lái xe trên một chiếc xe tàn, mà các chiên sĩ vẫn dũng cả, ung dung và vui tươi

– Các chiến sĩ nhìn trời, nhìn đất một cách rất bình thản và thản nhiên

2. Tinh thần của các chiến sĩ: “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái”

– Cho dù những khó khăn như gió cay, bụi phun,.. nhưng các chiến sĩ vẫn tiếp tục lái xe.

– Thể hiện giọng điệu rất ngang tàng, bất chấp của các chiến sĩ.

3. Tình đồng đội của các chiến sĩ: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”

– Các chiến sĩ bắt tay qua cửa kính.

– Những cái bắt tay không chỉ là chào hỏi mà còn thể hiện sự lạc quan và cổ vũ tinh thần nhau.

– Tình đồng chí, đồng đội gắn bó kêu sơn

III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh người chiến sĩ và giá trị của tác phẩm.

Bài làm 1

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Đó là ý chí của những chiến sĩ Trường Sơn. Các anh hiện lên trên trang thơ thật dí dỏm, thật yêu đời. Khi gian khổ tưởng chừng không thể nào vượt qua được, khi cái chết tới gần. Vậy mà nụ cười lạc quan vẫn hiện hữu trên khuôn mặt các anh, nụ cười ấy rất ngang tàng và cũng đầy tinh nghịch. Nhắc tới họ, ta không thể quên người chiến sĩ lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Không biết nhà thơ dã bao nhiêu lần trực tiếp lái chiếc xe như thế mà ông lại viết ra được những dòng thơ hết sức chân thực và sống động đến vậy.

Không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Đó là lời giới thiệu của các anh, hết sức giản dị, rất thật. Trên chiếc xe không có kính đó người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng khốc liệt. Bom giật bom rung họ vẫn vững tay lái, nhấn ga cho xe băng băng lao ra chiến trận.

Chúng ta hãy lắng nghe các anh kết chuyện về mình với giọng điệu thật vui vẻ và hài hước:

Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Ung dung được đảo lêu đầu câu để nhấn mạnh tư thế bình tĩnh, đường hoàng, hiên ngang, tự tin khi họ phải lái một chiếc xe không kính. Nhìn thẳng là nhìn vào gian khổ, hi sinh không run sợ, không né tránh bởi họ chiến đấu vì chính nghĩa. Lái xe không kính, là gặp phải khó khăn nhưng những khó khăn lại thật bất ngờ:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ rất thực, thực đến từng chi tiết. Xe không có kính chắn gió lại chạy với tốc độ cao nên người lính lái xe phải đối mặt với bao nguy hiểm: gió xoa mắt đắng, con đường ngược lại chạy thẳng vào tim, sao trên trời, chim dưới đất bất ngờ như sa, như ùa, như rơi, rung, quăng, ném vào buồng lái. Những câu thơ chân thực, sống động, đầy ấn tượng như chính nhà thơ đang cầm vô lăng mà lái.

Bao khó khăn thử thách nhưng người lính lái xe vẫn không run sợ, hoảng hốt. Trái lại, tư thế của các anh rất hiên ngang, ung dung tự tại, tinh thần của các anh vẫn vững vàng. Bởi các anh vẫn quyết tâm vượt qua gian khổ, để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao.

Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc tráng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa. Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Nhà thơ lại tiếp tực khắc họa những khó khăn, gian khổ của những người lính lái xe. Những câu thơ như những lời nói thường ngày, không gắn liền với những tiếng nói bỗ bã, đầy chất lính ngang tàng song cũng rất đáng yêu như bật lên từ tình cảm thực của những người lính lái xe. Khó khăn là thế, và vẫn chấp nhận là tất yếu: ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo nhưng cũng với thái độ rất thản nhiên:

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc …Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Sự bình thản của những người lính lái xe đến vô tư. Câu thơ cân đối, nhịp nhàng theo độ rung của bánh xe lăn, các thanh bằng, trắc phối hợp linh hoạt, giọng thơ pha chút ngang tàng thường thấy ở người lái xe.

