Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài Việt Bắc Lớp 12 Của Tác Giả Tố Hữu # Top 7 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài Việt Bắc Lớp 12 Của Tác Giả Tố Hữu # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Việt Bắc Lớp 12 Của Tác Giả Tố Hữu mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề bài: Soạn Bài Việt Bắc Lớp 12 Của Tác Giả Tố Hữu

a) Cuộc đời

-Tố Hữu: tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920-2002) sinh ra trong gia đình nhà nho nghèo tại Quảng Thọ- Quảng Điền- Thừa Thiên Huế.

-Tố Hữu chịu cảnh mất mẹ, thiếu thốn tình cảm. Ông sớm tham gia cách mạng, năm 1938 ông được kết nạp Đảng.

-Năm 1939 ông bị thực dân Pháp bắt giam, đến 1942 ông vượt ngục thành công trở lại hoạt động cách mạng.

-Trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước ông giữ nhiều chức vụ cao trong bộ máy của Đảng và nhà nước.

-1996 Ông được tăng giải thưởng Hồ Chí Minh vì văn học nghệ thuật.

b) Đường cách mạng đường thơ

Những tập thơ gắn liền với con đường hoạt động cách mạng của Tố Hữu đều có phong cách nghệ thuật mang đượm chất chữ tình chính trị.

Từ ấy (1937-1946)

Việt Bắc (1946-1954)

Gió lộng (1955-1961)

Ra trận (1962-1971)- máu và hoa (1972-1977)

Một tiếng đờn (1992)- ta với ta (1999)

a) Hoàn cảnh sáng tác

-Tháng 10 – 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo cách mạng. Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ “Việt Bắc” để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mạng.

b) Kết cấu

– Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam – nữ, phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.

c) Vị trí của đoạn trích

Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.

II. Tìm hiểu chi tiết

1. Sắc thái tâm trạng và lời đối đáp của nhân vật trữ tình. a. Nỗi niềm người ở lại

Bài thơ mở đầu bằng câu hỏi của người Việt Bắc.

+ Lối xưng hô “mình – ta” ngọt ngào đầy yêu thương.

+ Điệp ngữ “Mình về, mình có nhớ…” âm điệu ray rứt băn khoăn.

+ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”: gợi nhắc chặng đường dài (1940 -1954) với bao kỉ niệm gắn bó giữa đồng bào VB và những người cán bộ kháng chiến

+ Núi, nguồn: hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc – quê hương cách mạng.

b. Tình cảm người ra đi (khổ 2)

– Các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay.

– Hình ảnh “áo chàm” (nghệ thuật hoán dụ) chỉ con người Việt Bắc giản dị chân tình.

– “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”: Thể hiện tâm trạng đầy xúc động, bâng khuâng không nói nên lời.

Dấu chấm lửng ở cuối câu tạo ra khoảng lặng lắng đọng đầy cảm xúc vấn vương.

+ Cả lời hỏi và lời đáp đều triền miên trong nỗi nhớ.

+ Sử dụng lối xưng hô “mình – ta” thiết thân của ca dao.2. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc a. Thiên nhiên Việt Bắc

– Hiện lên đa dạng trong nhiều khoảng thời gian và không gian khác nhau với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng:

” Nhớ gì như nhớ người yêu … suối lê vơi đầy”

+ Khung cảnh “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” gợi cảm, nên thơ.

+ Những bản làng ẩn hiện trong sương khói.

+ Ánh lửa hồng trong đêm khuya.

+ Những tên núi, tên rừng, tên sông, tên suối quen thuộc, thân yêu.

– Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt (được so sánh “như nhớ người yêu”). Điệp từ “nhớ” được láy lại nhiều lần, liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng, bếp lửa hồng, núi rừng, sông suối mang những cái tên thân thuộc.

b. Con người Việt Bắc

– Giàu tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi.

– Nghèo khổ cơ cực nhưng đậm đà tấm lòng son:

– Hình ảnh người mẹ VB hiện lên sinh động trong nỗi nhớ của nhà thơ, nỗi xót xa về cuộc sống cơ cực của đồng bào miền núi.

– Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc êm ả, bình dị, tiếng mõ, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa xa.

c. Bộ tranh tứ bình: cảnh thiên nhiên và con người hòa quyện thắm thiết

– Mùa đông:

+ Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ làm trẻ lại màu xanh u tịch của rừng già và xua đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao.

– Mùa xuân:

+ “Mơ nở trắng rừng” – sắc trắng tinh khiết mênh mang, gợi sức xuân đang dâng ngập đất trời núi rừng Việt Bắc.

+ Động từ “chuốt” vừa gợi lên được sự khéo léo, vừa thể hiện sự cần mẫn của người lao động.

– Mùa hạ:

+ Hình ảnh cô gái hái măng một mình không hề lẻ loi, cô đơn mà biểu hiện sự tận tụy, chăm chỉ với công việc.

– Mùa thu:

+ Câu thơ giàu tính tạo hình,vừa gợi tả được vẻ đẹp của thời tiết, của thiên nhiên nên thơ, vừa thể hiện được niềm vui hòa bình.

+ Tiếng hát ân tình hòa quyện với ánh trăng vang lên thật ấm lòng.

+ Từ “Nhớ ai” phiếm chỉ nhưng gợi cảm giác xao xuyến lòng người.

