Xem Nhiều 12/2022 #️ Thơ Nguyễn Duy: Thể Tài Và Cảm Hứng / 2023 # Top 18 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Thơ Nguyễn Duy: Thể Tài Và Cảm Hứng / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ Nguyễn Duy: Thể Tài Và Cảm Hứng / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

             THƠ NGUYỄN DUY: THỂ TÀI VÀ CẢM HỨNG

                                                     Lã Nguyên

 Thơ Nguyễn Duy “nói” chuyện gì? Câu chuyện được “nói” tới” trong thơ này sẽ là khách thể thẩm mĩ mà chủ thể lời nói hướng tới chiếm lĩnh, nhào nặn, chuyển hóa thành nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Giải đáp câu hỏi ấy ta sẽ có thêm cơ sở để nhận biết hình tượng tác giả.

Đặt nhân vật trữ tình vào vai phát ngôn của người chiến sĩ Cách mạng, thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ có thể nói những chuyện quốc gia đại sự. Các nhà lí luận gọi đó là văn học sử thi. Sử thi là thể tài (“genre”) văn học hình thành từ thời cổ xưa. Nền tảng của sử thi là truyền thuyết. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, truyền thuyết là câu chuyện lịch sử về các anh hùng dân tộc và sự hình thành cộng đồng dân tộc. Sử thi cổ điển khai thác truyền thuyết từ dã sử, từ văn hóa dân gian. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa dựa vào các nhân vật cổ mẫu biến thời đại mình thành một pho truyền thuyết sáng thế chói lọi.

Trong thơ hiện đại Việt Nam, Tố Hữu là người đầu tiên viết truyền thuyết và là nhà thơ thủy chung với thể tài này gần như suốt đời. Tập Thơ Tố Hữu in lần đầu năm 1946, đến năm 1959, trong lần tái bản, nó được cải tên thành Từ ấy, 72 bài thơ trong đó được chia thành 3 phần với 3 tiêu đề “Máu lửa” – “Xiềng xích” – “Giải phóng”. Chỉ cần một ít thay đổi như vậy, tác giả đã biến tiếng nói trữ tình tâm tư về tiến trình trưởng thành của người thanh niên giác ngộ lí tưởng Cách mạng thành câu chuyện kể về hành trình lịch sử của một dân tộc nô lệ được cứu rỗi, giải phóng. Những mảnh đầu tiên của truyền thuyết sáng thế được phác thảo trong hàng loạt bài thơ của Tố Hữu như Huế tháng Tám, Xuân nhân loại, Vui bất tuyệt, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Lại về, Quê mẹ, Xưa … nay, Quang vinh Tổ quốc chúng ta, Trên miền Bắc mùa xuân… Pho truyền thuyết này được hoàn thiện trong trường ca Ba mươi năm đời ta có Đảng. Về sau, cùng với sự vận động của lịch sử cho tới ngày thống nhất đất nước (1975), nó được bổ sung, mở rộng, nối dài trong một loạt tác phẩm khác, như Theo chân Bác, Việt Nam máu và hoa, Nước non ngàn dặm… Dù ở dạng hoàn chỉnh, hay chỉ mấy nét chấm phá, thì truyền thuyết sáng thế trong thơ Tố Hữu bao giờ cũng là câu chuyện lịch sử được mở ra bằng cảnh “Nước mất nhà tan”,“Kiếp người cơm vãi cơm rơi”, “Giặc cướp hết non cao biển rộng. Cướp cả tên nòi giống tổ tiên”. “Máu” (“Sân đình máu chảy…”),“đêm”, “tối” (“Xưa là rừng núi, là đêm…”), “gương vỡ” (“Đời ta gương vỡ…”) là những ẩn dụ thường xuyên được nhà thơ sử dụng để kể chuyện về cái “Thuở nô lệ thân ta mất nước. Cảnh cơ hàn trời đất tối tăm”. Nhưng rồi Đảng ra đời, cờ Đảng giương cao như mặt trời quét sạch đêm đen: “Lần đêm bước đến khi hừng sáng. Mặt trời kia! Cờ Đảng giương cao”. Nhờ có Đảng, dân tộc “lại hồi sinh”. Đảng là vị cứu tinh“trả lại cho ta. Trời cao, đất rộng bao la. Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hông người”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác: đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cuộc cách mạng tháng Tám long trời lở đất, rồi lại đánh Pháp, đánh Mĩ, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thống nhất nước nhà, mở ra thời đại mới đầy tự hào:

 Trên bãi Thái Bình dương sóng gióPhơi phới bay cờ đỏ sao vàngChúng ta đứng thẳng hiên ngangSáng ngời một ngọn hải đăng hòa bình.

Với nội dung như thế, thơ Tố Hữu là truyền thuyết cứu thế, mà cũng là truyền thuyết sáng thế. Nó kể câu chuyện “Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” làm thành truyền thuyết ”Đảng chói lọi, Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Thơ Nguyễn Duy hòa vào dòng chảy văn học hiện xã hội chủ nghĩa chính là ở đề tài chiến tranh và thể tài truyền thuyết. Hai tập Cát trắng (1973) và Ánh trăng (1984) với những Tre Việt Nam, Trống giục, Trận địa tím, Khẩu súng trên tay ta, Bầu trời vuông, Tiếng kèn hiệu trong trận đánh cao điểm X, Chiều khẩu đội, Khẩu súng cây đàn, Cát trắng, Bàn chân người lính, Hầm chữ A, Thằng giặc lái bị bắt ăn cơm bằng xác mấy bay, uống nước bằng ống rốc-két, Lời ru đồng đội, Đêm ở chốt 417, Chiến hào… chủ yếu nói về chuyện dân tộc – lịch sử. Hai tiếng “Tổ quốc” nhiều vang lên trang trọng trong thơ ông, ví như: “Dù có sao/ vẫn Tổ Quốc trong lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần”. Hoặc:

                Ơi ai không gặp thân nhân

xin tới cùng tôi chung mái nhà ấm áp

cùng tôi hát lên lời ca này

cái lớn lao còn lại hôm nay

là nguyên vẹn

nhân dân

Tổ quốc

          Ta đều biết văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn mở rộng các khái niệm “Tổ quốc”, “Dân tộc” thành tình quốc tế vô sản, tỉ như “Bên ni biên giới là mình/ Bên kia biên giới cũng tình quê hương”. Trong thơ Nguyễn Duy, “Tổ quốc” gắn với cương vực, lãnh thổ. Có tiếng reo vui trong thơ Tố Hữu: “ Con tàu đưa tôi đến Trung Hoa/ Bốn hướng mênh mông bao la trời đất/ Ồ tất cả của ta đây, sướng thật” (Tố Hữu, Đường sang nước bạn).Trong thơ Nguyễn Duy có tiếng thở dài: “Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan/ Giá như máu chẳng lênh loang mặt đèo”. Tôi biết, tháng Năm mới đây, Nguyễn Duy viết Làm sao giữ được biển Đông?. Tác phẩm đang còn là bản thảo, lời thơ mạnh mẽ, thống thiết: “Làm sao giữ được biển Đông?/ khi giặc cướp le lưỡi bò chín đoan/ bốn phía bủa vây trùng trùng súng ssanj/ chỉ mình ta trụ giữa đất trời”. Lại nữa, văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa gắn “Tổ quốc” với khái niệm “chế độ”, “thể chế”: “Trước mắt Thái Bình Dương vỗ sóng/ Đây, Việt Nam dân chủ cộng hòa”, “Ai vô đó với đồng bào, đồng chí/ Nói với Nửa – Việt Nam Yêu Quý/ Rằng nước ta là của chúng ta/ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Sáng tác của Nguyễn Duy nói tới một qui luật khác: “Lửa đạn qua đi, màu xanh tồn tại/ vương triều qua đi … nhân dân còn lại” (Trong đất, Mẹ và em). Thơ ông hay nói về “tấm lòng”, “lòng dân”: “Ở đây là tấm lòng ta/ Sông dài núi rộng cũng là ở đây” (Bầu trời vuông), “Một đời không thể nào quên/ Lòng dân – chiếc mộc vững bền cho ta” (Hầm chữ A). Nhờ có lòng dân, sự tồn tại của Tổ quốc vượt ra mọi giới hạn của cương vực, lãnh thổ: “Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng/ cột biên giới đóng từ thương đến nhớ”.

Có thể thấy, như tôi đã phân tích ở phần trước, thơ Nguyễn Duy cũng viết truyền thuyết, nhưng là một truyền thuyết khác, truyền thuyết về “lòng dân” và sự trường tồn của nhân dân. Cho nên cũng nói về Tổ quốc, về dân tộc, nhưng dằng sau truyền thuyết của Nguyên Duy là một bức tranh thế giới khác xa với bức tranh thế giới trong truyền thuyết của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Các thể tài văn học hình thành trong quá trình giao tiếp bằng lời nói của con người. Mỗi thể tài là một loại hình giao tiếp, mỗi loại hình giao tiếp bao giờ cũng gắn với một loại ý đồ, mục đích nào đó.  Tùy thuộc vào ý đồ giao tiếp, thể tài sẽ tạo ra một loại bức tranh thế giới và một chiến lược giao tiếp, đặt người nghe và người nói vào một kiểu quan hệ nhất định. Chẳng hạn, người ta kể dụ ngôn là nhằm rao giảng một bài học. Để rao giảng bài học, dụ ngôn đặt người kể và người nghe vào quan hệ “thầy – trò” và tạo ra bức tranh thế giới mà mọi nhân vật bước vào đó đều thành những chủ thể lựa chọn. Thử đọc Đứa con hoang đàng được kí thuật trong Phúc âm Luca, ta sẽ thấy ngay nguyên tắc cấu trúc biểu nghĩa của dụ ngôn. Mục đích giáo tiếp của truyền thuyết là truyền đạt một tri thức khả tín bất kiểm chứng. Vì mục đích ấy, nó đặt chủ thể lời nói vào vị thế sở đắc chân lí, tạo cho người nói và người nghe quan hệ đồng thuận theo kiểu đồng ca mình nói – ta nghe, mình hỏi – ta đáp, để rồi “ta” với “mình” “Cầm tay nhau hát vui chung” . Nó vẽ ra bức tranh thế giới theo nguyên tắc phân vai.  Bước vào bức tranh thế giới của truyền thuyết, mọi nhân vật được đồng nhất với một chức năng, một vai trò nào đó, không có nhân vật nào được phép lớn hơn, hay nhỏ hơn chức năng của nó. Sáng tác của Nguyễn Duy và văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa dựa vào ba nhân vật cổ mẫu để kiến tạo bức tranh thế giới phân vai: Cha – Mẹ – Con.

Đứng sau “Cha” là “Mẹ” và “Con”. Tuy vai trò của “Con” ngoài tiền tuyến, “Mẹ” ở hậu phương có đôi chút khác nhau, nhưng cả hai đều là “chiến sĩ đồng bào”. Họ chịu ơn cứu rỗi của “Cha” và là nhân vật hành động. Chức năng của họ là “theo Cha” chiến đấu. “Ông nhà theo bạn “xuất quân””, thì “Mẹ”  “may cũng được vô chân “sẵn sàng”. “Con” “đi đánh giặc đường xa”, thì “Mẹ” cũng “đào hầm từ thuở tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc”. “Anh đang mùa hành quân”, thì “Dưới hầm sâu, em cũng là chiến sĩ”. “Mẹ” và “Con” cùng “theo Đảng tiến lên”, “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng”, suốt đời “chiến đấu hi sinh/ Tấm lòng son sắt đinh ninh lời thề”.

Bức tranh thế giới trong thơ Nguyễn Duy được kiến tạo theo những nguyên tác khác. Trên bức tranh ấy, “Mẹ” được đặt vào vị trí trung tâm và là điểm tựa tạo nghĩa duy nhất. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một trong số những bài thơ hay nhất của Nguyễn Duy. Bài Đò Lèn viết về bà và quê ngoại. Năm 1987, Nguyễn Duy có tập Mẹ và em. Năm 1995, ông lại có tập Vợ ơi dành riêng để tặng vợ.  Tính ra, Nguyễn Duy có trên 20 bài nói về vợ. Tôi nghĩ Lưu Đức Hạnh không nói quá, khi quả quyết rằng: “Quá ít ai trong các nhà thơ cổ kim Việt Nam viết về vợ được như Nguyễn Duy”[1]. Nhưng, như đã nói, trong thể tài truyền thuyết, cũng như “Cha”, “Mẹ” là một chức năng. Hiểu như thế, “Bà”, “Mẹ”, “Vợ”, hay “Cố nhân đi cấy”  đều là những khái niệm đồng nghĩa. Và như thế, truyền thuyết về lòng dân và sự trường tồn của nhân dân trong thơ Nguyễn Duy trước hết là truyền thuyết về “Mẹ” và người phụ nữ.