Hai khổ thơ làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe: dũng cảm, hiên ngang, phớt đời, bất chấp hiểm nguy trước biết bao thử thách. Họ đạp bằng gian khó tiến về phía trước với một quyết tâm: giải phóng miền Nam. Đúng là chiến tranh ác liệt có thể tàn phá những phương tiện kĩ thuật vật chất nhưng không thể đè bẹp được sức mạnh tinh thần của con người. Trái lại, aó chỉ càng làm nổi rõ thêm tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của họ mà thôi:

Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

Trong hoàn cảnh ác liệt, những người lính lái xe có cùng một mục đích, cùng chung lí tưởng nên ở họ đã hình thành nên tình cảm đồng chí, đồng đội tốt đẹp, ấm cúng như trong một gia đình:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bút đĩa nghĩa là gia đình đấy

Hình ảnh những chiếc xe từ trong bom rơi đã gợi lên ý nghĩa về người lính lái xe gan góc vượt qua gian nan thử thách. Khi gặp nhau tình cảm giao lưu cua họ thật là đặc biệt:

…Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

để rồi:

Lại đi, lại đi trời thêm xanh.

Câu thơ có một cái gì đó thật lãng mạn và lạc quan:

Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe không có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tỉm.

Xe bị bom đạn Mĩ làm cho biến dạng đến trơ trụi: không kính, không đèn, không mui… nhưng đoàn xe vẫn cứ chạy vì một mục đích cao cả: vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất nước nhà. Thì ra mọi cội nguồn tạo ra sức mạnh của đoàn xe được tích tụ lại ở trái tim gan góc, kiên cường giàu bán lĩnh nhưng chan chứa tình yêu thương ở người cầm lái. Chính tình yêu Tổ quôc, tình thương đồng bào đã khích lệ, động viên người lính láixe đạp bằng giankhó, lạc quan, bình tĩnh, nắm chắc vô lăng, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe tới đích. Khổ thơ cho ta thấy chân lí của cuộc đời: sức mạnh không chỉ là vũ khí, là vậ chất mà chính là con người. Con người mang trái tim nồng cháy, yêu thương, có ý chí kiên cường chiến đấu là con người chiến thắng:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Câu thơ làm toả sáng hình tượng người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn, là linh hồn của cả bài thơ.

Bài thơ đã khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ lái xe thật đẹp, thật dí dỏm, thật lính. Đó là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ một thế hệ anh hùng, sống đẹp và giàu lí tưởng. Họ sẵn sáng làm bất cứ việc gì, đi bất cứ đâu mà Tổ quốc cần, trong gian khổ vẫn giữ vững một niềm tin, một niềm lạc quan tin tưởng vào chiến thắng. Đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

Tứ thơ được hình thành từ một hình tượng, một chi tiết độc đáo: những chiếc xe không kính chắn gió vẫn băng băng trên đường ra trận:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi. Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Lời thơ của Phạm Tiến Duật hết sức tự nhiên chẳng khác gì lời nói bình thường hàng ngày. Cái gian khổ nguy hiểm: bom giật làm vỡ kính xe được anh kể lại một cách tự nhiên như không. Đó là chuyện quá bình thường đối với người lính lái xe trong thời chiến. Ngay khổ thơ mở đầu nhà thơ đã phác họa trước mắt người đọc tư thế hiên ngang của họ. Điệp từ “nhìn” được nhấn mạnh ba lần trong một câu kết hợp với cách ngắt nhịp hai – hai – hai: “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” đã diễn tả được cái tư thế hiên ngang ấy. Mặc dù bom đạn trên đầu, mặc dù mặt đường sạt lở cây cối ngổn ngang, phải qua bao dốc cao, vực thẳm họ vẫn giữ nguyên tư thế ung dung, hiên ngang, như chẳng có việc gì xảy ra. Không có kính hóa ra lại hay, bởi vì:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái.