+ Bức tranh rực rỡ, tươi tắn nhưng cũng bâng khuâng, man mác vì được lọc qua nỗi nhớ của nhà thơ. Cảnh động chứ không tĩnh nhưng đây là động một cách êm đềm, nhẹ nhàng. Hơn nữa cảnh lại biến chuyển linh hoạt, sinh động, kỳ ảo theo mùa. Từ rừng xanh (mùa đông) chuyển sang rừng trắng (mùa xuân) rồi rừng vàng (mùa hạ).

+ Đây là đoạn thơ hay của bài thơ VB được cấu trúc cân đối, hài hòa và có giá trị tạo hình.3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến. a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:

– Bức tranh Việt Bắc ra quân:

“Những đường Việt Bắc …như ngày mai lên”

+ Nhịp điệu thôi thúc, hùng tráng do cách ngắt nhịp 2/2, âm hưởng của các từ láy “rầm rập”, “điệp điệp trùng trùng”.

– Khí thế chiến thắng của dân tộc được thể hiện trong nhiều câu thơ.

-Liệt kê những chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử.

– Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn đã làm nên chiến thắng:

+ Đó là sức mạnh của lòng căm thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

+ Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”

+ Sức mạnh của tình đoàn kết:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng…Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

-Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc, nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước.

– Việt Bắc là nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

+ Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”.

+ Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, “quê hương Cách mạng” bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình.4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc a. Thể loại

– Sử dụng thể thơ lục bát giàu tính dân tộc.

– Kết cấu đối đáp với lối xưng hô “mình”, “ta” quen thuộc của ca dao.

– Sử dụng phép tiểu đối của ca dao:

+ “Trám bùi để rụng, / măng mai để già.”

+ “Hắt hiu lau xám, /đậm đà lòng son”

– Tác dụng:

+ Nhấn mạnh ý

+ Tạo nhịp thơ uyển chuyển, cân xứng, hài hoà

+ Lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, cân xứng hài hoà.

b. Ngôn ngữ

Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động.

+ Đó là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể.

+ Giàu nhạc điệu.

– Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của dân gian.

III. Tổng kết

– Nội dung: Thông qua cuộc đối đáp tưởng tượng giữa người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc trong buổi chia tay, bài thơ đã tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu VB và là khúc hát ân tình của những người kháng chiến đối với quê hương đất nước, với nhân dân và cách mạng.

– Nghệ thuật: VB mang màu sắc dân tộc đậm đà, xứng đáng là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và là thành tựu tiêu biểu của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp.

Soạn Bài Thơ Việt Bắc Lớp 12 Của Nhà Thơ Tố Hữu

(Soạn văn lớp 12) – Em hãy Soạn bài thơ Việt Bắc lớp 12 của nhà thơ Tố Hữu. (Bài soạn văn của học sinh Nguyễn Thị Hoa lớp 12).

Đề bài: Soạn bài thơ Việt Bắc phần Tác giả

HƯỚNG DẪN ĐỌC BÀI

Câu 1.

Những nét lớn trong cuộc đời Tố Hữu :

– Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kinh Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ông thân sinh Tố Hữu là một nhà nho nghèo, bà mẹ nhà thơ cũng là con một nhà nho,cả hai người đã truyền cho con tình yêu tha thiết với văn học dân gian.

– Năm 12 tuổi, Tố Hữu mồ côi mẹ, một năm sau lại xa gia đình vào học Trường Quốc học Huế.

– Bước vao tuổi thanh niên, Tố Hữu tham gia phong trào đấu tranh cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế.

– Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuối tháng 4/1939, Tố HỮu bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao thừa thiên, rồi lần lượt bị giam trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

– Tháng 3/1942, Tố Hữu vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), tiếp tục hoạt động Cách mạng.

– Trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế.

– Đến năm 1986 Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

– Năm 1996, ông được tặng GIải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Câu 2.

Những chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với cuộc cách mạng Việt Nam :

– Đầu tiên là tập thơ Từ ấy (1937 – 1946), đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng. Tập thơ gồm 3 phần :

+ Máu lửa được sáng tác trong thời kì mặt trận Dân chủ, là tâm sự của người thanh niên đang băn khoăng đi kiếm lẽ yêu đời.

+ Xiêng Xích gồm những bài sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung bộ và Tây Nguyên. Đó là tâm tư của một người trẻ tuổi thiết tha yêu đời và khát khao tự do, là ý chí kiên cường của người chiến sĩ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ngay trong nhà tù.

+ Giải phóng gồm những bài sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngỳ đầu giải phóng vĩ đại của toàn dân tộc. Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của các mạng, nền độc lập, tự do Tổ quốc, khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của nhân dân vào chế độ mới.

– Tập thơ thứ hai là tập Việt Bắc (1946 – 1954) là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến.

– Gió lộng (1955 – 1961) được Tố Hữu sáng tác trong giai đoạn cách mạng mới. Lúc này, đất nước bị chia cắt, Tố Hữu thể hiện tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt.

– Hai tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977) âm vang khi thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và niềm vui toàn thắng.

– Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) là hai tập thơ đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu. Tố Hữu tìm đến những chiêm nghiệp mang tính phổ quát về cuộc đời và con người.

Câu 3.

Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị vì :

– Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc.

– Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ, cái tôi nhân dang Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc.

– Nếu ở tập thơ Từ ấy Tố Hữu khẳng định lí tưởng dẹp nhất của mỗi người lúc đó là dũng cảm dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc thì từ tập Việt Bắc trở đi, nhà thơ nhấn mạnh mục đích cao cả của đời người là phấn đấu vì cuộc sống tươi đẹp của dân tộc.