“Mẹ” là hình ảnh tiêu biểu nhất cho cuộc đời tần tảo dắng cay của chúng sinh. Ở đây, “Mẹ” gắn với nhà, với làng, với quê. Vai của “Mẹ” là “Hiền mẫu”. Chức năng của “Hiền mẫu” là “Trụ cột”, là “lương đống” chống đỡ trong nhà. Trong nhà, “Mẹ” là người dưỡng dục. “Mẹ” nuôi con khôn lớn bằng sữa và lời ru từ bà truyền lại: “Mẹ ru cái lẽ ở đời/ sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn/ bà ru mẹ… mẹ ru con”. Thời bình cũng như thời loạn, nhất là thời loạn, “Mẹ” thay “Cha” tề gia.  “Mẹ mất rồi … may phúc vẫn còn em”. Cũng như “Mẹ”, “Vợ” là “nội tướng” trong nhà, là “nguyên thủ quốc gia”: “Năm tháng bão giông sang sông lũ đổ/ một tay em chèo chống ngày ngày ngày,  “Nghìn tay nghìn việc không tên/ mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng”. Gặp lúc “nhuận bút hiếm hoi”, “lương tháng thoảng qua như một chút hương trời”, thì “Vợ” “vẫn là nguồn nhuận bút suốt đời ta”. “Vợ” là hậu phương vững chắc để “Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy/ ta chạy rông như gì nhỉ – quên đời”, đên “lúc xơ xác bờm xơm từ sợi tóc/ đói lả mò về/ cơm đâu/ vợ ơi..”. “Vợ” là người chia sẻ hoạn nạn: Và tao tác bạn bè cơn hoạn nạn/ đòn du côn toé máu tâm hồn/ Và tung toé cả bướm vàng bướm trắng/ này giọt cay giọt đắng giọt buồn nôn/ móc họng mửa ra cầu vồng bảy sắc/ vợ dìu ta/ từng bậc/ thang mòn…”. “Vợ” là người duy nhất có thể làm vợi cô đơn,  khi “một mình ta cô quạnh giữa muôn người/ mặt sông lạ gợn nếp nhăn đuôi mắt/ bủn rủn buồn/ ta thầm kêu/ vợ ơi”. Cho nên, trong thơ Nguyễn Duy, “Mẹ”, “Vợ” là hiện diện cho “Quê nhà”, cho “Cõi về”, “Cõi em”: “Dần mòn con chữ tong teo/ liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê/ cánh buồm mây tướp chiều quê/ Ruỗng/ tện/ hênh/ bịch/ rơi/ về/ või /em”.

Trên bức tranh thế giới các chức năng trong thơ Nguyễn Duy, “Cha” – “Con” tuy có đôi chút khác nhau, nhưng họ đều được đồng nhất với vai “lãng tử hồi đầu”: “Cha tôi mải mê lang bạt kỳ hồ/ xây rồi bán nếp nhà không văn tự/ phủi tay về đẩy xe thồ/ ngán ngẩm những con đường mệt lử”. Gần với “”Cha” là “Chú”, “Chú” cũng lang bạt như “Cha”: “Chú tôi nướng nửa đời biệt xứ/ nước mã hồi xin tí đất cắm dùi/ cóc chết ba năm quay đầu về núi/ khệnh khạng hát câu xin lỗi chân trời”. Cả “Con” cũng “giá vũ đằng vân giang hồ” như vậy: “Mải nưng nứng mộng siêu nhân/ lên cơn giá vũ đằng vân giang hồ/ Cuộc chơi hành hiệp lơ ngơ/ vắt mình ra mnhững người đàn bà quan trọng nhất trong đời mìnhấy giọt thơ nhạt nhèo”. Rồi như “Chú” và “Cha”, chàng lãng tử cũng “hồi đầu”: “Thôi ta về với mình thôi/ chân trời đành để chim trời nó bay”.

Tỏ lòng biết ơn, sự sám hối, niềm thương yêu, xót xa, trận trọng vô hạn với “Mẹ” và “Vợ” là nội dung tâm trạng chính yếu làm nên vai “lãng tử hồi đầu”. Nó rưng lòng biết ơn công lao dưỡng dục của “Mẹ”: “Ta đi trọn kiếp con người/ cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”. Hễ có dịp nói về “Bà”, về “Mẹ”, hay về “Vợ” là nó bầy tỏ sự sám hối chân thành, thổ lộ tình yêu và niềm xót xa vô bờ bến. Nó tự trách mình vô tâm “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế”, để đến “Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Suốt thời trai trẻ lăn lộn ngoài chiến trường, ngủ cũng như thức, nằm võng, nằm tăng, hay qua sông, leo đèo, lúc nào nó cũng mang trong tim hình bóng người vợ hiền: “Mặt trời là trái tim anh/ mặt trăng vành vạnh là tình của em/ Đêm nay em anh ở đâu/ cứ nhìn trang ấy, nhìn lâu tới người”. Nó xem tình vợ chồng “như rượu chôn lâu đằm lịm/ cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng”. Suốt một đời, nó yêu vợ bằng tình yêu tương kính: “Mỗi năm Tết đến một lần/ mời em li rượu tay nâng ngang mày”. Nó trách mình “vô tích sự” đến nỗi “nồi gạo hết lúc nào không biết” để “thăm thẳm lo trong mắt vợ u sầu”. Nó xót xa nhìn người bạn đời đầu gối tay ấp: “gót chân ăn vẹt bậc thếm/ quanh năm tất bật đi tìm ngày xuân”.

Trong rất nhiều bài thơ của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận  cũng có motif “lãng tử hồi đầu” như thế. Khác chăng là ở đó, lời của “lãng tử” là lời tri ân ràn rụa nước mắt của “Con” sám hối trước “Cha – anh minh”, ví như: “Ôi giữa lòng ta, Bác đến tự hồi nào?/ Bác vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc/ Một buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác/ Nước mắt ràn, ta cảm hết ơn sâu”.  Trong thơ Nguyễn Duy, tiếng lòng của “Con” với “Mẹ”, của “Chồng” với “Vợ” thường là “tiếng thầm”, nhiều khi như tiếng nói của trời đất cỏ cây, của thiên nhiên tạo vật.  Xin lắng nghe tiếng bước đi của thời gian, tiếng nhan sắc giã từ, tiếng rơi của sợi tóc và tiếng ”em ngồi chải tóc muối tiêu” giữa bốn bề “tiếng thầm thế gian”:“Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu/  em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng/ Má hồng về xứ hồng hoang/ tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi”. Tất cả được lắng nghe bằng giác quan bên trong, thấy con người và tạo vật, tất cả như đang phôi pha, tan biến vào hư vô thành “linh hồn cát bụi”, lại vừa nghe ra “có cái gì bất diệt” ở bên trong. Lời nói tựa như chẳng phải của ai, chẳng nói với ai, mà gợi dậy nỗi buồn mênh mang, tê tái.  Chính cách thể hiện tâm trạng “hồi đầu” của đứa “Con” lãng tử như thế sẽ tô đậm bội phần vai “Hiền mẫu” trong truyền thuyết về “Mẹ” của Nguyễn Duy.

Khảo sát hệ thống biểu tượng, ẩn dụ được sử dụng để chỉ các vai cổ mẫu “Cha”,  “Mẹ” và “Con”, ta càng thấy sự khác biệt giữa thơ Nguyễn Duy và thi ca hiện thực xã hội chủ nghĩa ngay ở chỗ tưởng như chúng gặp nhau.

Cha trong văn học hiện thực bao giờ cũng được ví với mặt trời. Bác Hồ là “mặt trời”: “Người rực rỡ một mặt trời cách mạng”, “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Lênin là “mặt trời”: “Tôi ngả mũ. Chào Lênin vĩ đại (…)/ Trong ánh sáng hồng tươi nét mặt/ Như mặt trời không bao giờ tắt”, “Lênin đó (…) Như mặt trời chói giữa biển bao la”. Cách mạng là “mặt trời”: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lí chói qua tim”. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng là “mặt trời”: “Mác – Lênin vĩnh viễn mặt trời/ Giữa mây đục càng sáng ngời chân lí”.

Các “Con” – “Chiến sĩ đồng bào” – “mỗi con người nhấp nhánh một ngôi sao”, “Anh chị em ơi!/ Hai mươi lăm triệu đồng bào/ Tiến lên!/ muôn vạn/ vì sao/ dẫn đường”.

Nguyễn Duy tạo cho truyền thuyết một bức tránh thế giới chức năng bằng những biểu tượng, ẩn dụ khác. Từ ngàn đời nay, “tre”, “lũy tre”, “bờ tre” đã trở thành biểu tượng của làng quê, của dân tộc trong ý thức người Việt. Cho nên Tre Việt Nam của Nguyễn Duy chính là truyền thuyết về dân tộc, về Tổ quốc. Bài thơ vẽ ra bức tranh thế giới với 2 yếu tố chức năng cơ bản:

Thứ nhất: Đất. Chức năng của đất là cung cấp “mỡ màu”.  Trong vô thức và ý thức của toàn nhân loại, “Đất” chính là biểu tượng của “Mẹ”: ”Mẹ – đất” ,  “Đất – Mẹ”.

Thứ hai: Cây. “Cây” là sự sống mọc lên từ “đất. Nó là “Con” của “Đất – Mẹ”. Trong bài thơ của Nguyễn Duy, “Cây” được chia thành 3 yếu tố chức năng: “Rễ” – “Gốc” – “Thân, cành”. “Rễ” – luyện “mỡ màu”: “Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. “Gốc” – duy trì giống nòi: “Chẳng may thân gãy cành rơi/ Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng”. “Thân, cành” – đan bện làm nên thành lũy chống chọi bão giông: “Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm/ Thương nhau tre không ở riêng/ Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người”.

“Đất” – “Rễ” – “Gốc – “Thân, cành” là mô hình thế giới, giống như một ngôn ngữ, trong tư duy thơ của Nguyễn Duy. Thơ ông nói về sự sống con người như một truyền thuyết chính là bằng hệ thống ẩn dụ, biểu tượng và bức tranh thế giới ấy. Có thể nhận ra mô hình thế giới này qua hàng loạt bài thơ khác của Nguyễn Duy, ví như Lời của cây, … Và lời của quả, hay Trận địa tím:  “Không cây nào như cây sim quê ta/ Mọc giữa cằn khô vẫn xòe đầy hoa/ Chiu chắt màu sành luyện thành sắc tím/ Lọc từ sỏi ra mật đường ngọt lịm/ Càng nắng càng mưa trái mọng càng thơm”.

Thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa viết truyền thuyết về “Cha anh minh”. Thơ Nguyễn Duy kể truyền thuyết về “Mẹ trường tồn”. Truyền thuyết “Cha anh minh” kiến tạo bức tranh thế giới theo nguyên tắc thế giới quan của hệ tư tưởng gia trưởng, phụ quyền, lấy Thái dương hệ làm mô hình tư duy. Truyền thuyết “Mẹ trường tồn” vẽ ra bức tranh thế giới theo nguyên tắc thế giới quan của tư tưởng mẫu hệ, nữ quyền, mô hình tư duy đằng sau bức tranh ấy là “cảm quan cây trái” và hệ sinh thái canh nông.

*

Khi lịch sử sang trang, thời đại sử thi khép lại, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng đi trọn vòng đời cảu nó. Sau những Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Tố Hữu rớt lại Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999). Có thể thấy rất rõ ở hai tập sau chót ấy, nhà thơ “lá cờ đầu” tự giải quy phạm những quy phạm mà ông đóng khuôn cho cả một thời đại văn học. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là dòng nghệ thuật “nói to” giữa quảng trường. Cho nên chỉ trong di cảo, Nguyễn Đình Thi mới rỉ tai chuyện Gió bay “Người tôi còn nhiều bùn tanh/ Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ/ Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ/ Nhiều dây nhợ tự buộc mình”. Cũng chỉ trong di cảo, Chế Lan Viên mới nói thầm chuyện “nhai ngồm ngoàm” những chiếc Bánh vẽ: “Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ/ Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn/ Cầm lên nhấm nháp/ Chả là nếu anh từ chối/ Chúng sẽ bảo anh phá rối/ Ðêm vui”.  Nguyễn Khải thì kín đáo viết hồi kí Đi tìm Cái tôi đã mất. Khoác trên mình bộ lễ phục nghệ sĩ – chiến sĩ với sứ mệnh “giáo dục lí tưởng cộng sản cho quần chúng lao động”, nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa khó đụng bút tới những chuyện đời tư và thế sự.

Nguyễn Duy không phải gác bút, cũng không thèm nói nhỏ, nói thầm. Xem “ta là dân”, đặt nhân vật trữ tình vào vị thế nhà thơ nhân dân, lại lấy “xẩm ngọng” làm mặt nạ ngôn từ, thơ Nguyễn Duy, cùng với kí, truyện và kịch thời “đổi mới”, cất lên tiếng nói thế sự mạnh mẽ nhất, thống thiết nhất. Hơn trăm bài thơ trong các tập Đường xa (1989), Về (1994), Bụi (1997) chủ yếu là thơ thế sự. Giữa hàng trăm bài thơ thế sự ấy, nổi lên ba thi phẩm đặc biệt: Đánh thức tiềm lực (1987), Nhìn từ xa … Tổ quốc (1988) và Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ (1992). Chúng đặc biệt ở độ dài, nhờ có độ dài và sự súc tích của ngôn ngữ thơ, chúng vẽ ra những bức tranh toàn cảnh rộng lớn về trạng thái phong hóa đốn mạt, suy thoái cùng cực ở thời mạt pháp, mạt thế. Điểm lại trong trí nhớ, tôi thấy ở ta, ngay cả trong văn xuôi, hình như cũng chưa mấy ai vẽ ra được bức tranh phong hóa rộng lớn, nhiều mặt như bức tranh trong Nhìn từ xa… Tổ quốc.