Phải người trong cuộc mới viết được những câu thơ vừa hay vừa chính xác đến như thế. Tâm hồn các chiến sĩ lái xe thật lãng mạn. Nhờ không có kính mà sao trời, cánh chim “như sa, như ùa” vào buồng lái. Sao và chim trở thành người bạn đường của họ. “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” tả rất đúng cảm giác của người lái xe không kính, đồng thời còn nói được sự gắn bó của họ đối với con đường Trường Sơn, con đường đánh Mĩ: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Những chiến sĩ lái xe thật trẻ, thật hồn nhiên, pha một chút ngang tàng đáng yêu, đúng là kiểu ngang tàng của lính lái xe:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già. Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!

Có lần, bình khổ thơ này, Xuân Diệu tỏ ra không thích lắm về tiếng cười “ha ha”. Biết làm sao được! Đó là quyền của người thưởng thức. Nhưng cánh lính lái xe chắc là rất khoái vì Phạm Tiến Duật đã vẽ được rất đúng chân dung của họ. Cái dáng “phì phèo châm điếu thuốc” và tiếng cười “ha ha” thoải mái, trẻ trung càng làm nổi bật tư thế hiên ngang, tâm hồn lạc quan của họ trong những năm tháng vô cùng ác liệt.

Những người lái xe coi gian khổ như không:

Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!.

“ừ thì ướt áo” chuyện quá bình thường không đáng kể. “Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” thì cũng chẳng sao. Tất cả rồi sẽ nhanh chóng qua đi: “Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi?”… Vẫn cái chất giọng ngang tàng đáng yêu của lính lái xe.

Tình cảm gắn bó giữa các chiến sĩ lái xe cũng được diễn tả rất đúng, rất hợp cái phong cách ngang tàng đáng yêu của họ:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội, Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Họ đều vất vả gian khổ như nhau, họ phải trải qua những phút giây nguy hiểm như nhau, họ chào nhau bằng cái bắt tay cảm thông và tin cậy. “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” mang rất nhiều ý nghĩa. Sự gắn bó thân thiết ấy còn được nhà thơ diễn tả qua bữa ăn dã chiến của họ: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Họ coi nhau như anh em trong một nhà, cùng san sẻ với nhau bao khó khăn, vất vả. Đời sống chiến đấu càng thiếu thốn, gian khổ càng xích họ lại gần nhau hơn.

Bài thơ kết thúc bằng sự nhận thức rất sâu sắc của người lính lái xe:

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Có thể còn nhiều gian khổ, còn nhiều mất mát, còn nhiều hi sinh… nhưng không thể ngăn cản được bước tiến của người lái xe nói riêng của dân tộc ta nói chung. “Trái tim”ở đây là trái tim yêu thương đối với đồng bào miền Nam, trái tim đã nguyện chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng đất nước.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính có một chất giọng riêng đáng quý. Chất giọng tự nhiên pha chút ngang tàng rất phù hợp với các chiến sĩ lái xe thời chiến. Bài thơ đã giúp người đọc hiểu được đời sống chiến đấu hết sức gian khổ thiếu thốn của họ, hiểu được tư thế hiên ngang, tâm hồn trẻ trung lãng mạn và ý chí cao đẹp của họ. Phạm Tiến Duật đã có những đóng góp đáng quý cho nền thơ ca chống Mĩ cứu nước.

Bài làm 3

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta là một bản anh hùng ca bất diệt. Trong những tháng năm sục sôi khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy nhân dân Miền Bắc đã không tiếc sức người, sức của chi viện cho Miền Nam ruột thịt.

