Xem Nhiều 2/2023 #️ Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu # Top 3 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thơ về Cổ Loa, An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy

Bạn đã đọc bài trước phân tích về Truyền thuyết An Dương Vương và mối tình oan trái Mỵ Châu -Trọng Thủy. Vậy xin mời bạn thưởng thức một số áng văn thơ đề cập đến truyền thuyết này do Phan Duy Kha sưu tầm và giới thiệu.

*

THƠ CHỮ HÁN Vũ Phạm Hàm

Lân bảng phi thân tế bất sàn

Quân vương dung dị ngộ hồng nhan

Tồn vong mịnh hệ Linh quang nỗ

Sinh tử hồn y Mộ Dạ sơn

Nam hải yên đào châu tích lệ

Bắc lâm phong vũ thạnh thành ban

Chí kim từ vũ lân nguyên miếu

Nguyệt xuất do văn hưởng bội hoàn.

Người thân thích ít, rể khôn lường

Lầm lỡ má hồng bởi phụ vương

Sống chết hồn nương đồi Mộ Dạ

Mất còn mệnh hệ nỏ Linh quang

Bể Nam khói sóng châu hoen lệ

Rừng Bắc phong sương đá lổ loang

Đền miếu tới nay bên điện cũ

Trăng lên khánh ngọc vẫn còn vang.

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch

*

Lê Huy Phan

Vận tiếp Hồng Bàng thái cổ thiên

Dư đồ vạn lý Thục sơn xuyên

Loa thành nhân hiểm nan di đỉnh

Quy nỗ thần cơ bất cập tiên

Giao cách sự phi do nữ tế

Hưng vong số hữu định thần tiên

Linh phong mỹ tích kim trường tại

Sử luận hoang đường khủng vị nhiên.

Kế tiếp Hồng Bàng vận tại thiên

Nước non vạn dặm đất Thục liền

Loa Thành hiểm yếu đâu thần phục

Móng rùa thần nỗ lắm cái phiền

Sự việc xưa kia do ai nhỉ ?

Hưng vong số định bởi thần tiên

Khí thiêng dấu cũ nay còn đó

Sử luận hoang đường quả dĩ nhiên.

*

Vũ Tuân

Đương dương vạn mã đảo thành âm

Nam hải văn tê bạch trú trầm

Quy trảo dĩ tùy khinh bạc tế

Nga mao thụy lượng nữ nhị tâm

Hà sơn hữu lệ minh châu kết

Oan trái nan điền cổ tỉnh thâm

Đôn phách trinh hồn chung bất tử

Quế kỳ phong vũ dạ tiêu sâm.

Ngựa lướt vầng dương thành sẩm tối

Sừng tê rẽ nước giữa ban ngày

Móng rùa mưu rể đem đi mất

Lông ngỗng lòng con ai biết đây

Sông núi lệ tuôn trai ngọc kết

Oan khiên khôn lấp giếng xưa đầy

Phách hồn trinh trắng còn không mất

Cờ quế đêm mưa gió lắt lay.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Bùi Phu Kinh (Họa bài thơ của Vũ Phạm Hàm)

Ông thị hiền vương vị thị sàn

Gian hùng nữ tế thái vô nhan

Thiếp tư báo đức đồng thiên địa

Lang nhẫn vong tình phụ hải san

Quy nỗ thu quang sơn tuyệt mộ,

Bạng châu sải lệ tỉnh lưu ban

Đội lân tịch mịch đình biên miếu

Dạ nguyệt thê lương cổ lũy hoàn

Nhạc phụ vua hiền đâu phải dại

Gian hùng chàng rể quá vô tình

Thiếp mong báo đức ngang trời đất

Chàng nỡ quên ơn phụ thệ minh

Nỏ báu mất thiêng non vắng mộ

Hạt trai tưới lệ giếng lưu hình

Bên đình tòa miếu thiêng mờ mịt

Lạnh lẽo trăng đêm quyện cổ thành.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Lang quân tình trọng, phụ ân thâm

Bất bạch kỳ oan, hận đáo câm

Trường trảo vô linh quy diệc khứ

Minh châu hữu lệ bạng do trầm

Hoang bi cổ mộc thiên niên quốc

Bích hải thanh thiên nhất phiến tâm

Tịch mịch An Dương cung ngoại miếu

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Tình chàng dù nặng , nghĩa cha sâu

Ôm ấp oan kia đến tận đâu.