Nhưng gọi đó là ba thi phẩm đặc biệt, chủ yếu tôi muốn nói tới ý nghĩa văn học sử của chúng. Với bộ ba Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa … Tổ quốc và Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, Nguyễn Duy là nhà thơ đầu tiên, và có lẽ là duy nhất ở thời “Đổi mới” đã mở ra dòng văn học phản tư về diễn ngôn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong văn xuôi thời ấy, vị trí này thuộc về Nguyễn Minh Châu. Cũng như văn xuôi Nguyễn Minh Châu, thơ Nguyễn Duy là sự phản tư ráo riết cách nhìn, cách nghĩ và cách nói về đời sống của một trào lưu nghệ thuật bị qui phạm hóa và đã trở thành hóa thạch. Sự chuyển đổi điểm nhìn như là đặc trưng cấu trúc của hình tượng phản tư cho phép thơ Nguyễn Duy phơi bầy loại xung đột thế sự mà bản thân văn học thế sự thường bỏ qua. Ấy là xung đột diễn ngôn, xung đột ngôn ngữ. Lại nữa, trong thơ, lời của nhân vật trữ tình bao giờ cũng được tiếp nhận như lời ở thời hiện tại, đang diễn ra. Cho nên, thơ Nguyễn Duy đã chuyển xung đột diễn ngôn thành cuộc chiến ngôn từ.

Trong Đánh thức tiềm lực, đó là cuộc chiến của lời nói khai minh chống lại ngôn ngữ ngủ yên. Chủ thể của ngôn ngữ ngủ yên là “ta”: “Ta ca hát quá nhiều về tiềm lực” khi “tiềm lực còn ngủ yên…”, là “thầy giáo giảng rằng/ nước ta giàu lắm!…” để “lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài”, là những “người lớn cứ ru nhau/ ru tiềm lực ngủ vùi trong thơ thịt”,  là loại nghệ thuật giữ mãi cái đẹp “gợi về thuở ngày xưa ngày xửa”, là loại nhà thơ “vô dụng” như “chích chòe ăn và gại mỏ”, như “kẻ thợ đục chữ nát cả giấy”, như “tay chuyên sản xuất hàng giả”… Chủ thể của ngôn ngữ ru ngủ là những “bộ óc tự mãn” và lũ người vô cảm “mắc bệnh tim đập cầm chừng”, “mắt lờ đờ thủy tinh thể”, “viêm chai màng nhĩ”, “mũi khò khè không nhận biết mùi thơm”. Nói tóm lại, chống lại ngôn ngữ ngủ yên là chống lại diễn ngôn quen thuộc đã trở thành khuôn sáo của cả một thời đại và những chủ thể đại diện cho thời đại ấy. Lời nói khai minh được nhà thơ gửi vào cửa miệng nhân vật trữ tình. Ở đây nhân vật trữ tình được biến thành nhà khai sáng. Nó đánh thức đất đai: “Hãy thức dậy, đất đai/ cho áo em tôi không còn vá vai/ cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn”.  Nó khai sáng cho những khối óc của “ta”, những kẻ quen “ca hát quá nhiều về tiềm lực” khiến  “tiềm lực còn ngủ yên” . Bằng sự nếm trải của chính mình, nó nói lo lên sự thật:  “Này đất nước của ba miền cày ruộng/ chưa đủ no cho đều khắp ba miền/ ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/ tiềm lực còn ngủ yên”. Với ý nghĩa như thế, Đánh thức tiềm lực của Nguyễn Duy là tiếng nói của dân tâm cất lên thành khúc ca khai minh dân trí.

Nhìn từ xa … Tổ quốc tiếp tục tự nhiên mạch thơ của Đánh thức tiềm lực. Trong Nhìn từ xa … Tổ quốc, cuộc chiến diễn ngôn được đẩy lên cao nhất, quyết liệt nhất. Đó là cuộc chiến “lột mặt nạ” của lời nói tái sinh chống lại cái thây sống ngôn từ. Nó được trình bày dưới hình thức đàn hặc, truy vấn của hai chủ thể diễn ngôn. Hai chủ thể này được hình dung như hai nhân vật “một thời” vốn cùng thuộc phe “Ta”, cùng  đứng chung trong dàn hợp xướng“ mê hát đồng ca/ chân thành và say đắm/ ta là ta mà ta vẫn mê ta”. Nhưng sau “những đám ma từ ngữ”, tất cả chỉ còn là “Xác chữ chôn đầy nghĩa địa giấy vô hình”. Từ “nghĩa địa giấy vô hình” ấy chúng “đội mồ lên”, nhân vật này thì hóa thành lời nói tái sinh, phản tỉnh, nhân vật kia làm “thây sống ngôn từ”. Cái “thây sống ngôn từ” giờ là “bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà”, là “vết bầm đen đấm ngực”, “vết bầm đen ngửa mặt lên trời”, “vết bầm đen toạ thiền”, “vết bầm đen cúi đầu lặng thinh”, “vết bầm đen vò tai”, “vết bầm đen rứt tóc”, “vết bầm đen gập vuông thước thợ”, “vết bầm đen còng còng dấu hỏi”. Tóm lại, nó là “ người anh hùng bất lực dài ngoẵng”. Nó không chịu chết. Nó cứ làm cái thây sống ngôn từ để lặp lại những diễn ngôn rỗng nghĩa, vô nghĩa và giả dối về một “xứ sở phì nhiêu”, “xứ sở nhân tình”, “xứ sở từ bi”, “xứ sở linh thiêng”, “xứ sở thông minh”, “xứ sở thật thà”, “xứ sở cần cù”, “xứ sở bao dung”, “xứ sở kỷ cương” … Trong Đánh thức tiềm lực, nhân vật trữ tình khi nói lời khai minh, nó rào trước: “Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo/ quen cái thói hay nói về gian khổ”. Nó đón sau: “Cần lưu ý”: “có cái miệng”, “có lắm sự nhân danh”, “có lắm nghề lạ lắm”… Lần này trong vai phản tỉnh, đại diện cho lời nói tái sinh, nhân vật trữ tình quyết truy vấn đến cùng. Nó tuyên bố thẳng thừng về “sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi/ bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại”. Nó ném thẳng ra câu hỏi không cho đối tượng lẩn tránh: “Đổi mới thật hay giả vờ đổi mới?”. Nó cảnh cáo: “Đừng lớn lời khi dân lành ốm đói/ vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn”. Nó thẳng tay trỏ vào những cái mặt nạ: “Khốn nạn thân nhau/ nặng kiếp phân thân mặt nạ”. Và nó tuyên bố: “Thì lột mặt nạ đi – lần lữa mãi mà chi/ dù dối nữa cũng không lừa được nữa”. Nó tung ra hàng chục câu hỏi, dồn cái thây sống ngôn từ vào chân tường. Câu hỏi nào của nó cũng vừa nhại lại một diễn ngôn sáo rỗng, vừa đưa dẫn chứng lột trần mặt nạ dối trá của diễn ngôn ấy: “Xứ sở nhân tình/ sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu/ nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng?”, “Xứ sở linh thiêng/ sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác/ đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh” … Nhan đề bài thơ là Nhìn từ xa … Tổ quốc. Nhưng những dẫn chứng được đưa ra để “lột mặt nạ” lại chứng tỏ Tổ quốc được quan sát, suy ngẫm ở cự lí rất gần. Đặt bên cạnh những diễn ngôn giả dối, lời nói tái sinh, phản tư của nhân vật trữ tình như rót vào tai người nghe những chuyện lần đầu tiên được nghe, lại như vẽ ra trước mắt người đọc những bức tranh dữ dội, rưng rưng sự sống tươi ròng như lần đầu họ được thấy:  “Xứ sở thông minh/ sao thật lắm trẻ con thất học/ lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương/ Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt/ tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp”, “Xứ sở bao dung/ sao thật lắm thần dân lìa xứ/ lắm cuộc chia ly toe toét cười/ Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái goá/ chen nhau sang nước người làm thuê/ Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh/ nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về”. Một giảng viên đại học kể với tôi rằng lần nghe tác giả trực tiếp đọc bài thơ, cô có cảm giác “quên thở”, nghe xong mới biết mình “nghẹn ngào ứa nước măt”. Nhìn từ xa … Tổ quốc của Nguyễn Duy là thiên trường thi “lột mặt nạ” dữ dội chưa từng thấy ở đâu. Nó là thơ của dân tâm, dân trí cất cao thành tiếng nói của dân khí.

Dưới nhan đề Đánh thức tiềm lực, thấy có dòng đề tặng: ”Tiễn đưa anh S.D. đi làm kinh tế”.  Ta đọc ra ngay “S.D” là ai, và như thế hiểu răng, với Đánh thức tiềm lực và Nhìn từ xa … Tổ quốc, Nguyễn Duy, dẫu biết “triều đình không có ghế cho thơ”, vẫn quyết đưa thơ vào tận “cung cấm”, đẩy thơ lại gần chính luận để đọc to “câu thơ tuẫn tiết”. Nhưng cũng như “dân làng tôi (…) xả hết mình khi nước gặp tai ương/ rồi thanh thản trở về với ruộng”, nhà thơ nhân dân của chúng ta lại “thanh thản trở về” với sự hàm súc của thơ và mặt nạ “xẩm ngọng” quen thuộc. Tôi nghĩ đó là lôgic phát triển của hình tượng thơ ở bộ ba nói chuyện thế sự, từ Đánh thức tiềm lực qua Nhìn từ xa … Tổ quốc đến Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ.

Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ thể hiện rõ sự dụng công của tác giả. Bài thơ chia ra năm khổ, ứng với ngũ hành như nhan đề của nó. Cả bài là những cặp đôi câu thơ song hành mà không đối ngẫu, câu trước dìu câu sau, mỗi câu mỗi sắc thái không lẫn vào nhau. Từng đôi câu thơ in cách dòng, cặp nào cũng có ý vị riêng, thường gây bất ngờ cho người đọc. Lời trữ tình tựa như lời người say, lời kẻ mộng du nói vu vơ, lại như lời đồng dao của con trẻ, của “xẩm ngọng” vang lên trong ngõ xóm, nửa như giễu cợt, nửa như cảm thương. Đằng sau lời nói nửa tỉnh nửa say, nửa cảm thương nửa giễu cợt ấy là một tâm trạng và một bức tranh. Đó là một bức tranh phân mảnh, lật ngược, lộn trái, tạo ra một hình tượng đời sống hỗn tạp và nghịch dị. Chắp nối các mảnh vỡ của bức tranh, thấy hình tượng đời sống là mô hình “tam thế”, ba cõi, gồm “Cõi  Trời”, “Cõi Người” và “Cõi Mình”. “Cõi trời” đầy bất ổn: “Quả đất nóng dần lên/ tầng ô-dôn có vấn đề gì đó”. “Cõi người” càng nhiều vấn đề: “Sâu rầy đang vấn đề cánh đồng/ rừng cây vấn đề cháy và trụi/ Nón hành khất ngả vấn đề xó chợ/ trẻ lang thang vấn đề bụi đời/ Lổn nhổn hành tinh vấn đề đẻ và đói/ chiến trận tuôn vấn đề đỏ lòm”. “Cõi Mình” cũng tồi tệ như vậy: “Mắt vấn đề toét tai vấn đề ù/ bất an vấn đề giấc ngủ”, “Lục bục bụng dạ sôi/ ruột gan đang vấn đề gì đó”, “Nghe chừng lục phủ ngũ tạng đều cọt kẹt/ sida giác quan ung thư toàn thân”. Đâu đâu cũng đầy rẫy bất an và “Những bất ổn đầy rẫy”. Nhưng trong “Mình” còn có “Ta”. Mà “Ta” thì: “Không thể nói rằng ta bất cần/ ta cần sống và cần đủ thứ/ Cần dinh dưỡng cần khí thở/ cần giấc mơ nõn ngọn rau xanh/ Cần phút lặng thinh mặc niệm những mối tình quan họ/ những người tình không giao phối bao giờ”.  Vậy “Ta” đi đâu, trốn vào đâu để tìm những thứ ấy? Vào rươu? Không ổn, vẫn thấy: “Ta vu vơ mình trống rỗng mình”.  Hay trong mơ, ngủ quách cho quên sự đời? Khủng khiếp quá: “Giấc mê mệt thiêm thiếp chiêm bao trắng/ loạng quạng ma nhảy nhót trước thềm”, “chợt thấy xác mình thối rữa từ từ”, “Tự đọc điếu văn soạn sẵn vĩnh biệt mình/ tự giải thoát một thời mộng mị”. Thôi đành “vượt tần ô-zôn đang có vấn đề” “đi kinh tế vũ trụ”, vì “Ta” “khao khát tiếng hát giun dế/ không biên tập không kiểm duyệt/ “Ta ao ước cái bay chim chóc/ không hộ chiếu không biên giới”. Cũng không xong, “Ta” vẫn là “Ta”, “Ta bịch về mặt đất bất ổn/ nhố nhăng đến chết nết không chừa”. “Ta” “xách sọ dừa đi chợ” làm một “Ẩn sĩ Lê-guym tọa thiền”. Nhưng “Chợ” rặt “Những quàng quạc đành đạch âm nhạc/ những cua ốc nghêu sò nguồn thi hứng tràn đầy”,  “Tiết vịt sống hài hòa lòng vịt chín/ món tiết canh thần tiên lấp lỗ hổng sọ dừa”. Xô bồ quá, phàm tục quá!  Nên ngồi giữa chợ mà “Cứ phảng phất thơm chùa những hồng hào má/ những thắm cười tươi như hoa nhà ai. Đành “Ta già ta hóa trẻ con (…) Và ngạo nghễ khúc đồng dao nhăng cuội/ lời trẻ con phấp phới ngũ hành kỳ”.  “Ta” của Nguyễn Duy là cả một vùng thao thức khôn nguôi. Trong cái “Ta” ấy có một Lear và thằng hề của Lear, một Hamlet “mân mê trên tay một chiếc sọ dừa” mà suy ngẫm về tồn tại. Đó là hình tượng con người không chỉ bất hòa với thế giới, mà còn lạc loài ngay trong sa mạc cô đơn của tâm hồn mình. Với ý nghĩa như thế, tôi gọi hình tượng ấy là tấn bi hài kịch tột cùng của sự cô đơn. Trong cuộc chiến diễn ngôn, để xoa dịu nỗi cô đơn, lời nói nhân văn lại quay về với đời sống dân gian tìm nơi trú ẩn.