Trong những đoàn quân điệp trùng nối nhau ra trận có chàng trai trẻ Phạm Tiến Duật. Anh được tôi luyện và trưởng thành trong chiến tranh và trở thành nhà thơ chiến sỹ. Thơ anh không cuốn hút người đọc bằng ngôn từ mượt mà, âm điệu du dương mà nó khiến người đọc say bằng chính sự tự nhiên, sống động, gân guốc, độc đáo và đậm chất lính tráng.”Bài thơ về tiểu đôi xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ đó .Xuyên suốt bài thơ là hai hình ảnh trung tâm: những chiếc xe và những người chiến sĩ lái xe. Những chiếc xe không kính và nguyên nhân của nó được giới thiệu bằng lời thơ tự nhiên ,mộc mạc như một lời phân bua mà có lẽ trước tác giả chưa ai khám phá ra chất thơ bộc lộ ngay trong vẻ tự nhiên của ngôn từ :Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi .Cách lý giải đơn giản, ngộ nghĩnh tạo thú vị cho người đọc. Cảm hứng thơ bắt đầu từ hiện thực ác liệt nơi chiến trường với “bom giật, bom rung” giúp ta hình dung sự tàn phá của đạn bom trên những nẻo Trường Sơn năm ấy vô cùng dữ dội. Song thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ sở để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp và sức mạnh tinh thần lớn lao của họ:Ung dung buồng lái ta ngồiNhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Trên những chiếc xe không kính, dưới làn bom đạn của kẻ thù, an toàn của các anh khó mà bảo đảm. Vậy mà thái độ của các anh bình thản tự tin đến không ngờ. Trong tư thế ung dung, trong cái nhìn bao quát cả đất trời còn có cả niềm kiêu hãnh của người làm chủ hoàn cảnh, tự hào ngắm nhìn đón nhận thiên nhiên. Nhịp thơ cân xứng, ý thơ trôi chảy, lời thơ nhẹ nhàng như diễn tả hình ảnh những đoàn xe lăn bánh trên những nẻo đường ra trận. Cái vất vả, gian khổ hiểm nguy được miêu tả bằng những hình ảnh giản dị trung thực đến từng chi tiết: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa, như ùa vào buồng lái.Xe không kính, gió lùa mạnh vào cabin, người lái xe không chỉ cảm thấy mà còn nhìn thấy “gió vào xoa mắt đắng “. Cử chỉ quá đỗi trìu mến, dịu dàng và thân thiện ấy của gió làm đắng những đôi mắt cay xè vì thiếu ngủ. Và hơn thế nữa ,nắng mưa gió bụi của Trường Sơn đã trở thành những bạn đồng hành:Không có kính ừ thì có bụiBụi phun tóc trắng như người già.…Không có kính ừ thì ướt áoMưa phun mưa xối như ngoài trời.Điệp từ “ừ thì”, “chưa cần”, hình ảnh “phì phèo châm điếu thuốc “, giọng “cười haha” hào sảng làm tôn lên chất bình dị mà anh hùng của những chàng trai trẻ biết biến cái vất vả gian nan thành phút giây thư giãn thoải mái. Qua đó làm sáng lên tinh thần cứng cỏi đầy nghị lực và bất chấp gian khó của những người biết vượt lên hoàn cảnh để làm chủ hoàn cảnh. Có lẽ ai đã từng đến Trường sơn mới thấu hết cái gian nan của người cầm lái. Đường Trường Sơn gập ghềnh,mưa Trường Sơn như trút nước, mùa khô xe chạy bụi mù trời. Bom đạn của quân thù không làm các anh chùn bước