Nỏ thiếu móng thiêng, rùa lẩn bóng

Trai chìm đáy nước , lệ hoen châu.

Bia mòn cây cỗi, ngàn thu hận

Bể biếc trời xa một mối sầu.

Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt

Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu.

Nguyễn Tường Phượng dịch.

*

Sở Cuồng Lê Dư Vịnh An Dương Vương

Ngã nguyên vô trá, nhĩ vô ngu

Vị giám tiền xa thỉ nữ ngô

Chỉ niệm bắc nam đôn quốc hảo

Thục tri tế tử sính gian đồ

Hà sơn đa cố quy vô trảo

Cốt nhục thương tâm bạng hữu châu

Hoa miếu thiên thu công luận tại

Tín trung trường thống nữ vô cô.

Dịch nghĩa: Ta không dối người mà cũng không phòng bị

Làm cái gương xe đổ về việc gả con sang Tàu

Chỉ muốn bắc nam được thuận hòa

Đâu ngờ rẻ kia là kẻ gian tế

Non sông mấy đỗi rùa không móng

Cốt nhục đau lòng trai ngậm châu

Công luận ngàn năm còn vẳng bên miếu

Con gái thành thật không lỗi lầm mà phải mang nỗi xót xa này.

Vịnh Mỵ Châu công chúa

Thâm cung sinh trưởng quán kiều si

Thế thái ba đào kỷ đắc tri

Kỳ vị ái ân nghi tế thiểu

Cánh giao trung tín bỉ lang khi

Châu trầm ngọc vẫn tâm câu toái

Quốc phá gia phong hối diệc trì

Thiên cổ Loa Thành di hận tại

Hồn oanh hoa biểu hạt thăng bi.

Dịch nghĩa: Nàng ngây thơ lớn lên trong cung cấm

Việc đời lắm sóng gió làm sao mà biết được

Vui vẻ ái ân nào có để dạ nghi chồng

Bởi quá thật thà mà bị lừa dối

Châu chìm ngọc rơi cõi lòng tan nát

Nước mất nhà tan hối có kịp đâu

Loa Thành ngàn năm còn vương nỗi hận

Hồn vấn vương bia mộ, sầu kể sao nguôi.

( Hai bài thơ của Sở Cuồng Lê Dư chỉ mới thấy dịch nghĩa, chưa tìm thấy bản dịch thơ, tạm bằng lòng vậy)

*

THƠ QUỐC ÂM Thành Cổ Loa

Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa

Trải bao gió táp với mưa sa

Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc

Giếng Ngọc vơi đầy hạt lệ pha

Cây cỏ vẫn cười ai bạc mệnh

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa

Hưng vong biết chửa, người kim cổ

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.

Á Nam Trần Tuấn Khải

*

Đề miếu Mỵ Châu

Một khối oan tình đập chửa tan

Nghìn thu hiu hắt khói hương tàn

Bia mòn rêu biếc, ngàn mây phủ

Nỏ đó người đâu giếng nước tràn

Tần Tấn bởi tin phường bạch nhãn

Việt Ngô để lụy khách hồng nhan

Cơ trời dâu bể vì ai đấy

Riêng mỗi thơ đào mắc tiếng oan.

Nguyễn Trung Khuyến

*

Loa Thành hoài cổ

Trông cảnh Tư Long luống ngậm ngùi

Nỏ rùa chuyện cũ, phải hay sai

Hình thành sao khéo xoay trôn ốc

Nước giếng nay còn sáng ngọc trai

Trừ bại ma gà nhờ có thuật

Mắc mưu lông ngỗng vị thương ai

Bể nam sóng gió mê đường ngựa

Đà cuống tin chi, hối chậm rồi.

Nguyễn Văn Đào

*

Mỵ Châu -Trọng Thủy

Một đôi kẻ Việt người Tần

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi máy

Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ

Lòng nhi nữ

Việc quân vương

Nệm gấm vó câu

Trăm năm giọt lệ

Nghìn thu khói hương. . .

Tản Đà

*

Tâm sự

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ, để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Tố Hữu (Trích bài thơ Tâm sự)

*

Mị Châu Lông ngỗng lông ngan rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không biết tự dấu mình.

Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường là cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu.

Giá như như trên đời còn có một Mỵ Châu Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mỵ Châu như ta vẫn hằng mơ

Thì hẳn Mỵ Châu không sống đến bây giờ Ðể chung thuỷ với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với em dẫu yêu nhau chung thuỷ Ðến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm.

Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mỵ Châu khỏi chết Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.

Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng màu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.

Anh cũng như em muốn nhắc Mỵ Châu Ðời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.Anh Ngọc

*

Vô đề

Am Mỵ Châu thờ bức tượng không đầu

Cảnh báo một trái tim khờ dại

Thử hỏi , nửa thế giới này đang tồn tại

Đã yêu rồi, ai không giống Mỵ Châu ?

Hạnh Mai

(Tạp chí Người Hà Nội, số 115)

*

MỴ CHÂU

Không thể tưởng có đường gươm như thế

Dù lời thần mách bảo tự trời cao

Thần có lúc cũng nhầm như hạ giới

Đứa con thương tội lỗi tự khi nào?

.

Khi ngực trẻ hồn nhiên non nớt quá

Thì tình yêu có phút dại khờ thôi

Nắm lông ngỗng rải đường hoa trắng xóa

Hoa theo nàng rải khắp nắng mồ côi.

.

An Dương Vương dưới đáy mồ nghìn tuổi

Vẫn hằng đêm nức nở lưỡi gươm xưa

Mây vẫn trắng để tang trời vĩnh cửu

Mỵ Châu ơi, oan nghiệt đến bao giờ ?

Quang Huy

( Hà Nội mới cuối tuần,10.3.2012)

*

Ảnh trong bài

1. 2 : Lẫy nỏ và kho mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa

3: Tượng không đầu Công chúa Mỵ Châu

Entry filed under: Uncategorized.

Truyền Thuyết An Dương Vương Xây Thành Cổ Loa

An Dương Vương tên thật là Thục Phán là vị vua lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam, sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng. Sau chiến thắng vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa. Hiện di tích thành cổ Loa nằm ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội. Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ, sau nhờ có thần Kim Quy giúp đỡ diệt yêu quái thì việc xây dựng mới hoàn thành.

Mời các bạn và các em cùng đọc truyền thuyết An Dương Vương xây thành cổ loa, một câu chuyện dân gian mang nhiều tính chất kỳ ảo nhưng gắn với con người và lịch sử có thật của dân tộc.

AN DƯƠNG VƯƠNG XÂY THÀNH CỔ LOA

Khi đã chiếm được đất Văn Lang, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê.

Khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi đất rắn như đá. Ðám đông người hì hục đào đất, khuân đất hết ngày nọ sang ngày kia, tòa thành cao dần. An Dương Vương cùng đoàn tùy tùng đến xem rất lấy làm hài lòng, cho là một tòa thành có thể đứng vững muôn đời, sấm sét không lay chuyển, mưa bão không làm sạt được, và quân giặc cũng không thể phá nổi.

Nhưng một đêm cả bức tường thành quanh co đều đổ sập xuống như đất bằng. Vua An Dương Vương đến xem rất lấy làm tức giận. Ngài hỏi dò dân chúng gần đó, họ kể lại: Ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập ở các khắp ngã kéo đến với những tiếng xì xào có thể là ma quỉ. Người đâu mà lại đông đến thế ! Họ sợ quá nên không dám nhìn ra. Rồi họ lại nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.

An Dương Vương sai các tướng lãnh đốc thúc đắp lại thành cho kỳ được. Ðám người hăng hái đắp lại không ngừng. Tường thành mỗi ngày một cao dần và lại cao như tường thành cũ. Nhưng rồi một đêm cả dãy tường thành lại sập xuống như đất bằng. An Dương Vương sai người đi hỏi dân chúng ở gần đó thì họ lại nói như trước. Ban đêm họ cũng nghe thấy những bước chân rầm rập như thiên binh vạn mã trẩy qua rồi lại những tiềng huỳnh huỵch tiếp đến những tiếng ầm ầm như sấm động.