– Thơ Tố Hữu mang tính chất tiêu bieur, phổ biến của con người cách mạng : đó là tình yêu lí tưởng, tình quân dân, tình cảm quốc tế vô sản, tình cảm kính yêu lãnh tụ.

Mỗi chặng đường thơ của Tố Hữu đều gắn liền với chặng đường của cách mạng Việt Nam. Trong thơ ông thể hiện niềm tin tưởng vào cách mạng và tình yêu quê hương, con người, đất nước.

Tính dân tộc trong hình nghệ thuật thơ Tố Hữu được biểu hiện ở những điểm cơ bản :

– Về thể thơ, Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới, của thơ ca thế giới cổ điển và hiện đại, nhưng ông đặc biệt thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc.

+ Những thể hơ lục bát : Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du… mang sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển, dạt dào những aamhuowngr nghĩa tình của hồn thơ dân tộc.

+ Thơ thất ngôn : quê mẹ, Mẹ Tơm, Bác ơi !, Theo chân Bác… trang trọng nhưng không khuôn sáo, trái lại, hơi thơ rất liền mạch, tự nhiên, diễn tả được hiện thực đa dạng và nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau.

– Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo những nhóm từ mới, cách diễn đạt mới mà ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc. Nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ.

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tác Giả Tố Hữu Hay Nhất

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tác Giả Tố Hữu Hay Nhất

Bài làm

Được mệnh danh là người có khả năng biến chính trị thành thơ, tác giả Tố Hữu quả thật luôn khiến cho cuộc sống lao động, kháng chiến cùng những tình cảm thiết tha với quê hương đất nước của con người thành những vần thơ thấm đượm tính nhân văn và dễ đi vào lòng người đọc. Tác phẩm Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của phong cách thơ Tố Hữu. Với trích đoạn Việt Bắc, tác giả đã tái hiện một giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại chiến khu Việt Bắc cùng những tình cảm sâu lắng trong lòng người chiến sỹ:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.

Suốt cả bài thơ Việt Bắc, có thể dễ dàng nhận thấy nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng cách xưng hô ta – mình, chính cách xưng hô này đã đưa người đọc trở về với bầu không khí ca dao, dân ca gợi lên sự yêu thương gần gũi trong tình cảm con người.

Quãng thời gian 15 năm được nhắc đến ngày ở đoạn đầu của bài thơ, đây là quãng thời gian đủ dài trong cuộc đời của một con người để khẳng định tình cảm của mình. 15 năm ở đây có tính chất nhấn mạnh, gợi những kỷ niệm không thể nguôi trong suốt thời kỳ kháng chiến. Hai tính từ “thiết tha”, “mặn nồng” càng khẳng định sự gắn bó sâu lặng đầy tình nghĩa ấy.

Hai câu hỏi tu từ “có nhớ ta”, “có nhớ không” như một sự nhắc nhở, cảnh cáo bởi theo quy luật của cuộc sống, con người từ nơi gian khổ đến nơi an nhàn rất hay quên tình nghĩa xưa.

Câu thơ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” khiến người ta liên tưởng đến câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”; đây là đạo đức, là lẽ sống của dân tộc ta, đồng thời cũng là cảm xúc chủ đạo của bài thơ.

Ở khổ thơ tiếp theo, tác giả nhắc đến lời của người ra đi. Khi nghe vang vọng “Tiếng ai tha thiết bên cồn” người ra đi dường như đang tự hỏi có thể là tiếng nói của người Việt Bắc nhưng cũng có thể là tiếng lòng của người ra đi trong một tâm trạng xao xuyến đến tột độ.

Hàng loạt từ láy được sử dụng trong khổ thơ “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đã chỉ ra những sắc thái tâm trạng, chỉ ra sự lưu luyến không muốn xa rời của người ra đi.

“Áo chàm đưa buổi phân li”, “áo chàm” là hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc và có lẽ đây sẽ là hình ảnh lắng đọng mãi trong tâm trí của người ra đi.

Ở câu thơ cuối cùng, tác giả đã diễn tả sự xúc động đến tột độ không thể nói lên lời. Có biết bao điều muốn nói mà giờ đây không thể cất nên lời cho nên chỉ có thể cầm tay nhau siết chặt để trao niềm tin tưởng.

Với nghệ thuật phân thân, tác giả đã miêu tả một cách rất kỳ diệu khung cảnh của một cuộc chia li đầy lưu luyến và qua đó cũng thể hiện nghĩa tình đậm sâu của mình đối với mảnh đất Việt Bắc, quê hương của cách mạng.

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

Mình về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hui lau xám đậm đà lòng son

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh

Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”.

Đây là đoạn thơ tác giả mượn lời người ở lại để nhắc lại thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Đó là những ngày chồng chất khó khăn gian khổ, những ngày thử thách cách mạng kháng chiến.

Trước hết ở cặp câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng một loạt những hình ảnh với ý nghĩa tả thực, nói lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc: mưa, lũ, mây mù là đặc trưng khí hậu nơi đây và người kháng chiến thì phải đối mặt với nó.

Hình ảnh thơ gợi lên biết bao khó khăn gian nan cơ cực của những ngày đầu kháng chiến khi lực lượng ta mỏng manh yếu ớt, phải đối chọi với kẻ thù mạnh bao vây từ bốn phía (nhịp điệu dồn dập của câu thơ càng gợi bao nhiêu khó khăn chồng chất).