thì gió, bụi,mưa sa của thiên nhiên khắc nghiệt nào có đáng kể chi. Trên những chiếc xe không kính ,tâm trạng người chiến sĩ lái xe vẫn phơi phới thênh thang:Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi.Lạ lùng thay, như một khám phá bất chợt của nhà thơ, sự hiểm nguy của những chiếc xe không kính lại trở thành sự tiện lợi bất ngờ khi các chàng lính gặp nhau, bởi họ có thể không cần phải xuống xe mà vẫn có thể bắt tay nhau thể hiện tình thân ái. Công việc vất vả, hiểm nguy nhưng phút nghỉ ngơi của những người lính lại vô cùng giản dị :Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trờiChung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.Cuộc sống dẫu giản dị, xuềnh xoàng nhưng ấm áp tình cảm .Những người lính không chỉ là đồng chí ,đồng đội của nhau mà họ còn là những người cùng trong một gia đình. Bởi vậy sau những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi họ lại tiếp tục công việc của mình với niềm tin mãnh liệt vào ngày mai chiến thắng. Chỉ có điều càng gần đến phương Nam những chiếc xe ngày càng hư hỏng:Không có kính rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước .Khi tứ xe “không kính” được gói lại thì những con số không khác lại mở ra: “không đèn”,”không mui”,chỉ một thứ duy nhất có thêm nhưng lại là “có xước”. Như vậy cả “không có” và “có “đều là tổn thất, đều là hư hại. Điệp ngữ “không có” được nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần những thử thách khốc liệt của chiến tranh , hoàn thiện dung mạo trụi trần đến kinh ngạc của chiếc xe vận tải. Vượt dãy Trường Sơn, đi qua đạn bom khói lửa của kẻ thù ,mang trên mình đầy thương tích những chiếc xe như một dũng sĩ kiên cường. Kì lạ thay:Xe vẫn chạy vì miền nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim.“Trái tim” là một hoán dụ chỉ người chiến sĩ lái xe yêu nước căm thù giặc sống trẻ trung, sôi nổi và lạc quan tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến. Câu thơ khép lại nhưng con mắt thơ thì mở ra. Ta chợt nhận ra người chiến sỹ lái xe là một phần không thể thiếu ,là con mắt ,là bộ não ,là linh hồn của xe. Có trái tim chiếc xe thành một cơ thể sống ,thành một khối thống nhất với người chiến sĩ. Ta hiểu vì sao cả đoàn xe có thể vượt qua dãy Trường Sơn khói lửa bởi cội nguồn sức mạnh của nó kết tụ lại cả trong trái tim gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa yêu thương. Có lẽ vì thế mà nhiều người cho rằng đây là hình ảnh trái tim cầm lái.Đến với bài thơ ta thú vị nhận ra cái giọng rất trẻ, rất lính. Chất giọng ấy bắt nguồn từ sức trẻ ,từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà chính tác giả đã từng sống, từng trải nghiệm. Ngôn ngữ thơ giản dị đậm chất văn xuôi, hình ảnh thơ sáng tạo bất ngờ, đặc biệt là sự linh hoạt của nhạc điệu trong thơ đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn sâu sắc của bài thơ trong lòng độc giả.