An Dương Vương lại xem chỗ địa thành để cầu trời phù hộ mình đắp cho xong tòa thành. Vua đi vòng quanh chân tường vừa đi vừa suy nghĩ. Ðột nhiên vua thấy một ông già râu tóc bạc từ phía xa đi lại. Ðến gần An Dương Vương ông tự xưng mình là thổ thần của vùng đất này, nói với vua rằng:

– Nhà vua đừng lo, sáng mai nhà vua ra đợi ở bờ sông sẽ có sứ giả Thanh Giang đến giúp nhà vua đắp thành.

Nói xong ông già biến mất.

Hôm sau mới tờ mờ sáng, An Dương Vương đã ra tận bờ sông để đợi Giang sứ. Vừa bắt đầu tan sương thì có một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt sông từ phía Ðông bơi vào bờ đến gần nhà vua, rùa tự xưng mình là thần Kim Quy sứ giả của vua Thủy Tề. An Dương Vương sai đặt Giang sứ lên một chiếc mâm vàng và khiêng vào cung. Vua hỏi kế đắp thành, thần Kim Quy bảo rằng:

– Ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh có phép biến hoá khôn lường. Nó thường hãm hại khách qua đường và khách ngủ ở quán trọ trong vùng này. Các vua thời trước cùng bọn nhạc công chết đi đều chôn ở núi Thất Diệu, những u hồn ấy từ lâu không tan lẩn khuất trong khe đá ở hang sâu. Những u hồn ấy có thù với nhà vua nên đêm thanh vắng họp thành từng đàn từng lũ đến xúi dục con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua. Con tinh gà trắng đã dẫn những u hồn ấy đến chân thành dùng phép ma phá đổ tường thành rồi gần sáng lại bay về núi. Con tinh gà trắng có tiền duyên với con gái lão chủ quán gần chân núi nên hay hiện hình làm khách bộ hành ghé vào nhà lão khi thì nhập vào con gái lão khi thì nhập vào con gà trắng của lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ cho tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng của lão chủ quán kia đi.

Nghe lời thần mách bảo, Vua sai mấy viên tướng đem quân vào rừng mai phục rồi vua cải trang cùng thần Kim Quy giả làm khách bộ hành đến quán xin ngủ trọ. Chủ quán từ chối lấy cớ là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách đi đường. Nhưng An Dương Vương và thần Kim Quy nhất định xin ở. Chủ quán phải chiều theo ý hai người.

Ðêm đêm An Dương Vương nghe thấy những bước chân rầm rập ở ngoài. Những bước chân từ khắp các ngả đi lại rộn ràng rồi thốt nhiên có bàn tay rất mạnh đập vào cái phên nhà lão chủ quán tiếp đến tiếng gọi người con gái lão. Thần Kim Quy lên tiếng nạt nộ, tiếng ngoài im ngay. Những tiếng chân bước cũng xa dần.

Gần sáng lại có những tiếng chân rầm rập ở ngoài, thần Kim Quy bảo An Dương Vương mở cửa phên ra gọi quân mai phuc đuổi theo đám yêu tinh đang rút lui về Thất Diệu, quân lính vừa đuổi vừa giương nỏ bắn theo. Cứ một loạt tên bay đi là lại nổi lên những tiếng ma kêu quỷ khóc rùng rợn. Tiếng rên rỉ khóc than mỗi lúc một thưa dần. Ðến khi mặt trời mọc thì yêu khí tan. Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cổ trong các hang núi, họ chất thành từng đống cao đốt đi rồi tro than đổ xuống suối cho tan hẳn oan hồn.

An Dương Vương và thần Kim Quy trở về quán trọ bảo chủ quán hiến cho mình con gà trắng để tạ trời đất. Gà vừa bị cắt tiết thì con gái chủ quán cũng lăn ra chết. Giữa lúc ấy có một con chim tứ trong nhà bay vụt ra, thần Kim Quy biết đó là con yêu tinh đã tìm đường chạy trốn, liền tung phép giết chết.

Yêu ma đã trừ xong, thần Kim Quy lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn. Thần rút một cái móng của mình trao cho An Dương Vương, dặn rằng:

– Nhà vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc thì đem ra bắn, một phát có thể giết được hàng ngìn quân giặc.

Nói xong, thần biến mất, nhờ có thần Kim Quy trừ hết yêu ma. An Dương Vương ra lệnh cho quân lính và nhân dân xây lại thành. Chẳng bao lâu tòa thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng, vừa dầy vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành.