Hai câu thơ sau, tác giả có sử dụng nghệ thuật phân câu thơ khi nói đến những ngày gian truân, đói khổ. Hình ảnh rất thật nhưng lại gợi câu ca dao về nghĩa tình mặn mà của người “Tay nâng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”.

Hình ảnh “mối thù nặng vai” đã cụ thể hóa một khái niệm rất trừu tượng, mối thù của bọn thực dân đế quốc đang đè nặng trên vai không phân biệt bất kỳ ai, mọi người đều phải có trách nhiệm của mình đó là việc gánh vác.

Cặp câu tiếp theo lại là những hình ảnh nói về cuộc sống gian khổ thiếu thốn phải ăn măng, quả trám thay cơm của người chiến sỹ cách mạng. Tác giả chọn cách diễn đạt như là cao lương mỹ vị đặc sản của miền Bắc, có lẽ là để nhấn mạnh tình cảm sâu nặng, sự chia ngọt sẻ bùi những thức ăn ngon trước hết là bởi tình người.

Với nghệ thuật hoán dụ, tác giả lại sử dụng hình ảnh những ngôi nhà chênh vênh nơi sườn núi hiu quạnh thưa thớt hoang sơ nhưng chủ nhân của nó lại là những con người đậm đà lòng son. Từ “son” vừa chỉ sự son sắt vừa gợi màu đỏ thắm của tình cảm đối với cách mạng.

Những câu thơ tiếp theo là những hìn ảnh mang tính chất đặc trưng biểu tượng của cuộc kháng chiến, nơi đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử của quân và dân ta, những cây đa Tân Trào và mái đình Hồng Thái nơi mà nhiều quyết định quan trọng của cuộc kháng chiến ra đời.

Những con người Việt Bắc nghèo nhưng giàu ân tình biết bao nhiêu:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa”.

Đoạn thơ là một bức tranh toàn cảnh chiến khu Việt Bắc. Hàng loạt những địa danh trong căn cứ địa được tác giả nhắc lại rõ ràng: ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê; những đồ vật thân quen như chăn sui, địu, đuốc, mõ…; những âm thanh thân thuộc “tiếng mõ rừng chiều”, chày đêm nện cối, “suối xa”…, tác giả dù đã đi xa nhưng những hình ảnh đó vẫn còn in đậm trong tâm trí, là những biểu tượng thân thương không thể xóa nhòa. Qua đây người đọc cũng có thể thấy được tình cảm của nhà thơ, của người chiến sỹ với chiến khu Việt Bắc, với quê hương đất nước là vô cùng sâu đậm. Bởi vì sâu đậm nên nó đã hằn sâu trong tâm trí để nhà thơ thổn thức mỗi khi nhớ về.

“Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Đây là đoạn thơ miêu tả thành công nhất vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc. Qua hai đoạn thơ một lần nữa ta thấy được sự gắn bó sâu nặng, thấy tình yêu tha thiết của những con người ra đi với đất trời Việt Bắc. Đồng thời cũng thấy được vẻ đẹp tinh khiết trong sáng của núi rừng nơi đây.

Hai câu đầu của đoạn là lời của người ra đi giãi bày. Câu đầu là cầu nối, là cái cớ để bày tỏ nỗi nhớ trong câu sau “nhớ những hoa cùng người”, nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, con người Việt Bắc thủy chung nghĩa tình. Thiên nhiên hòa với con người sẽ tạo nên bức tranh tổng thể về con người Việt Bắc.

Tám câu thơ sau là sự cụ thể hóa bức tranh Việt Bắc. Cứ một câu tả cảnh lại có một câu tả người tạo cảm giác thiên nhiên con người hòa hợp tôn lên vẻ đẹp cho nhau.

Nghệ thuật tả cảnh cảnh trong đoạn này giống như một bộ tranh tứ bình (cảnh đẹp suốt bốn mùa) mùa đông trên cái nền xanh đậm bạt ngàn của cây lá bật lên những màu sắc đỏ tươi rực rỡ của những bông hoa chuối rừng. Màu đỏ ấy như xua đi cái giá lạnh làm cho không gian trở nên ấm áp hơn.

Mùa xuân cả đất trời như bừng sáng lên trong cái sắc hoa mơ trắng trong tinh khiết.

Mùa hạ cả khu rừng như ngập trong sắc vàng của hoa phách. Câu thơ không chỉ tả màu sắc mà còn tả âm thanh, cả sự chuyển động của thiên nhiên mà nhà thơ cảm nhận rất tinh tế.

Mùa thu, đêm đêm trên rừng rất trong trẻo thanh bình tràn đầy những ánh trăng.

Tóm lại thiên nhiên hiện về trong nỗi nhớ mà có cả đường nét về màu sắc giống như hiện ngay ra trước mắt. Điều ấy chứng tỏ từng nét đẹp của thiên nhiên Việt Bắc đã in sâu trong tâm trí người ra đi.

Nghệ thuật tả người được sử dụng đó là những người lao động lên phát nương làm rẫy, lấy củi, lấy măng, đan nón. Đó là những con người lao động bình dị, đơn giản giữa thiên nhiên bao la. Đó là những con người cần cù chịu thương chịu khó bền bỉ khéo léo trong lao động.

Câu cuối không tả cụ thể con người mà nhấn mạnh nghĩa tình, sự thủy chung của họ đối với cách mạng.