Như đã nói, hơn trăm bài thơ trong các tập Đường xa, Về, Bụi của Nguyễn Duy chủ yếu là thơ thế sự. Thơ ông vẽ ra muôn vàn cảnh đời khiến lại nghĩ tới câu “Đời là thế, kể làm chi cho rầu”. Ông nhìn thấy thế sự ngay trong phong tục, tỉ như “Chùm ngũ quả”: “Tết bày mâm ngũ quả/ nải chuối thật ngon lành/ quả để ăn thì chín/ quả để thờ thì xanh”, hoặc Phật thủ: “Tay Phật xoè ra thành vô lượng/ bao la mặt đất bầu trời/ cũng bàn tay ấy khi hạ thủ/ nắm lại thành quả đấm như chơi”. Có những bức tranh phong tục gợi ra nỗi đau thế sự xé lòng: “Cả trần gian tí tởn/ đón xuân sang tưng bừng/ có một thằng dớ dẩn/ ngồi làm thơ rưng rưng…/ Cả thành phố như nổ/ tiếng pháo rền vang xa/ có một lão bị gậy/ khóc khàn trên sân ga…” .

Bàn về những gì được “nói” tới trong thơ Nguyễn Duy, không thể bỏ qua thể tài đời tư, Chuyện đời tư gắn với đề tài tình yêu. Như các nhà thơ cùng thời, Nguyễn Duy không mấy khi viết thơ tình. Những mối tình được nhắc tới trong thơ ông là thứ  “tình quan họ”, “gần xa như bạn như bầu thế thôi”. Nó là thứ tình bất chợt “sáng nay ra cửa gặp may”, tình một bên, một phía, để rồi “Ngả bàn tay nhớ bàn tay. hương thơm buổi ấy thoáng bay trở về. nói nhiều cũng chỉ mình nghe. nhớ nhau mình lại vuốt ve tay mình”. Nhưng ở đây, cũng có sự khác biệt đáng kể giữa thơ Nguyễn Duy và văn thơ hiện thực thực xã hội chủ nghĩa. Ngay cả thứ tình bóng gió xa xôi, văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng không dám xa xôi bóng gió..Thảng hoặc có nói, thì nó cũng chỉ  nói tới thứ tình của những người đồng chí cùng chung lí tưởng, tỉ như “Anh đi tìm quặng ngọn nguồn/ Nhớ em gánh nước công trường dưới xuôi”, “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”, “Nhớ nhau anh gọi em đồng chí”, “Khải hoàn hát khúc ngày mai. Có em rực rỡ tươi hoài bên anh”… Trong thơ Nguyễn Duy, nhân vật trữ tình bao giờ cũng hiển hiện lên trong vai người tình. Nó không bị ép biến thành chiến sĩ tuyên truyền kể chuyện tình yêu diễn ra giữa không gian cộng cộng. Chuyện tình nào của nó cũng là kỉ niệm riêng tư về một vùng đất, một góc trời, một khoảnh khắc cắm rế sâu vào kí ức làm thành những trang tiểu sử đời người. Kí ức về bàn tay cô hàng xóm “có lần tôi chạm khẽ. Thuở phải lòng nhau nào dám gì đâu”, về khoảnh khắc “tôi lơ đãng nhìn em lơ đãng” giữa Đà Lạt một lần trăng, giây phút “vai kề vai. Kệ cho mấp mé cả hai mạn xuồng” trên con Xuồng đầy giữa vùng sông nước, hay cảnh Mưa trong nắng, nắng trong mưa để “Vội vàng ta nấp vào nhau. Mái đầu che lấy mái đầu thoảng hương”… là những khoảnh khắc làm nên nhiều trang đời như vậy. Tuy nhiên, do đặt nhân vật trữ tình vào vị thế của dân, khoác cho nó mặt nạ ngôn ngữ “xẩm ngọng”, thơ Nguyễn Duy khó đào sâu hơn thế vào thể tài đời tư và cái tôi cá nhân.

*

Không có khách thể thẩm mĩ chung chung, chẳng phải của ai. Khách thể thẩm mĩ bao giờ cũng là khách thể của chủ thể. Bước vào thế giới nghệ thuật, mọi hiện tượng và đối tượng đều bị định giá, biến thành những giá trị. Cho nên trong sáng tác văn học, mỗi thể tài thường gắn với một phạm trù cảm hứng. Khái niệm cảm hứng được hiểu như một xu hướng định giá thẩm mĩ và nó là một căn cứ để ta nghiên cứu lịch sử văn học.

Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lấy “mặt trời” và “trăm vạn vì sao” làm biểu tượng cho thế giới truyền thuyết của mình. Bằng cách ấy nó đặt thế giới nghệ thuật vào khu vực gián cách tuyệt đối so với cái thường nhật. Nó không để bất kì ngõ ngách nào cho thế giới ấy ăn thông với thời đương đại đang tiếp diễn của chúng ta. Thế giới nghệ thuật là thế giới của những cha ông, tổ tông, của những bậc sáng thế. Đó là thế giới của cái phi phàm, siêu nhiên đã hoàn kết xong xuôi, thế giới của những người thứ nhất và ưu tú nhất, họ đã hóa thành thần thánh, không thể “hạ bệ”. Cái đương đại của chúng ta thuộc về thế giới của cháu con, hậu bối, thế giới của cái phàm tục thường nhật, cái phù vân dang dở. Cho nên phạm trù Cao cả trở thành xu hướng cảm hứng chủ đạo của văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ta nhận ra xu hướng cảm hứng này qua cái nhìn cung kính của nhân vật trữ tình và niềm “vui bất tuyệt” như là xúc động thường trực của nó trong thơ.

Qua cái nhìn cung kính của nhân vật trữ, mọi hình tượng trong thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa hiện lên kì vĩ, lộng lẫy, uy nghi, hoành tráng. Hãy xem hình tượng miền Bắc mùa xuân trong thơ Tố Hữu: “Ta nghe rõ: Mỗi giờ mỗi phút/ Cả đất nước đang tiến lên vùn vụt/ Như cỗ xe trăm mã lực khổng lồ/ Mà bàn tay thần diệu của Bác Hồ/ Cầm chắc lái, bay trên đường vạn dặm”. Hễ chỗ nào có hình tượng Bác Hồ là ta bắt gặp sự uy nghi, lộng lẫy: “Anh đội viên mơ màng/ Như nằm trong giấc mộng/ Bóng bác cao ộng lộng/ Ấm hơn ngọn lửa hồng”, “Bác ngồi đó lớn mênh mông/ Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng,  nước non”, “Mong manh áo vải, hồn muôn trượng/ Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”. Anh giải phóng quân “ngã xuống đường băng Tân Sơ Nhất (…) để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”. Trong văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa, người chiến sĩ ấy mang tầm vóc vũ trụ: “Anh đi xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió, lay thành chuyển non/ Mái chèo một chiếc xuồng con/ Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương”. Không chỉ thế, trong cái nhìn cung kính của nhân vật trữ tình, những hình tượng uy nghi, hoành tráng kia còn hiện lên như những tượng đài bằng sắt bằng đồng gây ấn tượng bất hủy, bất hoại, trường tồn thiên niên vạn thế. Đây là tượng đài đảng ta: “Đảng ta đó trăm tay nhginf mắt/ Đảng ta đây xương sắt da đồng”. Chị lao công cũng được Tố Hữu dựng thành tượng đài bằng sắt sắt, bằng đồng: “Những đêm đông/ Khi cơn giông/ Vừa tắt/ Tôi đứng trông/ Trên đường lạnh ngắt/ Chị lao công/ Như sắt/  Như đồng/ Chị lao công/  Đêm đông/ Quét rác”…

Năm 1946, Tố Hữu viết bài Vui bất tuyệt. Nhân vật trữ tình trong thơ ông reo vang: “Vui quá đêm nay/ Ta nhảy ta bay/ Trong lòng Hà Nội”. Lòng vui thì thấy “cuộc sống mới đã tưng bừng mở hội”, ở đâu cũng vui, ai cũng vui. Trong văn thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa, “sướng vui” trở thành trạng thái nhân sinh làm nên hình hài của bức tranh thế giới: “Quê hương ta rộn rã cuộc vui chung”. “Đời vui đó, hôm nay mở cửa. Như dãy hàng Bách hóa của ta”; “Đời vui đó, tiếng ca đoàn kết. Ta nắm tay nhau xây lại đời ta” … Chiến tranh chỉ có những “cuộc chia li chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng (…)/ Như không hề có cuộc chia li”. Cả nước vui ra trận: “Những buổi vui sao/ Cả nước lên đường/ Xao xuyến bờ tre/ Từng hồi trống giục”. Vui nhất là tin vui thắng trận: “Tin vui chiến thắng trăm miền. Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về. Vui từ Đồng Tháp, An Khê. Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”. Anh Morison đi tự thiêu, nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu nghe thấy anh dặn con nói với mẹ: “Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!”. Cũng nhân vật trữ tình ấy quả quyết, lúc qua đời “Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau/ Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu…”. Có thể thấy, tiếng reo vui cất lên từ năm 1946 trong thơ Tố Hữu đã mở ra tâm trạng lễ hội và niềm “vui bất tuyệt” kéo dài suốt mấy mươi năm trong văn thơ nước ta.  Cho nên, năm 1991, khi nhân vật trữ tình của Tố Hữu cất lên Một tiếng đờn và nói tới nỗi buồn, ta biết chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thế là đã giải qui phạm: “Mới bình minh đó đã hoàng hôn/ Đang nụ cười tươi lệ bỗng tuôn/ Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy/ Khuấy động lòng ta biết mấy buồn”.

Như đã nói, trong thơ Nguyễn Duy có một hệ thống ẩn dụ, biểu tượng khác. Lấy những đất, cây, cỏ, cát, bụi, cánh cò, cánh vạc, trâu cày với những “bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà”, “vết bầm đen đấm ngực”, “Ẩn sĩ Lê-guym tọa thiền”  …làm ẩn dụ và biểu tượng cho thế giới nhân vật của mình,  thơ Nguyễn Duy thu hẹp tối đa khu vực gián cách  giữa nhân vật trữ tình và đối tượng xúc động trữ tình của nó, giữa thế giới nghệ thuật và thế giới thường nhật xô bồ, phàm tục của chúng ta.  Cho nên, ứng với hai thể tài truyền thuyết và thế sự như lõi cốt của khách thể thẩm mĩ, Đẹp và Bi hài kịch sẽ là hai phạm trù cảm hứng chủ đạo trong sáng của Nguyễn Duy.

Ngay từ chùm thơ được giải với những Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Hầm chữ A và hàng loạt thi phẩm khác trong hai tập Cát trắng và Ánh trăng, ví như Tiếng hát mùa gặt, Trận địa tím, Bầu trời vuông, Võng trăng, Hạt lúa cháy nảy mầm, Bài hát người làm gạch, Về thăm nhà Bác, Ánh trăng…, thơ Nguyễn Duy đã sớm bộc lộ một cảm quan riêng, một mĩ học riêng về cái đẹp. Có thể nói rất nhiều về mĩ học ấy, cảm quan ấy, nhưng tựu trung, đó vẫn là mĩ học ở loại hình tác giả “ta là dân”.  Trong cảm quan của tác giả này, cái đẹp trước hết là một nghị lực sống phi thường, nghị lực của “rễ siêng không ngại đất nghèo”, “đất cằn”, nghị lực vượt lên nghịch cạnh, chống chọi “bão giông” để trường tồn. Vẻ đẹp ấy hiện hình ở “thập loại chúng sinh”, ở “Tre xanh/ xanh tự bao giờ”, ở “cây sim quê ta”, ở “hạt lúa cháy nầy mầm”, ở “dân làng tôi”, ở dáng bà, dáng mẹ, dáng cha lấm láp và cả dáng “em” lam lũ. Mĩ học ấy đặc biệt nhậy cảm trước những vẻ đẹp thân quen gắn với “làng”, với “rơm rạ”, vẻ đẹp gợi “nhớ ruộng, nhớ vườn”, nơi “cỏ lúa, và hoa hoang cỏ dại”, có “vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải/ bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua”, có “trắng muốt cánh cò”, có “con sáo mỏ vàng, con chào mào đỏ đít/ con chim trả bắn mũi tên xanh biếc/ con chích choè đánh thức buổi ban mai”.  Đó là vẻ đẹp đã thành “Con dấu chìm chạm trổ ở trong xương/ thời thơ ấu không thể nào đánh đổi”, vẻ đẹp gửi lại mãi mãi nơi “quê nhà ở phía ngôi sao”. Gần với vẻ đẹp ấy, trong thơ Nguyện Duy còn có vẻ đẹp gợi nhớ rừng của một thời trận mạc. “Đẹp” hóa ra là chuyện của kí ức, của nỗi nhớ. Trăng trong thơ Nguyễn Duy đẹp không phải vì nó là thế giới của “bầu rượu túi thơ”, mà vì nó là “tri kỉ”. Người lính thích thú thấy cánh võng là “mảnh trăng”: “Cong cong võng bạt anh nằm/ khuyên lên nền lá vành trăng lưỡi liềm”. Anh càng thích thú khi “Thấy trăng mắc võng lưng chừng cành cây” để “Trăng kia cùng cánh võng này soi nhau”. Về thành phố, “quen ánh điện cửa gương”, thấy “Vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường”, rồi vào đêm mất điện, trăng hiện ra nơi cửa sổ, người lính ấy như gặp lại cố nhân, thấy người “tri kỉ”: “Ngửa mặt lên nhìn mặt/ có cái gì rưng rưng/ như là đồng là bể/ như là sông là rừng”.  Nguyễn Duy cũng viết về lãnh tụ, nhưng viết theo kiểu riêng của nhà thơ gắn với “rơm rạ”, quen với “gió sùng sùng mùi bùn nằng nặng ngấu”, với “mộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậu”, với “lưng trần ứa giọt sương người mằn mằn/ tiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầy”.  Trong thơ Nguyễn Duy, nhà lãnh tụ đẹp không phải vì “nhà Bác ở” là “sàn mây vách gió”, mà là vì “mọi cái ở đây đều rất bình thường”, từ “hàng bông bụt”, “luống lạc luốn khoai”, “tám cây cau đằng sau nhà Bác”, “mái nhà lợp bằng lá mía trắng phau”, cho tới “mảnh đất làm nhà” là “mảnh đất làm nhà có ở bốn phương”, tất cả đều “giống nhà tôi” không khác chi hàng bông bụt, luống lạc luống khoai, và muôn nhà mái nhà lợp mía khác.