Phân Tích Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

[Văn mẫu học trò] Phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Dàn ý chi tiết 1. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về đặc trưng truyền thuyết dân gian.

– Giới thiệu về xuất sứ, khái quát nội dung truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu

2. Thân bài: * Diễn biến câu chuyện 2.1. Công cuộc xây thành chế nỏ của Vua An Dương Vương.

– Xây thành rất khó cứ hễ xây thành lên cao quá đầu người, thì chỉ trong một đêm tự nhiên đổ sụp.

– Vua lập đàn rồi tự mình trai giới cầu cúng. Sau đó đã có thần Kim Quy xuất hiện giúp đỡ và tặng vuốt làm nỏ thần.

2.2. Bi kịch cơ đồ đắm biển sâu và bài học nâng cao cảnh giác chống giặc ngoại xâm.

a) Sự mất cảnh giác và sai lầm của An Dương Vương.

– Triệu Đà mượn cớ giảng hòa cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy

– Bị đánh cắp nỏ thần mà không hề hay biết cũng chính sự thiếu cảnh giác chủ quan của Vua An Dương Vương.

– An Dương Vương còn là sự ỷ lại vào nỏ thần không chuẩn bị nghênh địch mà lại thản nhiên đánh cờ đến khi biết mất nỏ thần mà địch ngay trước mắt mới vội vã mang con gái lên ngựa bỏ chạy.

b) Bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

– Bi kịch của mối tình éo le này mị Châu đã rắc lông ngống để Trọng Thủy tìm được mình nhưnh không ngờ đã chuốc lấy cái chết bằng nhát chém của cha cho chính mình.

– Trọng Thủy cũng thật đáng thương mất Mị Châu chàng như ngây dại và lao đầu xuống giếng mà chết .

2.3. Bài học rút ra từ câu chuyện.

– Không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch.

– Không ỷ lại vào sức mạnh của vũ khí

– Lấy tinh thần dân tộc làm chỗ dựa

– Rõ rành giữa ranh giới của các mối quan hệ.

3. Kết bài

– Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã đẻ lại cho người đọc về bài học dựng nước, không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch.

– Yếu tố kì ảo làm nên thành công lớn cho tác phẩm.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong ” Lĩnh Nam chích quái” kể về Vua An Dương Vương xây thành nhưng nhiều lần bị đổ, nhờ có thần Kim Quy mà dựng được Loa thành và được tặng cho chiếc vuốt làm lẫy nỏ . Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà xâm lược. Nhưng vì sự chủ quan khinh thường địch vua đã khiến cơ đồ đắm biển sâu.

Yếu tố kì ảo xuấ hiện khi Thần Kim Quy tặng một cái vuốt và cua An dương Vương đã tạo ra một chiếc nỏ nhờ cái vuốt ấy. Chi tiết kì ảo được hiểu là những điều không có thực, nó được xây dựng để tăng lên sự biểu đạt mà tác phẩm muốn thể hiện, nó hư cấu và được tạo nên để củng cố niềm tin cho con người. Nỏ thần chính là tượng trưng cho niềm tin sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể vượt xa cái tầm thường, tiêu diệt tất cả bè lũ xâm lược.

Triều Đà cậy có đất rộng, dân đông, lại thiện chiến, mấy lần kéo quân sang đánh, nhưng mỗi lần vượt cõi là một lần chuốc lấy thất bại. Bên này An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn. Mỗi phát bắn ra, tên bay rào rào, quân Nam-việt chết như rạ. Tuy nhiều lần thất bại thảm hại, Triệu Đà vẫn nuôi âm mưu xâm chiếm nước Âu Lạc. Vì vậy, Triệu Đà mượn cớ giảng hòa, cho sứ giả sang cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy. Mục đích đích của hắn không phải là thắt chặt tình giao hiếu giữa hai nước mà để dò xét tình hình Au-lạc. Bằng sự ngây thơ và thật thà Trọng Thủy đã lừa Mị Châu – con gái Vua An dương Vương để lấy nỏ thần. Bị đánh cắp nỏ thần mà không hề hay biết cũng chính sự thiếu cảnh giác chủ quan của Vua An Dương Vương. An Dương Vương còn là sự ỷ lại vào nỏ thần mà quên mất sức mạnh dân tộc không chuẩn bị nghênh địch mà lại thản nhiên đánh cờ đến khi biết mất nỏ thần mà địch ngay trước mắt mới vội vã mang con gái lên ngựa bỏ chạy. Đây cũng chính là bài học răn dạy dân tộc ta không nên khinh địch và mất cảnh giác ,bất cứ lúc nào đất nước cũng có thể rơi vào tay địch.