Nhà thơ gọi họ bằng từ phiếm chỉ, người đan nón, cô em gái, nhớ ai… khiến ta có cảm giác đó là những hình dáng mà ta thoáng gặp trên nẻo đường cách mạng nhưng bỗng đã trở thành những dấu ấn không thể phai mờ. Họ hòa mình trong thiên nhiên làm sinh động bức tranh phong cảnh, những nét vẽ về cảnh rừng Việt Bắc bớt quạnh hiu. Những hình ảnh về con người đoạn này kết hợp với những đoạn khác bài thơ làm cho người đọc có ấn tượng đẹp về những con người Việt Bắc: bình dị, cần mẫn, tình nghĩa, thủy chung với cách mạng. Nhưng nét vẽ hài hòa bởi cách sử dụng đan cài, dẫn những câu thơ tả cảnh, tả người.

Nghệ thuật phối màu toàn những màu sắc rực rỡ, thiên nhiên Việt Bắc tươi tắn suốt bốn mùa, thể hiện tình yêu tha thiết say đắm với thiên nhiên núi rừng. Ngoài màu sắc còn thấy nghệ thuật tả âm thanh, tả sự vận động của thiên nhiên.

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tác Giả Tố Hữu Hay Nhất

“…

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Vui từ đồng tháp An khê

Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng”.

Đoạn thơ tái hiện lại khung cảnh những ngày cuối của cuộc kháng chiến, lúc này tương quan về thế lực của ta và địch đã thay đổi lớn, đoạn thơ đã tái hiện những ngày hào hùng nhất để chuẩn bị cho những trận đánh cuối cùng.

Phần đầu đoạn thơ với nghệ thuật so sánh phóng đại tác giả đã vẽ lên bức tranh về hình ảnh những đoàn quân tham gia phục vụ kháng chiến, mang những vẻ đẹp đầy tráng lệ hào hùng đầy tính sử thi.

Hình ảnh về những đoàn quân khiến ta cảm nhận họ không chỉ đông về số mà còn mạnh về chất, làm cho ta tin tưởng họ đủ sức để chiến thắng quân thù. Ở câu sau hình ảnh này lại được triển khai cụ thể hơn.

Quân đi điệp điệp trùng trùng tạo ấn tượng đội ngũ của họ triền miên không dứt, điệp trùng như núi rừng vô tận kết hợp với những từ chỉ sự tươi sáng “ánh sao đầu súng” khiến ta cảm nhận được vẻ đẹp của đoàn quân cách mạng.

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn”: Khi miêu tả những đoàn dân công phục vụ kháng chiến tác giả đã sử dụng bút pháp phóng đại để diễn tả khí thế hừng hực, hồ hởi trong những ngày ta chuẩn bị tiến tới trận đánh cuối cùng.

Tóm lại những hình ảnh về con người kháng chiến ở đây được tác giả miêu tả với bút pháp giàu chất sử thi khiến ta cảm nhận được những vẻ đẹp hào hùng tráng lệ của những đoàn quân đại diện cho sức mạnh dân tộc và ta cũng tin tưởng họ cũng đủ sức làm cho kẻ thù bạt vía kinh hồn.

Chúng ta đã tải qua thời kỳ thăm thẳm sương dày và giờ đây tương lai của cách mạng rất huy hoàng với hình ảnh đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Điệp từ “vui” xuất hiện trong bốn câu thơ kết hợp với thủ pháp liệt kê hàng loạt những địa danh ghi được chiến thắng lẫy lừng tạo ấn tượng niềm vui như đang bao trùm cả đất trời Việt Bắc. Ở đâu cũng vui, mảnh đất nào cũng ghi được chiến công.

Với cách miêu tả này, ta đã cảm nhận được cuộc đọ sức cuối cùng sắp tới, chúng ta sẽ chiến thắng.

Từ khi ra đời đến nay tác phẩm Việt Bắc vẫn luôn được nhân dân ta rất yêu mến, nhiều cụ già, bác trung niên vẫn thuộc từng câu thơ, vẫn ngâm thơ bằng một giọng điệu lúc thì hào sảng khí thế hừng hừng, có lúc lại sâu lắng, trầm mặc đầy thân thương. Quả thật cuộc kháng chiến năm ấy cùng chiến khu Việt Bắc và cuộc sống chiến đấu của nhân dân ta đã để lại biết bao ấn tượng và tình cảm đối với mỗi con người Việt Nam hôm nay.