Bài làm 4

Phạm Tiến Duật là nhà thơ nổi lên từ phong trào chống Mỹ cứu nước. Năm 1964, tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Ông vào bộ đội và xung phong vào tuyến lửa khu Bốn. Từng là lính lái xe nên ông có những bài thơ viết rất hay về binh chủng này. ” Tiểu đội xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu. Bài thơ là khúc hát ca ngợi những người lính lái xe đã đã vượt lên hiện thực dữ dội, ác liệt của khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ để hoàn thành nhiệm vụ.

Bài thơ đã xây dựng một hình tượng độc đáo đó là những chiếc xe, nói cho đúng là cả một tiểu đội xe không có kính chắn gió, chắn bụi băng băng ra trận. Mà độc đáo thật, vì chỉ gặp ở Việt Nam, ở những chiến sĩ lái xe quân sự thời chống Mỹ. Có thể nói “chất” độc đáo này được lên men từ chiến trường ác liệt:“Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”Nguyên nhân xe không kính là vậy. Đấy là mội hiện thực trần trụi mà tác giả không thể hư cấu.Bên cạnh hiện thực trần trụi đấy là hình ảnh người lính lái xe hiện lên rất đẹp. Cứ tưởng với hiện thực dữ dội, ác liệt, trớ trêu ấy, người lính lái xe phải bó tay, thế nhưng vẫn nổi lên với tư thế:“Ung dung buồng lái ta ngồiNhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”Nghĩa là xe cứ đi. Không những ung dung mà người lính lái xe còn tỏ ra rất chủ động, hiên ngang vượt lên tất cả. Nói đến người lái xe là nói đến con mắt, nói đến cái nhìn. Tô đậm cái nhìn của người lái xe, chỉ trong một dòng thơ, tác giả đã sử dụng 3 lần từ “nhìn” (điệp từ). Nhìn trời là để phát hiện máy bay hay pháo sáng về ban đêm. Nhìn thẳng là cái nhìn nghề nghiệp, hiên ngang. Và cũng từ ca bin không kính, qua cái nhìn đã tạo nên những ấn tượng, cảm giác rất sinh động, cụ thể đối với người lái xe:“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa, như ùa vào buồng lái”Những cảm giác này, dù mang ý nghĩa tả thực hay tượng trưng, đều thể hiện cái thế ung dung tinh thần vượt lên của người lái xe.Hai khổ thơ tiếp, hình ảnh người lái xe được tô đậm. Cái tài của Phạm Tiến Duật trong khổ thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu sau nói lên tinh thần vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh của người lái xe trong thời gian chiến tranh ác liệt.Xe không kính nên “bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe không có kính nên “ướt áo, mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên.Những cụm từ “ừ thì có bụi”, “ừ thì ướt áo” chứng tỏ họ không những đã ý thức được mà còn rất quen với những gian khổ đó.Chính vì thế:“Chưa cần lửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”Và cao hơn:“Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.”Đây là những câu thơ đậm chất người lính, nói rất đúng tinh thần và cuộc sống của người lính Các động tác “phì phèo châm điếu thuốc” tuy có vụng về nhưng sao đáng yêu thế?. Cái cười “ha ha” nở ra trên khuôn mặt lấm lem của mọi người sao mà rạng ngời đến thế? Bởi vậy, đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, yêu đời và tinh thần hoàn thành nhiệm vụ cao.Hai khổ thơ tiếp nói về cảnh sinh hoạt và sự họp mặt sau những chuyến vận tải trên những chặng “đường đi tới”. Vẫn những câu thơ có giọng điệu riêng, đậm chất văn xuôi rất riêng của Phạm Tiến Duật đã thể hiện được tình đồng chí, đồng đội trong kháng chiến. Ở hai khổ thơ này, tác giả vẫn tô đậm cái hình tượng thơ “xe không kính”, nhưng lại có cách nói khác rất lính:“Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”Khổ thơ cuối cùng, kết thúc bài thơ, tác giả muốn nói với chúng ta một điều như một điều dự báo: đâu chỉ là tiểu đội xe không kính mà tương lai còn là tiểu đội xe không đèn, không mui xe,… Hiện thực của cuộc chiến tranh diễn ra còn hết sức ác liệt, người lính lái xe còn phải đối mặt với bao nhiêu nghiệt ngã, thử thách: “Không có kính rồi xe không đèn, không có mui, thùng xe có xước” nhưng nhất định họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ, sẽ chiến thắng bởi vì phía trước họ là miến Nam thân yêu và vì họ sẵn có một nhiệt tình cách mạng, một trái tim quả cảm trái tim người lính Bác Hồ.“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim”Bài thơ là bức tượng đài nghệ thuật về người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Hình ảnh người chiến sĩ đã được thể hiện rất rõ ràng và chân thật. Qua các hình ảnh ấy, ta thấy rõ được sự khó khăn và gian khổ của những người lính oai hùng và thêm yêu mến, thêm biết ơn đối với các vị anh hùng dân tộc đã ra đi để đất nước được vẹn tròn.

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Tư Thế Ung Dung, Hiên Ngang Của Người Lính Qua Hai Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật (Bài Làm Của Học Sinh Giỏi) trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!