Nạn nhân của chiến tranh chính là Mị Châu – Trọng Thủy. Bi kịch của mối tình éo le này mị Châu đã rắc lông ngống để Trọng Thủy tìm được mình nhưnh không ngờ đã chuốc lấy cái chết bằng nhát chém của cha cho chính mình. Nàng đáng trách là khi không nhận ra ẩn ý rõ ràng trong lời nói ly biệt của Trọng thủy mà chỉ đợi ngày đoàn viên, giặc đuổi giết nhưng vẫn rải lông ngỗng. Đặt tình yêu lên trên vận mệnh quốc gia, Mị Châu vô cùng đáng phê phán. Nhưng Trọng Thủy cũng thật đáng thương mất Mị Châu chàng như ngây dại và lao đầu xuống giếng mà chết .Tiếng thét “Người ở sau lưng nhà vua chính là giặc đó!” chính là sự giác ngộ thức tỉnh nhà vua. Một lần nữa tinh thần rằng cần phải nâng cao mạnh mẽ được sức mạnh và giá trị to lớn để bảo vệ nền độc lập cho nhân dân.

Cái nhìn nhân hậu của nhân dân chính là lòng bao dung, thương cảm cho tình yêu lứa đôi đối mặt với những âm mưu và tương truyền máu Mỵ Châu chảy xuống nước, những con trai con hến ăn vào đều hóa thành ngọc.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã đẻ lại cho người đọc về bài học dựng nước, không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch. Yếu tố kì ảo được xây dựng nên nhằm gia tăng lên giá trị của tác phẩm và nhiều ý nghĩa của nó được biểu hiện một cách mạnh mẽ có nhiều giá trị nhất làm cho truyền thuyết trở nên đặc sắc mà hiếm có câu truyện nào được như vậy.

Bùi Thị Chung

Nội Dung Và Nghệ Thuật Truyện Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Theo chúng tôi, cuộc tranh chấp Hùng – Thục thực ra là một tất yếu lịch sử phù hợp với thời đại sử thi. Đó là thời kì liên minh bộ tộc để mở rộng địa bàn, lãnh thổ. Bộ tộc nào mạnh, bộ tộc ấy sẽ chiến thắng. Người anh hùng nào tài giỏi, đủ sức mạnh chiến thắng, người anh hùng ấy được tôn vinh. An Dương Vương đã có công sáp nhập nhà nước Văn Lang với nhà nước Âu Việt để trở thành quốc gia Âu Lạc lớn mạnh, văn minh hơn. Là một thủ lĩnh bộ tộc vùng cao, An Dương Vương đã có cái nhìn chiến lược, tài quân sự khi quyết định dời kinh đô từ vùng núi Phong Châu của vua Hùng về định đô ở đồng bằng ven biển sông Hồng thuộc cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội (rất gần với cô’ đô Thăng Long của các vua nhà Lí hơn một ngàn năm sau, nghĩa là rất gần với trung tâm Thủ đô Hà Nội bây giờ). Chi tiết An Dương Vương xây thành Ốc (Loa Thành) mãi không xong, sau phải “lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần”, được sứ Thanh Giang (Rùa Vàng) giúp cho kế sách diệt trừ yêu quái để xây thành, cho vuốt làm nỏ thần… là những chi tiết đậm yếu tố hư cấu, tưởng tượng. Có thành cao (Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ố’c, cho nên gọi là Loa Thành), vũ khí linh diệu (nỏ thần bắn một phát chết hàng vạn tên giặc), nên khi Triệu Đà kéo quân sang xâm lược nước ta, chúng đã thua lớn, không dám đối chiến, bèn xin hòa. Yếu tố thần thoại đan xen với yếu tô’ lịch sử khiến cho câu chuyện thêm lung linh, kì ảo, tăng tính khái quát, ý nghĩa biểu trưng của các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Chi tiết chiến thắng yêu quái thể hiện những khó khăn và quyết tâm của cha ông ta trong buổi đầu dựng nước. Chi tiết vuốt của thần Kim Quy là sự lí tưởng hóa, khái quát hóa kĩ thuật chê’ tác đồ đồng, mũi tên đồng của cha ông ta thời