Giáo Án Ngữ Văn 12: Việt Bắc (Trích) Tố Hữu

Lớp dạy:…………………………. Tiết : Việt Bắc (Trích) Tố Hữu I- Mục tiêu bài học: 1- Kiến thức: Giúp HS : – Nắm được những nét chính trong đường đời, đường cách mạng, đường thơ của Tố Hữu – nhà hoạt động cách mạng ưu tú, một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. – Cảm nhận sâu sắc chất trữ tình chính trị về nội dung và tính dân tộc trong nghệ thuật biểu hiện của phong cách thơ Tố Hữu. 2- Kỹ năng: – Rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản văn học sử. 3- Thái độ: – Dạt dào thêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người VN qua thơ Tố Hữu. II- PhƯơng tiện thực hiện: 1- Giáo viên: SGK, SGV, Giáo án, bảng phụ, phiếu học tập . 2- Học sinh: SGK, SBT, vở ghi, vở soạn. III- Cách thức tiến hành: IV- Tiến trình bài giảng: 1- Kiểm tra bài cũ : 2- Bài mới : Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt – Hoạt động 1: GV: Gọi HS đọc phần tiểu dẫn SGK-tr.94. HS: Phần tiểu dẫn giới thiệu những nội dung gì? ?: Nêu những nét lớn trong cuộc đời thơ Tố Hữu? GV: Huế là mảnh đất rất thơ mộng, trữ tình và còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá dân gian và chính điều đó cũng phần nào ảnh hưởng tới con người, hồn thơ Tố Hữu. Hoạt động 2: Tìm hiểu con đương cách mạng, con đường thơ của Tố Hữu. HS: Những chặng đường thơ TH gắn bó như thế nào với những chặng đường cách mạng của bản thân nhà thơ, với những giai đoạn phát triển của CMVN? GV: Nhấn mạnh 2 tập thơ “Từ ấy” và “Việt Bắc”. HS: Nội dung chính của tập thơ? HS: Giá trị của tập thơ? Em hiểu gì về cái tôi trữ tình mới trong thơ TH? HS: Nội dung cơ bản của tập thơ Việt Bắc? HS: Giái trị nổi bật của tập thơ? HS: Nêu những luận điểm quan trọng của những tập thơ còn lại? Hoạt động 3: Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu. – Thời gian: 5 phút. – Câu hỏi: Nhóm 1: Em hiểu gì về thơ trữ tình chính trị? Vì sao đây lại là đặc điểm nổi bật nhất trong thơ TH? Lấy ví dụ minh hoạ. Nhóm 2: Tại sao khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn lại trở thành nét phong cách trong thơ TH? Sự thể hiện của nét phong cách đó trong thơ TH? Nhóm 3: Giọng điệu trong thơ TH có đặc điểm gì nổi bật? Sự thể hiện giọng điệu trong thơ? Cơ sở hình thành nên giọng điệu đó? Nhóm 4: Vì sao nói thơ TH mang tính dân tộc đậm đà? Sự thể hiện tính dân tộc trong thơ TH. – Các nhóm cử đại diện, bổ sung kiến thức. – GV: nhận xét, chuẩn kiến thức. Hoạt động 4: Tổng kết – dặn dò. HS: Nhận xét của em về con người và thơ văn của TH? Dặn dò: GV yêu cầu HS ôn bài và chuẩn bị cho bài học Luật thơ. – HS làm bài tập phần luyện tập. Phần một: Tác giả. I- Vài nét về tiểu sử. – TH (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. – Quê ở làng Phù Lai (Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế). – Thời thơ ấu: Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học ở Huế và yêu văn chương. – Thời thanh niên: TH sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân. – Sau đó TH lần lượt đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Quê hương và gia đình đã có ảnh hưởng lớn đến hồn thơ Tố Hữu. II- Đường cách mạng, đường thơ. Đối với TH con đường hoạt động cách mạng và con đường thơ của ông có sự thống nhất không thể tách rời. Mỗi tập thơ của ông là một chặng đường cách mạng. 1- Tập thơ Từ ấy (1937-1946). – Là một chặng đầu tiên tương ứng với 10 năm đầu hoạt động cách mạng của Tố Hữu. – Tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. – Từ ấy là niềm hân hoan của tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” đã gặp được lí tưởng, tìm thấy lẽ sống. Tác phẩm thể hiện chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm sôi nổi, trẻ trung của cái “tôi” trữ tình mới (cai “tôi” gắn với cộng đồng, dân tộc – khác với cái tôi trong thơ mới). – Phần Xiềng xích được đánh giá cao hơn cả, vì đã thể hiện được sự trưởng thành của người thanh niên cộng sản và bước phát triển mới của hồn thơ Tố Hữu. (Tâm tư trong tù, Nhớ đồng, Trăng trối…) – Giá trị:Thể hiện chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi, trẻ trung của một cái toi trữ tình mới (cái tôi gắn với cộng đồng dân tộc). 2- Tập thơ Việt Bắc (1946-1954). – Đánh một bước chuyển của thơ Tố Hữu: Hướng vào thể hiện quần chúng cách mạng, mang tính sử thi đậm. – Nội dung: + Là bản hùng ca về cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với những chặng đường gian lao anh dũng và thắng lợi. + Thể hiện thành công hình ảnh và tâm tư của quần chúng cách mạng. + Kết tinh những tình cảm lớn của con người VN kháng chiến mà bao trùm và thống nhất mọi tình cảm là lòng yêu nước. – Giá trị: Là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học chống Pháp. 3- Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961). – Có sư kết hợp thể hiện cái tôi trữ tình công dân khi khai thác các đề tài lớn: Xây dựng CNXH, đấu tranh thống nhất đất nước, tình