Xem Nhiều 9/2022 ❤️️ Phân Tích Vẻ Đẹp Của Khổ Thơ Sau Trong Bài Thơ “đò Lèn” (Nguyễn Duy). “tôi Đi Lính, Lâu Không Về Quê Ngoại Dòng Sông Xưa Vẫn Bên Lở Bên Bồi Khi Tôi Biết Thương Bà Thì Đã Muộn Bà Chỉ Còn Là Một Nấm Cỏ Thôi.” ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 9/2022 ❤️ Phân Tích Vẻ Đẹp Của Khổ Thơ Sau Trong Bài Thơ “đò Lèn” (Nguyễn Duy). “tôi Đi Lính, Lâu Không Về Quê Ngoại Dòng Sông Xưa Vẫn Bên Lở Bên Bồi Khi Tôi Biết Thương Bà Thì Đã Muộn Bà Chỉ Còn Là Một Nấm Cỏ Thôi.” ❣️ Top Trend

Xem 102,861

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Vẻ Đẹp Của Khổ Thơ Sau Trong Bài Thơ “đò Lèn” (Nguyễn Duy). “tôi Đi Lính, Lâu Không Về Quê Ngoại Dòng Sông Xưa Vẫn Bên Lở Bên Bồi Khi Tôi Biết Thương Bà Thì Đã Muộn Bà Chỉ Còn Là Một Nấm Cỏ Thôi.” mới nhất ngày 28/09/2022 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 102,861 lượt xem.

Bình Bài Thơ ” Về Quê Ngoại”

Cảm Nghĩ Về Dòng Sông Quê Hương Em

Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Dòng Sông Quê Hương.

Chùm Thơ Lục Bát Gái Quê, Con Gái Nhà Nông Hay Nhất

Những Bài Thơ Hay Về Những Cô Gái Quê

Là một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới, Nguyễn Duy được bạn đọc biết nhiều nhất với tập thơ “Mẹ và em” sáng tác năm 1987. Trong tập thơ phải kể đến “Đò lèn”, bài thơ tập trung những nét tiêu biểu trong phong cách thơ Nguyễn Duy: quan tâm đến cuộc sống, cội nguồn, đến những giá trị vĩnh hằng; thiết tha với số’ phận con người và chất triết lí thâm trầm hài hoà với chát hóm hỉnh dân dã… Bài thơ có khổ thơ kết thúc đầy xúc cảm:

Trong suốt quãng thời gian tuổi ấu thơ nhân vật tôi đã sống “trong suốt giữa hai bờ hư – thực”, giữa hư và thực, thế giới thánh thần, tiên phật cố’ tích và cuộc đời vất vá của bà. Trạng thái nhận thức ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên của một đứa trẻ đã khiến cậu bé trở nên vô tâm “đâu biết bà tôi cơ cực thế”; yêu mà không biết thương bà. Để rồi, khi tất cá đã qua đi, cậu bé con khi xưa đã trở thành một người trướng thảnh, giờ đây ngậm ngùi:

“Tói đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sống xưa vẫn bên lở, bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”.

Trải qua những miền kí ức vui buồn, khổ thơ là một lời thú nhận đầy xót xa. Khoảng cách từ “thuở nhỏ” đến “tôi đi lính”, lại được gia tăng thêm bởi dấu (…) đủ để biến một cậu bé vô tư đến vô tâm ngày xưa trở thành người lớn. Thực tế cuộc sống, những kinh nghiệm chiến đấu và sự từng trải đã giúp tác giá phá vỡ hoàn toàn thứ ảo tưởng ngây thơ thời con trẻ, nhận ra “bà tôi cơ cực thế”, nhận ra dáng thập thững những đêm hàn thì tất cả đã muộn, “bà chi còn là một nấm có thôi”.

Thời gian làm cho con người ta trưởng thành. Cảng quê vẫn không thay đổi chỉ có con người là không thê’ nào thoát khỏi quy luật của tự nhiên. Dòng thơ đọc lên có sự ngậm ngùi, chua xót:

* “Tôi đi lính lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi”

Hắn quê ngoại vẫn là quê ngoại của ngày xưa với công Đa, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng… chỉ có con người là thay đổi. Hình ánh “dòng sống xưa bên lở bên bồi” có sức gợi rât lớn. Đó vẫn là dòng sống của những ngày bà xúc tép đồng Quan, bà gánh chè Ba Trại…, dòng sống của “tôi” đi câu cá, níu váy bà đi chợ, xem lễ đền Sòng… Nó không chỉ gợi về một miền quê lam lũ mà còn là cầu nối đưa tác giả trở về với quá khứ. Người đọc chợt thấy thắt lòng bởi lời thú nhận:

“Khi tôi biết thương bà thì đã muộn”