Âu Lạc mà tiêu biểu là tài năng của tướng quân Cao Lỗ – người sau này được nhân dân một số địa phương thờ phụng. Khoa học khảo cổ với các công trình khai quật lòng đất Loa Thành vào thập kỉ 60, 70 của thế kỉ XX đã tìm được rất nhiều mũi tên đồng, những công cụ bằng đồng… đã chứng minh sự gắn kết giữa huyền thoại và lịch sử. (Người Hi Lạp cũng đã khai quật và tìm được dấu tích thành Tơ-roa chìm khuất trong lòng đất nhờ những chỉ dẫn trong sử thi huyền thoại I-li-át, ô-đi-xê). Hình tượng nỏ thần nằm trong môtíp vũ khí thần kì không thể thiếu trong các truyền thuyết và cổ tích về người anh hùng chông ngoại xâm: roi sắt, ngựa sắt của người anh hùng Thánh Gióng, vuốt rùa của Triệu Quang Phục, gươm thần của Lê Lợi, thanh gươm ông Tú trong truyền thuyết Tây Nguyên… Nguyên nhân tạo nên chiến thắng là do An Dương Vương có ý chí quyết tâm, có tinh thần bền bỉ trong sự nghiệp dựng nước, được tổ tiên, trời đất phù trợ, nhân dân giúp sức, biết sử dụng tài năng của các tướng giỏi như Cao Lỗ… Có được các yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa ấy, người cầm quân giành chiến thắng là tất yếu.

b) Phần 2: Bài học rút ra từ việc mất nước, do lỗi lầm của cha con An Dương Vương.

Nội dung của phần này tập trung phản ánh và khắc họa sâu sắc nguyên nhân thất bại của cha con An Dương Vương. Có thành cao, hào sâu, vũ khí thần kì nhưng yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định. Do chủ quan, khinh địch, An Dương Vương đã cho Triệu Đà cầu hòa rồi “vô tình gả con gái là Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy”. Ý vào vũ khí nên khi quân Triệu Đà đã kéo sát đến chân thành, An Dương Vương vẫn ngồi ung dung chơi cờ, cười mà nói rằng “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Loa Thành thất thủ, Vua chỉ còn biết đặt người con gái yêu quý nhất của mình lên ngựa chạy trốn về phương Nam.

– An Dương Vương là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, là người có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước nhưng cũng mắc sai lầm nghiêm trọng, lịch sử không thể tha thứ. Đất nước Âu Lạc rơi vào thảm kịch ngàn năm Bắc thuộc cũng từ lỗi lầm đau xót đó của cha con An Dương Vương. An Dương Vương đã phải chịu thất bại, nỗi đớn đau vô cùng to lớn: là một nhà vua có công dựng nước mà tự mình làm mất nước, là một người cha rất mực yêu con mà phải tự tay chém đầu con gái yêu quý nhất của minh. Hành động chém đầu con gái của An Dương Vương vừa thể hiện bi kịch của An Dương Vương vừa là cách khắc họa thêm tính cách của nhà vua. Khi tỉnh ngộ, nhận rõ lỗi lầm, An Dương Vương đã kiên quyết đặt lợi ích quốc gia lên trên tình nhà.

Nhân dân rất công bằng khi thể hiện thái độ về luận công và tội của nhà vua. Khi kết thúc truyền thuyết, dân gian không để An Dương Vương tự tử ở biển Đông khi cùng đường như lịch sử ghi lại mà để thần Kim Quy hiện lên trao sừng tê bảy tấc cho An Dương Vương rẽ nước đi xuống biển Đông, hòa thành khí thiêng, bất tử cùng sông núi (theo quan niệm dân gian, người anh hùng có công với đất nước không bao giờ chết). Ta lại gặp ở đây môtíp hóa thân kì ảo rất quen thuộc trong các truyền thuyết về người anh hùng dân tộc. Nếu như hình tượng Thánh Gióng bay lên trời có âm hưởng hào hùng, kì vĩ thì hình tượng An Dương Vương được Rùa Vàng rẽ nước dẫn đi xuôhg biển có âm hưởng bi tráng hơn. An Dương Vương được thờ ở nhiều nơi trên đất nước ta, đền thờ lớn nhất ở cổ Loa (Hà Nội).