cảm quốc tế vô sản. 4- Tập thơ “Ra trận” và tập thơ “Máu và hoa”. – Cổ vũ, động viên, ca ngợi cuộc chiến đấu. – Mang đậm tính chính luận – thời sự, chất sử thi và âm hưởng anh hùng ca. 5- Các tập thơ còn lại. – Thể hiện những chiêm nghiệm, đúc kết của tác giả về những chặng đường cách mạng của dân tộc và con đường hoạt động của bản thân. – Giọng thơ trầm lắng, suy tư và có màu sắc triết lí. III- Phong cách thơ Tố Hữu. 1- Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình – chính trị. Đây là đặc điểm bao quát nhất trong sự nghiệp thơ TH: – TH là một thi sĩ – chiến sĩ, thơ là sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm xúc trữ tình. – Thơ Th chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ hoạt động cách mạng và tình cảm chính trị của bản thân tác giả. * VD: Tập thơ VB gắn liền với cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp. TH là nàh thơ CM, nhà thơ của lí tưởng cộng sản. 2- Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. – Tập trung thể hiện những vấn đề cốt yếu của đời sống cách mạng và vận mệnh dân tộc. Cảm hứng hướng về lịch sử, dân tộc chứ không hướng về những lẽ sống lớn tình cảm lớn, niềm vui lớn. – Nhân vật trữ tình luôn đại diện cho những phẩm chất của gia cấp, dân tộc, lịch sử và thời đại. – Cái tôi trữ tình trong thơ TH là cái tôi – chiến sĩ, cái tôi – công dân, cái tôi – nhân danh dt, cm. – Những con người trong thơ TH có vẻ đẹp của lí tưởng cm. Đó chính là sự thể hiện cảm hứng lãng mạn. 3- Thơ TH có giọng tâm tình ngọt ngà. – Cách xưng hô gần gũi thân mật (bạn đời ơi, đồng bào ơi, em ơi…). – Th tuyên truyền, vận động cách mạng, nói chuyện chính trị bằng giọng tâm tình. VD: Lời đối đáp giữa “mình” và “ta” trong bài Việt Bắc. – Giọng tâm tình ngọt ngào chính là “chất Huế” trong hồn thơ TH. 4- Thơ TH mang tính dân tộc đậm đà. – ND: Thơ TH p/a đậm nét h/a con người VN và tình cảm VN trong thời đại mới, tiếp nối với truyền thống tinh thần, tình cảm, đạo lí của dân tộc. – NT: TH sử dụng thành công các thể thơ thuần dân tộc (thơ lục bát, thơ bảy chữ) ngôn ngữ thơ gần với lối nói quen thuộc của dân tộc, thơ giàu nhạc điệu. IV- Kết luận. Ghi nhớ: SGK-tr.100. V- Luyện tập. (HS làm bài tập ở nhà). Ngày dạy:………………………. Lớp dạy:…………………………. ‘ Tiết : Việt Bắc (Tiếp) (Trích) Tố Hữu I- Mục tiêu bài học: 1- Kiến thức: Giúp HS : – Cảm nhận được một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước. Qua đó thấy rõ:Tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc, Tố Hữu đã nâng lên thành một tình cảm mới, in đậm nét thời đại, đó là ân tình cách mạng – một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng và kháng chiến. – Nắm vững phương thức diễn tả và tác dụng của bài thơ: Nội dung trữ tình chính trị được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc. 2- Kỹ năng: – Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu. 3- Thái độ: – Dạt dào thêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người VN qua thơ Tố Hữu. II- PhƯơng tiện thực hiện: 1- Giáo viên: SGK, SGV, Giáo án, bảng phụ, phiếu học tập, chân dung thơ Tố Hữu. 2- Học sinh: SGK, SBT, vở ghi, vở soạn. III- Cách thức tiến hành: IV- Tiến trình bài giảng: 1- Kiểm tra bài cũ : 2- Bài mới : Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt Hoạt động 1: Tiểu dẫn. HS: Đọc phần tiểu dẫn SGK. HS: Hoàn cảnh sáng tác bài thơ? HS: Bài thơ Việt Bắc có vị trí gì đối với đời sống văn học dân tộc? Hoạt động 2: Tìm hiểu văn bản. GV: Hướng dẫn HS đọc bài thơ và lưư ý từ khó chân trang SGK. HS: Em có nhận xét gì về không khí buổi chia tay? Kết cấu đoạn thơ? Giọng điệu đoạn thơ? HS: Người ở lại hay người ra đi lên tiếng trước? Lời mở đầu đó có tác dụng như thế nào trong đoạn thơ? HS: Em hiểu như thế nào về cặp đại từ “mình” và “ta”? Tố Hữu đã sử dụng cặp đại từ đó như thế nào trong đoạn thơ? Tác dụng của cách sử dụng đó? HS: Nỗi nhớ của người đi, kẻ ở được bộc lộ ở những phương diện nào? HS: Thiên nhiên được miêu tả ở những thời điểm nào? Đặc điểm chung là gì? GV giúp HS phân tích đoạn từ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” đến “Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”. + Cách sắp xếp các câu thơ. + Nét đẹp riêng của cảnh vượt qua mỗi mùa trong năm. HS: Cuộc sống và con người VB hiện lên trong hoài niệm với những đặc điểm nào? Nét đáng quý của con người VB là gì? HS: Xác định những cau thơ viết về kỉ niệm kháng chiến và rút ra nhận xét về cách nói của nhà thơ? HS: Hãy chỉ ra sự thay đổi về nhịp điệu và giọng điệu của thơ so với đoạn thơ trước? HS: Nhận xét về hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc trong đoạn trích? Hoạt động 3: Tổng kết. GV gọi 2 – 3 Hs đọc ghi nhớ SGK. Hoạt động 4: GV hướng dẫn HS làm bài tập ở nhà. I- Tiểu dẫn. 1- Hoàn cảnh sáng tác: SGK. 2- Vị trí của bài thơ. – Bài thơ không chỉ là tình cảm riêng của TH mà còn tiêu biểu cho suy nghĩ tình cảm của những người con