Tóm lại, cái đẹp trong thơ Nguyễn Duy là cái đẹp của một phong cách thơ chan chứa linh hồn dân tộc, thấm đẫm vẻ đẹp cổ truyền. Đó là cái đẹp lấm láp của “đất nghèo”, “đất cằn”, của “cát trắng xèo từng giọt đỏ tươi”, của “hạt cát có cái gì bất diệt”, của “linh hồn cát bụi ở miền trong veo”. Cái đẹp ấy hóa thân vào câu ca dao trắng muốt mãi một cánh cò. Thơ ông lúc nào cũng cất lên tiếng nói vang vọng niềm tin vào vẻ đẹp ấy: “Ngàn năm trên dải đất này. Cũ sao được cánh cò bay la đà/ Cũ sao được sắc mây sa/ Cũ sao được khúc dân ca quê mình”.

Cái đẹp là sự hài hòa giữa các mặt xung đột. Cái bi và cái hài là xung đột phá vỡ sự hài hòa ấy. Trong thơ nguyễn Duy, có thể nhận ra sự phá vỡ này ở cả nhân vật trữ tình, lẫn đối tượng trữ tình của nó. Ở nhân vật trữ tình, đó là xung đột, giằng xé giữa hồn thơ “khao khát tiếng hát giun dế/ không biên tập không kiểm duyệt/… ao ước cái bay chim chóc/ không hộ chiếu không biên giới” với thế giới  mỗi một mình ngồi trong đêm tận “Bắc bán cầu”,  mà vẫn cứ ‘nơm nớp ai rình sau lưng ta”. Hồn thơ ấy “là một khối vàng ròng” chỉ muốn “đổi lấy mấy trời”, nhưng vẫn phải “Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ mảnh này vì con, mảnh này vì vợ/ vì bạn bè và cha mẹ em ta”. Đó là tấn bi hài kịch về sự bất lực thế thảm của thơ khiến “xác mình thối rữa từ từ”, mình đành “tự tháo khớp và mang ra bán”. Và hơn thế, đó là tấn bi hài kịch về sự lạc loài của con người giữa sa mạc cô đơn trong chính tâm hồn mình ở “Thời buổi thị trường mọi việc đều có thể/ có thể nước này mua trọn gói nước kia”. Với đối tượng cảm xúc của nhân vật trữ tình, thì tấn bi hài kịch nằm ở xung đột giữa một bên là cái thây sống ngôn từ vẫn muốn sống để nói những điều giả dối với bên kia là lời nói tái sinh quyệt lật mặt nạ nó, tìm cho nó một cái chết tái sinh.

Chính thơ Nguyễn Duy đã tự gọi ra những dòng cảm xúc như là sự biểu hiện rõ nhất của hai xu hướng cảm hứng chủ đạo nói trên: “Nhắm mắt lại mà nhìn/ thăm thẳm/ yêu và đau/ quằn quại bi hùng”.

Thơ Nguyễn Duy trước hết là xúc cảm tình yêu dành cho“đất nghèo”, “đất cằn”,  dành cho “cát trắng xèo từng giọt đỏ tươi”, dành cho vẻ đẹp của “hạt cát có cái gì bất diệt”, của “linh hồn cát bụi ở miền trong veo”. Tình yêu ấy như là sự hòa quyện của yêu thương, trân trọng và sự cảm thương. Tôi nghĩ, cảm thương là mạch xúc động trữ tình sâu lắng nhất trong thơ Nguyễn Duy. Thơ ông bao giờ cũng man mác một nỗi buồn tuy nhẹ nhàng mà mênh mang tê tái là vì thế. Về đồng buồn: “Bà và mẹ hóa cánh cò, cánh vạc/ ông và cha man mác kiếp trâu cày (…) Ngôi nhà cũ mái nhà xưa khuất bóng/ cỏ áy vàng, bãi tha ma vắng/ lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà”. Về làng buồn: “Ta đi mơ mộng trên đời/ để cha cuốc đất một đời chưa xong”. Về Đò Lèn quê ngoại, cũng buồn “Bà chỉ còn là nấm cỏ thôi”. Ngay cả khi say Thuốc lào, tưởng là lúc khoái trá nhất, hóa ra càng buồn: “Tôi qua lắm núi nhiều sông/ khói ngày xưa ám trong lòng còn cay/ Ngẩng đầu đưa khói vào mây/ nghênh ngang hiền triết điếu cày thăng thiên”.

Thơ Nguyễn Duy cũng là nỗi đau nhân thế  “quằn quại bi hùng”. Lúc cao trào, nỗi đau là khối thuốc nổ hóa thành tiếng gầm gào thống thiết trong Nhìn từ xa … Tổ quốc. Rồi nỗi đau ấy được nén chặt trong con tim rỉ máu, nhất là những khi “Cả trần gian tí tởn/ đón xuân sang tưng bừng (…)‘Cả thành phố như cháy/ lập loè ánh hoả châu/ có một bà bới rác/ nằm co ro gầm cầu/ Cả thành phố như khói/ khét lẹt mịt mờ mây/ có một em điếm ế/ đón giao thừa gốc cây” …

Và như để hòa giải, nỗi đau nhập vào “xẩm ngọng” làm tiếng cười tự trào: “Con ơi cha mắc bệnh thơ/ u ơ ú ớ ù ờ thâm niên/ dở khôn, dở dại, dở điên/ động kinh lè lưỡi thánh hiền làm oai”. Thơ Nguyễn Duy ở các tập Đường xa, Về, Bụi đầy ắp tiếng cười tự trào ứa nước mắt như vậy.

[1] Nguyễn Duy (Thơ), Quê nhà ở phía ngôi sao, Tlđd, tr. 30. +��y�(

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Cảm Nhận Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy / 2023

Vầng trăng dịu mát, sáng trong, vầng trăng huyền diệu tròn đầy tự bao giờ đã trở nên thân thương gắn bó với con người. Nếu Bác kính yêu coi trăng như bè bạn tri âm thì Nguyễn Duy – nhà thơ trưởng thành thời kháng chiến chống Mỹ lại coi trăng là nguồn sáng lung linh để thanh lọc tâm hồn, để ăn năn hối lỗi. Bài thơ “Ánh trăng” (1978)của ông được khơi nguồn từ những cảm xúc chân thành và cao đẹp như thế.

Bài thơ mang dáng dấp như một câu chuyện với lời kể mở đầu tự nhiên,trôi chảy về mối quan hệ gán bó giữa trăng và nhà thơ:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Chỉ bằng 4 câu thơ ngắn Nguyễn Du đã dựng lại được cả thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành,1 không gian thân thương: đồng, sông, bể.Từ không gian đầy ắp kỉ niệm ấy ta nhận ra niềm say mê,sảng khoái của con người trong cái mát lành dịu ngọt ân tình của quê hương qua ánh trăng lai láng trên cánh đồng, dòng sông, bãi biển.Không gian cứ mở rộng mãi ra, bao la bát ngát theo nhịp trưởng thành của con người. Thời gian không ngừng vận động và cậu bé lớn lên từ quê hương ấy đã trở thành chiến sĩ. Khi xa quê, đi vào cuộc chiến, nỗi nhớ thương chợt hiện về quay quắt tâm hồn,lúc này người và trăng lại càng gắn bó _ánh trăng là bạn tri kỉ chia sẻ mọi gian nan thiếu thốn, mọi buồn vui sướng khổ trong những năm tháng chiến tranh của tác giả.NHư vậy là tuổi thơ chớp mắt đã trôi qua.Cái còn lại lúc này là vầng trăng thật đơn sơ,chung thuỷ.

Hai chữ hồi ở câu thơ thứ nhất và thứ 3 làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân. Cái dừng chân giữa ranh giới của ấu thơ và trưởng thành. Ánh trăng soi rọi về quá khứ khiến tiếng nói tâm tình trở nên sâu lắng thiết tha.

Trần trụi giữa thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bè bạn,trăng gắn bó sâu nặng với con người mà không trở lực nào có thể ngăn cách. Những năm tháng con người sống thật nhất với mình, trần trụi,hồn nhiên là khi con người ta trân trọng, đinh ninh một lời thề son sắt “ngỡ không bao gìơ quên,cái vầng trăng tình nghĩa” Từ ngỡ là chiếc cầu nối ngôn từ vừa khép lại thời qua khứ vừa mở ra thời hiện tại tạo nên sự chuyển tiếp cho khổ thơ thứ 3.

Từ hồi về thành phố

Quen đèn điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện cửa gương,với những vật dụng ngày càng hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng.Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ.Là ánh trăng đã khác ánh trăng của ngày xưa?Không! Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng,chỉ có hoàn cảnh sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính họ đã thờ ơ,họ quên đi.Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến như tri kỉ,vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thị nó lại bị lãng quên .Ánh trăng đã đựơc tác giả nhân hoá để gửi gắm suy tư về nhân tình thế thái.Lời thơ so sánh của Nguyễn Duy “vầng trăng đi qua ngõ, như người dưng qua đường” như xoáy vào lòng người một nỗi niềm xót xa nhức nhối,bới sự phản bội ở đây không chỉ với lịch sử,với thiên nhiên mà còn với chính bản thân mình nữa.Cuộc đời như một dòng sông khi duị êm lặng lẽ, lúc cuộn sóng trào dâng,bởi thế cuộc sống thời hiện đại sao có thể êm đềm mãi cho được.

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn_đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn

Trong khoảng khắc thình lình đối diện với vầng trăng,một thời kỉ niệm ân tình ngày xưa ùa về “rưng rưng” sống dậy thổn thức,lay động da diết lòng người Ngửa mặt lên nhìn mặt.

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng

Hai chữ “mặt” trong một câu thơ là hai tấm lòng đang đối diện:mặt trăng và mặt người.Hay chính là con người đang đối diện với chính lòng mình,với cái phần ân tình quá khứ mà mình đã vô tình lãng quên.Có cái gì đó trào dâng lên trong lòng người,rưng rưng,cay xè và giọt lệ như sắp tuôn trào bên hàng mi.Nhà văn Nam Cao đã từng nói rất đúng rằng:”Nước mắt là tấm kính biến hình của vũ trụ” Nước mắt có thể thanh lọc tâm hồn con người, khi nào người ta còn biết khóc là khi họ còn có một trái tim,một tấm lòng để rung động và để yêu thương.Cái tốt lành trong sáng đã hé nở trong hai chữa “rưng rưng” nao lòng người ấy.Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại một không gian tình nghĩa: đồng bể, sông, rừng. Ánh trăng soi rọi tâm hồn, khiến nhà thơ bừng tỉnh”.

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Vầng trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Khổ thơ kết bài của bài thơ là hai vế đối lập mà song song. Đối lập giữa cái tròn đầy vạnh vạnh của vầng trăng là hao khuyết thiếu hụt của kẻ đã vô tâm quên đi quá khứ _cái qua khứ ân tình thuỷ chung mà họ “ngỡ không bao giờ quên”. Đối lập giữa cái im lặng độ lượng của trăng là sự thức tỉnh trong lương tri con người. Đối lập giữa hiện tại và quá khứ.Suy nghĩ của tác giả ở khổ thơ này đã được nâng lên tầm cao triết lí.Nếu ai đó có lúc quên đi những điều thiêng liêng tốt đẹp của quá khứ thì phải có những lúc giật mình tỉnh thức trong hiện tại mới mong đạt được những ân nghĩa tốt lành ở tương lai.Bởi đó là chân lí đã trở thành đạo lí của người Việt ta:”Uống nước nhớ nguồn”.

“Ánh trăng” nhẹ nhàng,trong sáng về câu chữ,tự nhiên, thuần thục về kết cấu,bình dị, dễ hiểu về ý thơ,tha thiết trong giọng điệu.Bài thơ đã đem đến cho người đọc một bài học sâu sắc:con người cần sống có trước có sau,có tình có nghĩa để không bao giờ phải giật mình day dứt về những năm tháng vô tình hờ hững đã qua.Dù XH ngày càng văn minh, hiện đại nhưng ánh trăng trên trời cao và cả ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn thật sự cần thiết với mỗi con người bởi nó là tấm gương sáng nhất giúp chúng ta soi vào để nhận ra những gì trong lành tinh khôi nhất của cuộc đời.Vầng trăng soi sáng những tâm hồn vô tình lãng quên.

Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 2

Nguyễn Duy sinh năm 1948, quê ở Thanh Hóa. Ông là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến, ông có nhiều sáng tác nghệ thuật tiêu biểu là bài thơ ” Ánh Trăng” sáng tác năm 1978. Sau 3 năm, kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi. Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở về một thái độ ” uống nước nhớ nguồn” và sống một cách thủy chung, tình nghĩa.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng lị thành tri kỉ.”

Hồi tưởng về vầng trăng tuổi thơ và vầng trăng về chiến tranh. Điệp từ ” Hồi, với” cách gieo vần vào đặc sắc trăng gắn bó với con người. Từ hồi ấu thơ, dù đu đâu trăng cũng bên cạnh. Lớn lên xa gia đình quê hương tham gia kháng chiến. Trăng và người là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi đồng kham cộng khổ.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.”

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng khẳng định tình cảm yêu thương quí trọng của mình với trăng. Vầng trăng hiện lên với vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hòa vào thiên nhiên. Vì vậy, vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy trở thành vầng trăng tình nghĩa. Nghĩa là trăng và người không những là những người hiểu nhau mà cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng kham cộng khổ. Từ ” ngỡ” trong bài thơ diễn tả sự ngỡ ngàng nhưng khẳng định một lần nữa tình trăng và người.

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường. “

Lời thơ như kể, môi trường sống thay đổi, con người cũng đổi thay. Dần dần cái vầng trăng tình nghĩa bị lẵng quên – Trăng hoàn toàn xa lạ. Trăng được nhân hóa, so sánh và thành người dưng. Vầng trăng tình nghĩa của ngày xưa không còn, thậm chí còn đáng trách hơn chỉ là người khách qua đường xa lạ. Bỏi tình cảm con người đâu còn son sắc thủy chung? Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhớ nhau ” Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”.

Tình huống đời thường xảy ra.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.”

Các từ vội, đột ngột gợi ra tâm trạng đột biến của con người để gợi ra sự thật. Tác giả không đơn thuần nói về hình ảnh trăng tròn mà muốn nói sự tràn đầy tình nghĩa của nhau. Trăng vẫn thủy chung, trang trọng với người bạn năm xưa.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng”.

Hiện tại đối mặt với vầng trăng. Người ngắm trăng suy ngẫm bâng khuâng, diễn tả nỗi xúc động đến không nói thành lời. Tình cảm dường như nén lại nhưng cứ trào ra đến thổn thức, xót xa. Cấu trúc thơ song hành cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp từ, nhịp thơ hối hả. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp ùa về khi tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên với vầng trăng xưa, với đồng với bể với sóng với rừng. Đồng thời vầng trăng cũng nhắc nhở con người đừng bao giờ quên năm tháng ấy, tình bạn, đồng chí, đồng đội…

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình… “

Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo. Nơi tập chung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, thể hiện chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm. Khổ thơ khép lại bằng hai vế đối lập và song song. Trăng cứ tròn vành vạnh như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. Trăng tượng trưng cho nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm không thể quên. ” Ánh trăng im phăng phắc” là nhân chứng nghĩa tình nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và chúng ta. Con người có thể vô tình lẵng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình quá khứ đều tràn đầy bất diệt. Sự giật mình để đổi thay trở về. Trở về với chính mình, tốt đẹp xưa kia. Đó là những giật mình để hoàn thiện hơn.

Bài thơ ” Ánh trăng” của Nguyễn Duy gây xúc động với nhiều thế hệ bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự nhắc trân thành. Giọng thơ trầm tĩnh sâu nắng, tứ thơ bất ngờ mới lạ. Bài thơ mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải giật mình suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 3

Trăng hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như ” Tĩnh dạ tứ ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, ” Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.

Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.

Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:

Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ ” với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.

Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:

Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn – vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:

Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. VàØ rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc ngươiø lính phải đối mặt:

Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!

Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người. Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:

Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.

“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.

+127 Bài Thơ Nguyễn Duy Hay Nhất Của Nhà Thơ Nguyễn Duy / 2023

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

cái năm đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

khi tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

Đánh thức tiềm lực

Tiễn đưa anh S.D. đi làm kinh tế

Hãy thức dậy, đất đai!

cho áo em tôi không còn vá vai

cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…

xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm

rồi thì đi xa hơn – đẹp, và giàu, và sung sướng hơn

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non

châu báu vô biên dưới thềm lục địa

rừng đại ngàn bạc vàng là thế

phù sa muôn đời như sữa mẹ

sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể

còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?

lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?

***

Lúc này ta làm thơ cho nhau

đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt

ta ca hát quá nhiều về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi lớn lên bên bờ bãi sông Hồng

trong màu mỡ phù sa máu loãng

giặc giã từ con châu chấu, con cào cào

mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào

trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc

giọt mồ hôi nào có gì to tát

bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông

bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng

thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi

khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi

hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai

đói thâm niên

đói truyền đời

điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói…

***

Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng

một bên là Trường-Sơn-cây-xanh

bên còn lại Trường-Sơn-cát-trắng

đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng

cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi

ngọn cỏ nhọn thành gai mà trốn không khỏi úa

đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ

cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi!

Hạt giống ở đây chết đi sống lại

hạt gạo kết tinh như hạt muối

cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời

***

Tôi về quê em – châu thổ sáng ngời

sông Cửu Long giãn mình ra biển

đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển

cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi

Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt

lòng còn chát chua nào mặn nào phèn

má sung sức và ba cường tráng thế

man mác âu sầu trong câu hát ru em

Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm

những đồng lúa ma không trồng mà gặt

những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt

những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật

miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!

Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi

đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện

con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng

thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển

phà Cần Thơ lê lết người ăn xin

cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ

quán nhậu lai rai – nơi thừa thiếu trốn tìm

***

Này, đất nước của ba miền cày ruộng

chưa đủ no cho đều khắp ba miền

ta ca hát quá nhiều về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên…

***

Lúc này tôi làm thơ tặng em

em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?

vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì

và trả lại được gì cho cuộc sống?

Em có nghĩ tôi là con chích choè ăn và gại mỏ?

Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?

Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ đục đẽo nát cả giấy

múa võ bán cao trên trang viết mong manh?

tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh

tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc

Em có nghĩ…

mà thôi!

***

Xin em nhìn kia – người cuốc đất

(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)

cái cuốc theo ta đời này, đời khác

lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi

dướn mình cao

chĩa cuốc lên trời

bổ xuống đánh phập

đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất!

Xin em nhìn – người gánh phân, gánh thóc

(tôi cũng từng mòn vai gánh phân, gánh thóc)

kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng

đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!

Những cái đẹp thế kia… em có chạnh lòng không?

cái đẹp gợi về thuở ngày xưa ngày xửa

nhịp theo tiết tấu chậm buồn

cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa!

Em có chạnh lòng chăng

giữa thành phố huy hoàng bạt ngàn quán nhậu

bỗng hiện lù lù cái xe hơi chạy than

vệt than rơi toé lửa mặt đường

Em có chạnh lòng chăng

xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang

xích lô máy và xe lam chạy dầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc

người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo

quen cái thói hay nói về gian khổ

dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất

bãi tha ma không một cái mả xây

mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít

lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất

chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai

thầy giáo giảng rằng

nước ta giàu lắm!…

lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài

***

Lúc này

tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa

ta biết buồn để biết lạc quan

và, để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con

(dù sau này dầu mỏ đã phun lên

quặng bô-xít cao nguyên đã thành nồi thành soong

thành tàu bay hay tàu vũ trụ…

dù sau này có như thế… như thế… đi nữa

thì chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)

rằng

đừng quên đất nước mình nghèo!

Lúc này

tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa

tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh

sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng

trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh

vẫn trang trọng tấm lòng trung thực

dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước

dù có sao thì cũng phải chân thành

Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành

để khôn lớn ta hát bài đánh thức

có lẽ nào người lớn cứ ru nhau

ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt

***

Tiềm lực còn ngủ yên

trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng

Tiềm lực còn ngủ yên

trong bộ óc mang khối u tự mãn

Tiềm lực còn ngủ yên

trong con mắt lờ đờ thuỷ tinh thể

Tiềm lực còn ngủ yên

trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ

Tiềm lực còn ngủ yên

trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm

Tiềm lực còn ngủ yên

trong lớp da biếng lười cảm giác

Năng động lên nào

từ mỗi tế bào, từ mỗi giác quan

cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi

***

Cần lưu ý

lời nói thật thà có thể bị buộc tội

lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương

đạo đức giả có thể thành dịch tả

lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường

Cần lưu ý

có cái miệng làm chức năng cái bẫy

sau nụ cười là lởm chởm răng cưa

có cái môi mỏng rát hơn lá mía

hôn má bên này bật máu má bên kia

có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa

khái niệm bắn ra không biết lối thu về

Cần lưu ý

có lắm sự nhân danh lạ lắm

mượn áo thánh thần che lốt ma ranh

nhân danh thiện tâm làm điều ác đức

rao vị nhân sinh để bán món vị mình

Cần lưu ý

có lắm nghề lạ lắm

nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau

nghề chửi đổng, nghề ngổi lê, nghề vu cáo

nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào

có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả

thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…

Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy

phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê

***

Tôi muốn được làm tiếng hát của em

tiếng trong sáng của nắng và gió

tiếng chát chúa của máy và búa

tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai

tiếng trần trụi của lưỡi cuốc

lang thang

khắp đất nước

hát bài hát

ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…

Hơi ấm ổ rơm

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm

Bà mẹ đón tôi trong gió đêm

– Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ

Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ

Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm

Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng

Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm

Của những cọng rơm xơ xác gầy gò

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no

Riêng cái ấm nồng nàn như lửa

Cái mộc mạc lên hương của lúa

Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.

Tiếng hát mùa gặt

Lúa chín

Đồng chiêm phả nắng lên không

Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

Gặt lúa

Tay nhè nhẹ chút người ơi

Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng

Dễ rơi là hạt đầu bông

Công một nén, của một đồng là đây

Tuốt lúa

Mảnh sân trăng lúa chất đầy

Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình

Rơm vò từng búi rối tinh

Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi

Phơi khô

Nắng non mầm mục mất thôi

Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn

Nắng già hạt gạo thêm ngon

Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho

Quạt sạch

Cám ơn cơn gió vô tư

Quạt đi vù vù rác rưởi vương rơi

Hạt nào lép cứ bay thôi

Gió lên cho lúa sáng ngời mặt gương!

Đông Vệ – vụ chiêm 1971

Vườn cây của ba

Má trồng toàn những cây dễ thương

Nào là hoa, là rau, là lúa

Còn ba trồng toàn cây dễ sợ

Cây xù xì, cây lại có gai

Cái gai bưởi đụng vào thì chảy máu

Trái sầu riêng rớt xuống thì đầu u

Nhựa hột điều dính vào là rách áo

Cây dừa cao eo ơi, cao là cao

Cây ba trồng sống lâu thiệt là lâu

Mưa chẳng dập gió lay chẳng đổ

Thân xù xì cứ đứng trơ trơ

Cành gai góc đâm ngang tua tủa

Bưởi, sầu riêng, dừa, điều nhiều nhiều nữa

Cho em bốn mùa vị ngọt hương thơm

Vườn của ba cây trồng thì dễ sợ

Mà trái nào cũng thiệt dễ thương.

Đà Lạt một lần trăng

Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng

ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi

tiếng móng ngựa gõ ròn trên dốc vắng

nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi

Em nhóm bếp bằng củi ngo chẻ nhỏ

ngọn lửa lấp đi khoảng vắng giữa hai người

tôi lơ đãng nhìn em nhìn lơ đãng

siêu nước pha trà vừa ấp úng sôi

Em biết chứ, chả ai lơ đãng cả

hòn than kia đang đỏ đến hết lòng

mà ngọn lửa cứ giả vờ le lói

mùi nhựa thông theo sợi khói đi vòng…

Được yêu như thể ca dao

Bao giờ cho tới ngày xưa

yêu như các cụ cho vừa lòng ta

cái thời chưa nhiễm SIDA

yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa

Ðược yêu như các cụ xưa

cũng trăng gió cũng mây mưa ào ào

được yêu như thể ca dao

đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời

Tây Tàu cũng thế thì thôi

y chang cay đắng ngọt bùi khổ đau

không trầu mà cũng chẳng cau

làm sao cho thắm môi nhau thì làm.

Ải Chi Lăng

Ải Chi Lăng! Ải Chi Lăng!

lưỡi gươm đẫm máu Liễu Thăng thuở nào

gập ghềnh lũng thấp đồi cao

vũng lầy thành ruộng đã bao nhiêu mùa

Chập chờn trận mạc xa xưa

quân reo ngựa hí gươm khua dậy trời

thịt xương xưa hoá đất rồi

nợ xưa còn để nặng đời sau ư?

Gió trên vách đá ù ù

nghe tù và dội xuống từ cao xanh…

Bán vàng

Tâm hồn ta là một khối vàng ròng

Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ

Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ

Vì bạn bè và cha mẹ em ta.

Giữ ngọc gìn vàng biết mấy công phu

Ta giàu lắm mà con ta đói lắm

Ta ngất ngưởng mà vợ ta lận đận

Cha mẹ ta trong lụt bão trắng trời.

Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi

Để mặc kệ mái nhà xưa dột nát

Mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác

Mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao.

Ta rất gần bể rộng với trời cao

Để xa cách những gì thân thuộc nhất

Nồi gạo hết lúc nào ta chả biết

Thăm thẳm nỗi lo, mắt vợ u sầu.

Viên thuốc nào dành để lúc con đau

Vợ nằm đó xoay sở mần răng nhỉ ?

Cơn họan nạn bỗng làm ta tỉnh trí

Ngọn gió tha hương lạnh tóat da gà.

Cái ác biến hình còn lởn vởn quanh ta

Tai ách đến bất thần không báo trước

Tờ giấy mong manh che trở làm sao được

Một câu thơ chống đỡ mấy mạng người.

Lương tháng thỏang qua một chút hương trời

Đồng nhuận bút hiếm hoi gió lọt vào nhà trống

Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm

Không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con.

Con chưa sinh mặt vợ đã xanh rờn

Bàn tay trắng lạnh lùng tàn nhẫn thế

Hạnh phúc lớn, vòng tay ôm không xuể

Chuyện miếng cơm manh áo thật đau lòng.

Thôi thì…bán bớt đi một ít vàng ròng

Để sống được qua ngày gian khổ đã.

Phải sống được qua cái thời nghiệt ngã

Để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời.

Đá ơi

Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát

đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi

xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình

Nghĩ cho cùng

Mọi cuộc chiến tranh

Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

Kim mộc thuỷ hoả thổ

I.

Quả đất nóng dần lên

tầng ôzôn có vấn đề gì đó

Sọ dừa gặp vấn đề trì trệ

tri thức nhồi vào tri thức cứ phòi ra

Mắt vấn đề toét tai vấn đề ù

bất an vấn đề giấc ngủ

Sâu rầy đang vấn đề cánh đồng

rừng cây vấn đề cháy và trụi

Nón hành khất ngã vấn đề xó chợ

trẻ lang thang vấn đề bụi đời

Lổn nhổn hành tinh vấn đề đẻ và đói

chiến trận tuôn vấn đề đỏ lòm.

*

Chó cứ sủa người cứ đi

những con đường đầy vấn đề ổ gà

Những nhịp cầu chông chênh quá tải

vấn đề nay mai sập bất cứ lúc nào

Những giống người tham gặm nhấm cả trời đất

vấn đề ngày kia thiên nhiên ăn thịt tuốt

Vấn đề nước cầm đầu lũ lụt

vấn đề lửa thủ phạm hoả hoạn

Khủng hoảng thiếu thần linh

Khủng hoảng thừa yêu quái

Ðại loạn thay cái thiên hạ rắc rối

vấn đề tầng ôzôn cả thôi .

II.

Lục bục bụng dạ sôi

ruột gan vấn đề gì đó

Nghe chừng lục phủ ngũ tạng đều cọt kẹt

sida giác quan? ung thư toàn thân?

Không thể nói rằng ta bất cần

ta cần sống và cần đủ thứ

Cần dinh dưỡng cần khí thở

cần giấc mơ nõn ngọn rau xanh

Cần phút lặng thinh mặc niệm những mối tình quan họ

những người tình không giao phối bao giờ

*

Thất xà ngóc cổ trong hũ rượu

nọc rắn tuần hoàn bổ âm bổ dương

Ðộc trị độc nhộn nhạo huyết quản

lúc nhúc hổ mang khè hang hốc xương

Gần đây ta ngài ngại đi ra đường

dù chả để làm gì ta muốn ngồi một mình

Vu vơ một mình trống rỗng một mình

ta sờ sợ nơi nào nhiều khôn vặt ít thông minh

Ta nhờn nhợn cái há mồm vĩ nhân tôm cá

khạc đủ đồ nghề thằng nọ con kiạ

Ta mặc cảm cái bóng đèn điện không có điện

lủng lẳng trần nhà thường làm ta giật mình

Ta ngan ngán bóng quan hoạn gỉa thiến gỉa đạo

vừa ăn hoa hồng vừa xơi hoa đào

Những phường buôn cứt bán chó

nợ khó đòi thì làm gì nào

Những bất ổn đầy rẫy

thì đã sao ? thì làm sao ?

Có người thách ta đánh nhau

ta bảo ta yếu rồi ta lại không có võ

Có kẻ thách ta chửi nhau

ta bảo ta vừa bị mất trộm cả sọt từ ngữ

Có đứa thách ta nhổ vào mặt nó

ta bảo ta hết đờm rồi .

*

Ta chúi mữi hà hơi lên trang bản thảo

hô hấp nhân tạo những con chữ khó thở

Ta khao khát tiếng hát giun dế

không kiểm duyệt không biên tập

Ta ao ước cái bay chim chóc

không hộ chiếu không biên giới

Chó già giữ xương mèo già hoá cáo

ta già ta hoá trẻ con

Thiêng liêng thay khoảng lặng cô đơn

người hoá thánh chỉ khoảng khắc ấy

III.

Nóng quá trằn trọc quá

tầng ôzôn có vấn đề gì đó

Quạ cũ kêu sương ươn ướt dĩ vãng

tiếng cú rạch trời rơi từng giọt bầm đêm

Giấc mê mệt thiêm thiếp chiêm bao trắng

loạng quạng ma nhảy nhót trước thềm

Thử nhập đồng khúc tăng gô quỉ

chợt thấy mình thối rữa từ từ

Kèn trống rỗng mọc móng mọc vuốt

gầm gừ đèn lân tinh nhờ nhợt

Ú ớ mồ hôi

chân lỡ nhảy — phải nhảy — cứ nhảy …

*

Bước nhảy nảy tư duy thị trường

kinh doanh xác mình dù giá thậm rẻ mạt

Quạ có mua ta bán trọn gói

hoặc bán từng phần trước khi thối rữa hết

Cú có mua ta chấp nhận hạ giá

chấp nhận cho trả góp từng phần

Như kiểu bán từng phần rừng-bể-núi-sông

từng khúc ruột đất từng mẩu mặt

bằng từng miếng địa ốc

Thời buổi thị trường mọi việc đều có thể

có thể nước này mua trọn nước kia

Có thể lập những tập đoàn siêu quốc

những quốc gia mất nước từng phần

Cái xác ta thì có nghĩa lý gì

ta tự tháo khớp và tự bán

*

Chuyện xưa ông lão kiết dạy con:

‘Khi cha chết xả xác cha mà bán …’

Ta thì phải tự tay làm lấy

sợ các con chia chác không đều

Tự đọc điếu văn soạn sẵn vĩnh biệt mình

tự giải thoát một thời mộng mị

Cuốn gói hồn đi kinh tế mới vầng trăng

cấy lúa trồng khoai Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ

Ta đi đây … kinh tế mới vũ trụ

vượt tầng ôzôn đang có vấn đề

IV.

Ngôi sao xa xôi bất ngờ đổi ngôi

ánh sao băng chợt đọng đẫm hố mắt

Ngọn gío thông thường lay ta tỉnh giấc

khí thở thông thường thoi thóp lại ta rồi

Ta bịch về mặt đất bất ổn

nhố nhăng đến chết nết không chừa

Lại lục bục bụng sôi

lại ruột gan vấn đề gì đó

Lại thừ nhớ những mối tình quan họ

những người tình không giao phối bao giờ

Lại đi đưa những đám ma từ ngữ

xác chữ chôn đầy nghĩa địa giấy vô hình

Lại khốn khổ với sọ dừa trì trệ

nhồi tri thức vào tri thức cứ phòi ra

Lại càu nhàu quả đất nóng dần lên

nghi tầng ôzôn có vấn đề gì đọ

V.

Ta lững thững xách sọ dừa đi chợ

tìm chú vịt tàu lai thím vịt xiêm

Ẩn sĩ Lêguym toạ thiền giữa chợ

gia vị ê hề những chua chát đắng cay

Những quàng quạc đành đạch âm nhạc

những cua ốc nghêu sò nguồn thi hứng tràn đầy

Những cuốn muống non ròng ròng ứa nhựa

oái oái khoái cái roi rói chợ

Cứ thế bình tâm cân bằng dần các thứ

ngà ngà say men chợ thường ngày

Cứ phảng phất thơm chùa những hồng hào má

những thắm cười tươi như hoa nhà ai

cứ ấn tượng bàn tay bậc thầy mổ cá

bái phục giáo sư vặt lông vịt thiên tài

Tiết vịt sống hài hoà lòng vịt chín

món tiết canh thần tiên lấp lỗ hổng sọ dừa

*

Vào cuộc nhậu có kẻ rất sợ tiết

dù ở đời họ máu tiết canh nhau

Thì làm sao

thì làm gì nào

Thì ta thi tài với con nít lối xóm

cờ tướng cờ vua cờ ngựa cờ ô …

Và chơi lại trò xưa đơn giản như là không có gì

ván âm dương Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ

Năm ô cờ sắp xếp cả thiên hạ

ngồi xổm chơi hay bệt đất thì tuỳ

Và nghêu ngao lõng thõng hò vè

Và chơi lại trò xưa đơn giản như là không có gì

ván âm dương Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ

Năm ô cờ sắp xếp cả thiên hạ

ngồi xổm chơi hay bệt đất thì tuỳ

Và nghêu ngao lõng thõng hò vè

giun dế du dương ễnh ương đắm đuối

Và ngạo nghễ khúc đồng dao nhăng cuội

lời trẻ con phấp phới ngũ hành kỳ.

Lên mặt trận, ngày đầu…

Lên xứ Lạng

chưa thấy thành Tiên Xây

đâu chùa Tam Thanh

đâu nàng Tô Thị…

Quân giặc tràn qua đèo Hữu Nghị

Đồng Đăng thất thủ rồi

pháo Bằng Tường giội sang xối xả

dằng dặc giòng người sơ tán đổ về xuôi

Lẫn lộn người Kinh, người Tày, người Dao

nào gánh, nào xe, nào gùi, nào vác

hiển hiện những ngày xưa loạn lạc

biên ải xưa giặc giã mới tràn vào

những gương mặt nghìn năm đanh sắt lại

máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới

vẫn mới cả nón mê cả áo vá chân trần…

Miếng cơm ăn cát bụi bên đường

giấc ngủ ngồi che hờ tàu lá chuối

ngôi nhà không bỏ trống sau lưng

đàn trâu lang thang lũ gà con xao xác

lũ trẻ con mắt tròn ngơ ngác

chân trẻ con lũn cũn chạy như đùa

Trẻ con trên ôtô trên xe trâu xe thồ

trẻ con trên lưng trẻ con trên tay

trẻ con lon ton níu váy níu áo

đòn gánh nữa kìa kẽo kẹt nghiến trên vai

một đầu gánh là trẻ con còn đầu kia là nồi là gạo

mắt trẻ con cứ tròn thao láo

như hòn sỏi ném theo đoàn quân đi…

Bao lứa trẻ từng lớn lên như thế

gặp lũ trẻ con nay bắt gặp tuổi thơ mình

gặp tuổi thơ của em

gặp tuổi thơ của anh

gặp lại cả mấy thời chạy loạn

thời là tản cư thời là sơ tán

gian nan xưa cứ tưởng đã cũ rồi!

Quân đi, quân đi

ngược lên biên giới

có cái nhìn như sỏi ném sau tôi…

Nét và hình

(Tặng Trịnh Công Sơn)

Nét và hình chẳng riêng ai

em – thần nhan sắc trời sai giáng trần

đừng hà tiện dáng thanh xuân

em chia cái đẹp nhớ phần cho tôi

Chia dư đẹp vẫn không vơi

chia không hết đẹp ông trời lấy đi

hình và nét cũng có thì

cất làm chi dấu làm chi của trời

Không em đời cứ đẹp thôi

có thêm em nữa nên đời đẹp thêm

thêm chút sang bớt chút hèn

nhìn em thôi – cảm ơn em rất nhiều

Yêu bằng mắt cũng là yêu

cõi đời đẹp đủ lieu xiêu cõi mình

tim tôi quen đập thùng thình.

Nhớ bạn

Ta về xứ Huế mưa sa

Ta về xứ Huế chiều mưa

Em ơi áo trắng bây giờ ở đâu.

Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu

Em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi

Lối mòn đá cuội rong chơi

Lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ.

Lan báo hỉ nở tình cờ

Bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương Giang

Chợ chiều Bến Ngự chưa tan

Ai đi ngược dốc Phủ Cam một mình.

Từ hồi trót nói lời thương

Cuộc vui gió cuốn để buồn cho em

Lằng nhằng những nợ những duyên

Những ngày thắc thỏm những đêm đợi chờ

Thiên đường xếp xó giấc mơ

Ngôi sao thơ ấu bơ vơ xó trời

Đôi khi nhạt miệng buồn cười

Biết rằng nhoẻn nụ đười ươi cũng buồn

Thất tha thất thểu văn chương

Kẽo cà kẽo kẹt tai ương đường dài

Yêu cùng ai ghét giùm ai

Để cơm áo vẹo hai vai em gầy

Nợ nần chưa trả đã vay

Chim muông trả vía cỏ cây trả hồn

Trả cho mơ chút thiên đường

Trả cho nhau chút xót thương luân hồi

Xin đừng buồn nữa em ơi

Trả cho sao một chút trời xa xăm.