Hình ảnh người bà là một hình tượng đẹp xuất hiện từ đầu đến cuối và là nguồn cảm hứng chính xuyên suốt bài thơ. Trong cuộc sống mưu sinh, bà hiện lên tần tảo, chịu thương chịu khó như bao người phụ nữ Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh vĩ đại. Cuộc đời tần tảo, lam lũ vì con vì cháu của bà là biểu tượng của tình yêu thương lớn lao, của bẳn lĩnh kiên cường mà thầm lặng. Chiến tranh nố ra tàn khốc, “đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền / thánh với phật rủ nhau đi đâu hết” lúc này còn lại bà, tiếp tục sống như một lời thách thức: “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Hình ảnh bà hiện lên thật đẹp. Vậy mà cuối cùng, giờ đây, khi nhân vật tôi quay trở về, “bà chí còn là một nấm cỏ thôi”. Tác giả đã không dùng một từ nào khác mà là “nấm cỏ” để miêu tả nơi người bà an nghỉ. Bà nằm xuống, giản dị và bé nhỏ, khiêm nhường đến tội nghiệp như chính sự hi sinh thầm lặng trong cả cuộc đời. Sự tương đồng và đối lập trong quá khứ và hiện tại càng làm cho hình ảnh bà hiện lên đẹp đẽ cũng như khẳng định tình cảm yêu thương của nhân vật trữ tình.

Cái làm nên sức hấp dẫn, sấu sắc của bài thơ không chỉ ở hình tượng thơ gần gũi mà còn nằm trong chất triết lí sâu xa. Nếu như trong bài thơ “Ánh trăng”, chất triết lí thể hiện ngay từ tên Đề thơ với hình ảnh ánh trăng mang nhiều ý nghĩa biếu tượng. Ánh trăng tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, cho vẻ đẹp vĩnh hằng của đời sống. Nó còn là lời nhắc nhở con người nhớ về cội nguồn, nhắc nhở lẽ sống thuỷ chung, son sắc…

“Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”.

Đọc “Đò Lèn” ta cũng bắt gặp một triết lí sống gây nhiều suy nghĩ. Trước hết, câu chuyện nêu lên một hiện tượng mang tính quy luật trong cuộc sống: con người ta thường chỉ hiểu hết ý nghĩa của những cái mình có khi nó đã qua đi. Người cháu trải qua một thời gian dài chiêm nghiệm cuộc sống đến khi thấu hiểu cuộc đời bà, đến khi biết bày tỏ tình cảm ấy thì cũng là lúc bà không còn trên đời nữa. Cái “tôi biết” tuy “đã muộn” nhưng dù sao cũng là bài học thấm thìa: đừng tự ru mình trong những ảo ảnh ngọt ngào. Sống giữa cõi thực hãy nhìn bằng cặp mắt tỉnh táo – như thế mới có thể chông lại cái xấu, cái ác, hiểu và cảm thông cho con người. Bài học triết lí làm cho bài thơ không chỉ đơn thuần là một bài “điếu văn” muộn màng viết về bà mà còn là bài học có ý nghĩa cho cuộc sống con người.

Tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh như một sinh thể có hồn chính là nhờ sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và hình thức. “Đò Lèn” nói chung cũng như khổ thơ cuối nói riêng thành công không chỉ bởi tình cảm chân thành của tác giả, hình tượng đẹp của người bà, chất triết lí sâu sa mà còn bởi Nguyễn Duy đã thể hiện nó trong một hình thức nghệ thuật tương xứng. Bài thơ có một hình thức trình bày đặc biệt: những chữ đầu dòng không viết hoa. Mạch thơ được triển khai theo dòng suy nghĩ miên man của nhân vật trữ tình, thể hiện sự liền mạch về hình ảnh và ý tưởng trong từng khổ cũng như cả bài thơ. Khổ thơ cuối đặt dấu chấm kết thúc bài thơ cũng là lúc kết thúc dòng suy tưởng của tác giả. Từ đó mở ra những cảm xúc khác nhau trong lòng người đọc.

Khổ thơ nằm trong nhịp thơ trôi chảy nhẹ nhàng theo dòng tâm sự, khi thiết tha, khi trầm lắng, suy tư của toàn bài, cùng với đó là việc sử dụng một cách có hiệu quả biện pháp tu từ và hệ thông hình ảnh gần gũi, đầy sức gợi. Chỉ một dấu (…) thôi cũng đủ để nhấn mạnh khoảng thời gian từ khi tác giả lớn lên, đi lính đến lúc trở về. Nó cũng là khoảng lặng trong tâm hồn tác giả trước sự thực phũ phàng mà mình đang phải đối mặt: “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Khổ thơ giống như một nốt nhạc trầm, kết thúc bài thơ mà vẫn còn vang vọng, dư âm..

“Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên trên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tâm lòng của người viết”. “Đò Lèn” của Nguyễn Duy đã đạt được cả ba điều ấy để làm nên một bài thơ thật hay, thật đẹp…

Bài Thơ “về Quê Ngoại” Trong Sách Tiếng Việt Lớp 3 Có 2 Tác Giả?

Chợ Quê Trong Thơ Lục Bát Việt Nam Đương Đại

Thơ Lục Bát Viết Về Chợ Quê Của Ngọc Tô

Lời Bài Hát Về Quê Cũ Xuân Mai

Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Vẻ Đẹp Của Khổ Thơ Sau Trong Bài Thơ “đò Lèn” (Nguyễn Duy). “tôi Đi Lính, Lâu Không Về Quê Ngoại Dòng Sông Xưa Vẫn Bên Lở Bên Bồi Khi Tôi Biết Thương Bà Thì Đã Muộn Bà Chỉ Còn Là Một Nấm Cỏ Thôi.” trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2808 / Xu hướng 2898 / Tổng 2988 thumb
🌟 Home
🌟 Top