kháng chiến đối với VB, với đất nước và cách mạng – Bài thơ la khúc hát tâm tình của người đi kẻ ở song ở bề sâu của nólà truyền thống ân nghĩa và đạo lí thuỷ chung của dân tộc. – VB là thành công xuất sắc của thơ TH , là đỉnh cao của thơ ca VN thời chống Pháp. II- Đọc hiểu văn bản. 1- Đọc. 2- Tìm hiểu văn bản. 2.1- Cảm nhận chung về đoạn thơ. – Đoạn thơ đã tái hiện được không khí của cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn sau 15 năm gắn bó ân tình giữa người đi kẻ ở. Đó là không khí ân tình của hồi tưởng và hoài niệm, của ước vọng và tin tưởng. – Kết cấu: Theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca. Không đơn thuần là lời hỏi – đáp mà là sự hô ứng, đồng vọng, là sự độc thoại của tâm trạng. Đó là cách “phân thân” “hoá thân” để bộc lộ tâm trạng được đầy đủ hơn. – Giọng điệu: Ngọt ngào, êm ái, giọng tâm tình. 2.2 – Cuộc chia tay và tâm trạng của người đi kẻ ở. * Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn, bịn rịn lưu luyến khi chia tay. – Người ở lại lên tiếng trước và gợi nhắc về những kỉ niệm gắn bó suốt 15 năm. Mình về mình có nhơ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. – Người ra đi cũng cùng tâm trạng ấy nên nỗi nhớ không chỉ hướng về người khác mà còn là nhớ chính mình. – Lời hỏi đã khơi gợi cả một quá khứ đầy ắp kỉ niệm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nhớ thương tuôn chảy. – Tác giả đã sử dụng sáng tạo hai đại từ nhân xưng “mình” và “ta”. + Trong tiếng Việt, “mình”, “ta” khi thì để chỉ ngôi thứ nhất và nhiều khi lại để chỉ ngôi thứ hai hoặc chỉ chung cả hai đối tượng tham gia giao tiếp (chúng ta). + Trong đoạn thơ, TH đã dùng cặp đại từ “mình – ta” với cả hai nghĩa một cách sáng tạo (mình và ta có sự hoán đổi cho nhau) để dễ dàng bộc lộ cảm xúc, tình cảm. * Nỗi nhớ da diết, mênh mang với nhiều sắc thái và cung bậc khác nhau. – Trong niềm hoài niệm, nỗi nhớ có ba phương diện gắn bó, không tác rời: nhớ cảnh, nhớ người và nhớ về những kỉ niệm kháng chiến. – Nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc: + Thiên nhiên VB hiện lên với vẻ đẹp đa dạng theo thời gian, không gian khác nhau (sương sớm nắng chiều, trăng khuya, các mùa trong năm). + Thiên nhiên trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn khi có sự gắn bó với con người (người mẹ địu con lên rẫy, người đan nón, em gái hái măng…) – Đoạn thơ từ câu “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” đến “Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” là đoạn thơ tả cảnh đặc sắc của Tố Hữu. + Đoạn thơ được sắp xếp xen kẽ cứ một câu tả cảnh lại có một câu tả người. + Cảnh vật hiện lên như một bức tranh tứ bình với bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông), trong đó, mỗi mùa có nét đẹp riêng. – Nỗi nhớ về cuộc sống và con người VB: + Cuộc sống thanh bình êm ả: Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa + Cuộc sống vất vả, khó khăn trong kháng chiến: Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chắn sui đắp cùng. Đó là cảnh sinh hoạt bình dị của người dân VB. Nét đẹp nhất chính là nghĩa tình và lòng quyết tâm đùm bọc, che chở cho cách mạng hi sinh tất cả vì kháng chiến dù cuộc sống còn rất khó khăn. – Nỗi nhớ về những kỉ niệm kháng chiến: + Những cảnh rộng lớn, những hoạt động tấp nập sôi động của cuộc kháng chiến được tái hiện với bút pháp đậm nét: Những đường Việt Băc của ta ……………………………………………. Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. – Nhịp thơ thay đổi từ nhịp chậm, dài sang nhịp ngắn, mạnh mẽ, dồn dập. – Giọng thơ từ chầm lắng chuyển sang giọng sôi nổi, náo nức. – Nhà thơ đã tập trung khắc hoạ hình ảnh VB – quê hương cách mạng nơi đạt niềm tin tưởng, hi vọng của cả dân tộc thành một vùng đất linh thiêng không thể phai mờ: ở đâu u ám quân thù Nhìn lên VB: Cụ Hồ sáng soi ở đâu đau đớn giống nòi Trông về VB mà nuôi chí bền. Cảm hứng về kháng chiến, về cách mạng gắn liền với cảm hứng ca ngợi lãnh tụ (VB và Cụ Hồ là một). Đây là một đặc điểm thường thấy trong thơ TH. 3- Những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ. VB tiêu biểu cho phong cách thơ TH: – Tính trữ tình – chính trị : VB là khúc hát ân tình thuỷ chung của những người cách mạng với lãnh tụ, với Đảng và cuộc kháng chiến. – Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết. – Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc: Thể hiện ở thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, nghệ thuật sử dụng hình ảnh và biện pháp so sánh, ẩn dụ quen thuọc của ca dao. III- Tổng kết: Ghi nhớ: SGK-tr.114. IV- Luyện tập. 4. Củng cố: Thành công của TH trong đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung về mặt nội dung và nghệ thuật. 5. Hướng dẫn về nhà: – Nắm nội dung bài học. Hoạc thuộc lòng đoạn thơ.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Việt Bắc Lớp 12 Của Tác Giả Tố Hữu trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!