Bức tranh của tôi

Tường nhà tôi thường treo nhiều tranh

Đẹp nhất vẫn là bức tranh màu xanh

Cửa sổ

Khói trắng dăng dăng ngang tầm thành phố

Dãy núi lam sương, cánh đồng biếc mạ…

Và rung rinh vài nhánh cây, chùm quả

Cùng với những gì gọi là cuộc đời

Tất cả dẵm trên nền vĩnh cửu: bầu trời

Bức tranh màu xanh tôi thường say ngắm nhất

Mỗi tia sáng làm đổi thay màu sắc

Mỗi hạt mưa, làn sương, cánh chim

Đã khảm vào tôi từ thuở biết nhìn

Và phác trong tôi bao đường nét bình yên

Rồi một sáng tôi nghe lời bức tranh đằm thắm:

“- Anh không thể chỉ đắm say đứng ngắm

Anh phải là một nét vẽ dẫu đơn sơ”

Ngủ trong rừng cao su

Mắc võng ngủ nhờ rừng cây cao su

Quấn thêm cỏ vào dây cho cây không trớt vỏ

Giấc ngủ đến nhoè rừng, vẫn nhớ

Giữ nguyên lành dòng nhựa trắng cho cây.

Mảnh gương

Phá ấp – cô gái về làng cũ

Kỷ niệm tuổi thơ – hố bom nuốt chửng rồi

Dấu vết tình yêu – hố bom nuốt chửng rồi

Năm ngoái người con trai trốn giặc càn vét lính

Không biết bây giờ đang ở đâu?

Cô gái vội vàng ra vườn cau

Cái giếng…

Cái giếng vườn cau đã vỡ!

Nhưng

Rất sâu trong lòng gương của nó

Vẫn tỏ một tấm hình – chỉ mình cô thấy thôi

Cũng rất sâu trong lòng gương vỡ đó

Cô gái soi thấy rõ

Gương mặt mình và màu xanh của trời.

Ngã ba – con mắt – tấm lòng

Tặng La Thị Tám – cô gái đếm bom trên ngã ba Đồng Lộc

Ngã ba dưới chân em

Đất phơi lòng đỏ, lòng đen

Khói bụi trộn đêm vào ngày

Lửa loé trộn ngày vào đêm

Hòn đá lăn ngược lên núi…

Vẫn từng đoàn, từng đoàn xe qua

Và bóng em vươn cao, trông xa

Điểm mặt quân thù đếm từng tội ác

Không một trái bom rơi ra ngoài mắt

Trăm trái bom không rơi ra ngoài mắt

Ngàn trái bom không rơi ra ngoài mắt

Trong mắt em: con đường thẳng đi xa

Vui rộn ràng từng đoàn xe qua

*

– Giữa ngã ba tròng trành sao em đứng vững?

– Bởi mắt em chỉ một tầm nhìn thẳng

Lòng em chỉ một con đường!

Về thăm nhà Bác

Sáng mai tôi đi xa

Chiều nay tôi về thăm nhà Bác

Ngõ nhà Bác đỏ hàng bông bụt

Không khác chi hàng bông bụt trước nhà tôi

Vườn Bác xanh luống lạc luống khoai

Giống mọi mảnh vườn trồng khoai trồng lạc

Tám cây cau đằng sau nhà Bác

Cũng gầy gò như mọi cây cau

Mái nhà lợp bằng lá mía trắng phau

Như mọi mái nhà lợp bằng lá mía

Mảnh đất làm nhà bốn phương về ngắm nghía

Là mảnh đất làm nhà có ở khắp bốn phương

(Mọi cái ở đây đều rất bình thường

Như bộ quần áo nâu Bác mặc

Như đôi dép cao su của Bác

Đôi dép mọi người Việt Nam cùng đi)

Nắng chiều nay vẫn cái nắng lầm lì

Như cái nắng mọi khi ủ luống cày phơi ải

Gió chiều nay vẫn tung tăng thoải mái

Như cơn gió mọi khi chạy sải trên đồng

Và lòng tôi chiều nay thanh thản lạ lùng

Như mọi khi tôi sang nhà ông nội

Cùng đoàn khách tham quan từ trăm nơi tới

Tôi soi mình trong mỗi vật đơn sơ

Ngắm ảnh Bác trên liếp gỗ giữa nhà

Tôi thấy Bác gần hơn bao giờ hết

Ngôi nhà lá chiều nay thân thiết

Cùng tôi đi vào ngày mai.

Ám ảnh cát

Bom đạn đỏ một mùa hè Quảng Trị

cát trắng xèo từng giọt máu rơi

dây dưa ếch bò toài qua lửa

quả mát thầm dẫu lá cháy quăn rồi

Một người mẹ bồng trái dưa trọc lốc

tóc xoã xô cát bạc dợn trên đầu

con hy sinh xác dạt bến nước

dân táng thờ linh miếu nhỏ bên cầu

Mười năm sau… mẹ vẫn dưa ếch

cát vẫn rang dây lá vẫn bò toài

mẹ đi chợ nửa đường đứt gánh

trái dưa lăn tròn lông lốc lăn hoài

Mười lăm năm… kiệt khô lá héo

chợ bờ sông mụ hành khất điên cười

con chết trẻ làm thần liệt sỹ

mẹ sống già làm ma giữa đời

Gió rờn rợn một mùa hè ám ảnh

cát trắng xèo từng giọt đỏ tươi…

Đôi nét về tiểu sử nhà thơ Nguyễn Duy

Tiểu sử sự nghiệp

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ (sinh ngày 07/12/1948) tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa). Năm 1965 ông làm tiểu đội trưởng của tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực Cầu Hàm Rồng. Đây được biết đến làm một trong những điểm đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh tại khu vực Thanh Hóa của Việt Nam.

Đến năm 1966 ông bắt đầu nhập ngũ và trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin và tham gia chiến đấu ở nhiều mặt trận. Sau chiến dịch biên giới phía Bắc năm 1979 ông giải ngũ và làm việc tại Tuần báo Văn Nghệ Hội nhà văn Việt Nam.

Nguyễn Duy đã theo con đường làm thơ từ rất sớm, khi ông còn đang là một học sinh trường cấp 3 Lam Sơn. Ông được coi là một trong những cây bút tài hoa không chỉ bởi ở ngôn ngữ thơ mà còn ở hình tượng sáng tác gợi cảm, chân quê.

Năm 1973, nhà thơ Nguyễn Duy đã đạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Tre Việt Nam. Ngoài thơ, ông còn viết nhiều tiểu thuyết và bút ký.

Năm 2007, nhà thơ Nguyễn Duy được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.

Những sáng tác của nhà thơ Nguyễn Duy

Thơ

Cát trắng (1973), 50 bài thơ Ánh trăng (1978), 33 bài thơ Đãi cát tìm vàng (1987), 38 bài thơ Mẹ và em (1987) Đường xa (1989), 19 bài thơ Quà tặng (1990) Về (1994), 49 bài thơ Sáu và Tám (tuyển thơ lục bát, 1994) Tình tang (1995) Vợ ơi (tuyển thơ tặng vợ, 1995) Bụi (1997), 49 bài thơ Thơ Nguyễn Duy (2010, tuyển tập những bài thơ tiêu biểu nhất của ông) Quê nhà ở phía ngôi sao (2017) Tuyển thơ lục bát (2017)

Thể loại khác

Em-Sóng (kịch thơ, (1983) Khoảng cách (tiểu thuyết, 1986) Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký, 1986) Tôi thích làm vua (ký, 1988)

Thành tựu nghệ thuật

Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm vì thế cứ ngấm vào người đọc và trong cái đà ngấm ấy có lúc khiến người ta phải giật mình suy nghĩ, nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích: Tre Việt nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đò Lèn, Sông Thao,…. Ông được đánh giá cao trong thể thơ lục bát, một thể thơ có cảm giác dễ viết nhưng viết được hay thì lại rất khó. Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách hiện đại, câu thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ. Nguyễn Duy được giới phê bình đánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này. Bài thơ Tre Việt nam của ông đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt nam.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói như sau: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó.”  Ông giành giải Mai Vàng năm 1997 cho tuyển tập thơ Bụi.

Cảm Nhận Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Tác Giả Nguyễn Duy / 2023

Đề bài: Cảm Nhận Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Tác Giả Nguyễn Duy

Bài làm

Bài thơ “Ánh trăng” được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978 và được đưa vào tập thơ “Ánh trăng. Tập này đã được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Cuộc đời của mỗi con người dù đi đâu về đâu cũng không bao giời xa vầng trăng tình nghĩa. Chỉ có con người có lúc lãng quên trăng, chứ trăng bao giờ cũng ở bên người, sẵn sàng cùng người sẻ chia tâm sự. Chính vì thế, đối với ai trăng cũng sẵn sàng làm tri kỉ. Đối với Nguyễn Duy cũng vậy:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

Khổ thơ thứ hai là tiếng lòng hoài niệm về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên đất nước bình dị, hiền hậu:

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Vì tâm hồn người chiến sĩ vô tư hồn nhiên trải lòng ra với thiên nhiên nên không gì ngăn cách được. Con người lúc bấy giờ, cuộc sống lúc bấy giờ chân thật, vô tư, không lọc lừa, không có những toan tính mà sống tự nhiên “hồn nhiên như cây cỏ”, coi thiên nhiên là nhân vật, là con người. Vầng trằn là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành “vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” ngỡ không bao giờ có thể quên. Một ý thơ lay động tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: “ngỡ không bao giờ quên”. Từ “ngỡ” như một điểm nhấn, mang tính dự báo là sẽ quên, trong đó như có lời tác giả tự trách mình…

“Từ hồi về thành phố

quen với ánh điện của gương

vầng trăng đi qua ngõ

như vầng trăng qua đường”

Ở thành phố đầy đủ tiện nghi vật chất, ở buyn đinh cao ốc, quen với ánh điện cửa gương, hoàn cảnh sống đã thay đổi con người cũng dễ đổi thay, có lúc trở nên vô tình, có kẻ trở thành “ăn ở bạc”. Cuộc sống hiện tại chói lòa ánh điện đã làm lu mờ ánh sáng hiền dịu của vầng trằn. Trăng đươc nhân hóa đi qua ngõ mà như người dưng qua đường. Tác giả xây dựng hai hình ảnh đối lập giữa vầng trăng tri kỉ của quá khứ với vầng trăng với vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả sự đổi thay trong tình cảm của con người. Trước bao vinh hoa phú quý, người ta có thể phản bội lại chính mình, thay đổi tình cảm với nghĩa tình đã qua. Và đó cũng là một quy luật của cuộc sống tình cảm của con người. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã có lần viết:

“Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao nào thấy núi đồi nữa chăng

Phố đông còn nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”

Trăng đâu cao xa, trăng gần gũi, thân thương, trăng là nghĩa tình, là tri kỉ, không bao giờ phản bội. chỉ có con người hờ hững với trăng. Nguyễn Duy tự vấn, tự trách mình vô tình, coi trăng như “người dưng qua đường”.

Kết cấu của bài thơ có chút kịch tính khi chuyển qua khổ thứ tư gây bất ngờ, đột ngột:

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

Tình huống mất điện đột ngột trong đêm là chuyện hiếm gặp ở thành phó ta trong những năm tháng ấy (1978) khiến tác giả vốn đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi cảnh tối om nơi phòng buyn-đinh “vội bật tung cửa sổ” rồi “đột ngột vầng trăng tròn”. Các từ “vội”, “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Ánh trăng tròn hiện lên giữa bầu trời sừng sững, giữa bầu trời ấy đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không bao giờ mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi.

Và trong cái khoảnh khắc “đột ngột” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rung rung” sống dậy, thổn thức lòng người:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rung rung

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Hai từ “mặt” trong cùng một đòng thơ, mặt người và mặt trăng, mặt đối mặt, lòng đối lòng. Trăng chẳng nói, chẳng trách thế mà người cảm thấy “có cái gì rung rung”. “Rưng rung” là xúc động, nước mắt sắp ứa ra, sắp khóc vì nhớ vì thương, vì ân hận… và trong phút giây xúc động ấy, kỉ niệm ấu thớ và trưởng thành, chiên stranh và cuộc sống ào ạt hiện về theo nhịp điệu dồn dập, với phép so sánh, điệp ngữ và liệt kê… Đó là những kỉ niệm gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng với bể,…

Khổ thơ cuối cùng mang nhiều ý nghĩa đưa tới chiều sâu tư tưởng mang tính triết lý:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Hình ảnh vầng trăng tròn vành vạnh ngoài nghĩa đen, còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của nghĩa tình quá khứ trọn vẹn, đầy đặn, thủy chung, nhân hậu của thiên nhiên, con người, cuộc đời, đất nước. Trăng không trách móc, hờn giận “người vô tình”vì đó là vầng trăng độ lượng, khoan dung, là truyền thống nhân hậu của dân tộc. Hình ảnh “Ánh trăng im phăng phắc” cũng là hình ảnh của lương tâm nghiêm khắc nhắc nhở từ chính sự im lặng của mình về sự thủy chung, gắn bó với quê hương, với thiên nhiên và con người. Mạch cảm xúc của bài thơ lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Đây là sự ăn năn tự trách để nhắc nhở mình phải sống có nghĩa tình đừng quên ân tình của quá khứ dù bất kì hoàn cảnh nào.

Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, “Ánh trăng” nhắc nhở con người về lẽ sống ân tình thủy chung với thiên nhiên đất nước. từ đó, ta thêm trân trọng quá khứ, có thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”

Tóm lại, với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Bài thơ ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái dộ sống uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Vì vậy, bài thơ dung những lời lẽ, tình đời, tình người vẫn vấn vương cùng người đọc.

Bạn đang xem bài viết Thơ Nguyễn Duy: Thể Tài Và Cảm Hứng / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!