– Nhân vật Mị Châu chỉ xuất hiện ở phần sau của câu chuyện, là nguyên nhân trực tiếp gây nên họa mất nước. Có nhiều ý kiến đánh giá về nhân vật Mị Châu, người lên án, kẻ bênh vực, song cần phải bám vào chi tiết nghệ thuật để hiểu thái độ của nhân dân. Nếu quan điểm đạo đức phong kiến đánh giá người phụ nữ thso tiêu chí “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) thì Mị Châu nặng phần đáng thương mà nhẹ phần tội lỗi. Nàng là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, lấy chồng thì một lòng tin yêu chồng. Sao có thể trách nàng mất cảnh giác với cả chồng mình được? Nhân dân đã đánh giá về hành động của nàng như thế nào? Nhân dân đứng trên quan điểm nào để xem xét? Mị Châu tin yêu chồng nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một người dân đôi với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dẫu chỉ vì nhẹ dạ, vô tình cho Trọng Thủy “xem trộm nỏ thần”. Nếu sự mất cảnh giác của vua cha là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây nên họa mất nước. Nàng tin yêu chồng bằng tình yêu mù quáng. Nhân dân đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu. Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi MỊ Châu: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Mị Châu đáp: “Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu”. Trọng Thủy vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, thế mà Mị Châu nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn ngồi trên lưng ngựa sau vua cha rắc lông ngỗng cho quân Triệu Đà lần theo dấu vết. Phải chăng áo lông ngỗng càng lúc càng đẩy cha con nàng đến con đường cùng không lối thoát? Nhân dân đã thể hiện quan niệm của mình rất rõ ràng khi để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí nhân dân) kết tội Mị Châu thật đanh thép, không khoan nhượng: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó!”.

Một số bản kể trong dân gian còn có chi tiết, sau khi chết, máu Mị Châu chảy xuống biển, trai sò ăn phải hóa thành ngọc, xác của nàng kết thành hòn đá hình người con gái không đầu trôi theo dòng sông về vùng đất cổ Loa thì dừng lại. Nhân dân trong vùng biết là đá thiêng, rước về lập am Mị Châu. Ngày nay nếu có dịp về thăm hoặc dự lễ hội cố’ Loa (Đông Anh, Hà Nội), ta có thể vào thắp hương ở am Mị Châu, gần đền thờ An Dương Vương. Trong ngôi đền nhỏ, nghi ngút khói hương, pho tượng nàng công chúa không đầu, mặc áo hoàng bào, đeo nhiều châu ngọc là lời nhắc nhở vô cùng thấm thìa và sâu sắc cho bao thế hệ về bài học lịch sử mất nước đau xót và nỗi oan tình quá đỗi đau thương của công chúa Mị Châu. Hóa đá vì oan khuất, vì tuyệt vọng cũng là môtíp nghệ thuật quen thuộc trong truyện kể dân gian. Trong truyền thuyết Trầu cau, Lang – nhân vật người em bị người anh ngờ oan – buồn bã ra bờ sông ngồi khóc, kiệt sức mà hóa đá; nàng Vọng Phu ôm con chờ chồng, hóa đá trong nỗi đau đớn tuyệt vọng khôn cùng. Những hình tượng nghệ thuật tuyệt vời đó là những lời nhắn gửi vô cùng sâu sắc, lòng nhân hậu bao dung của nhân dân có sức trường tồn vẫn lung linh tỏa sáng.

Bài học giữ nước và câu chuyện tình bi thảm này là nguồn cảm hứng không vơi cạn cho các tác giả đời sau:

– Một đôi kẻ Việt, người Tần

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi móng,

Lông ngỗng thiếp đưa đường.

Thể nguyền phu phụ

Tình nhi nữ, việc quân vương.

(Tản Đà)

– Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu.

(Tố Hữu)

– Nhân vật Trọng Thủy: Việc đánh giá nhân vật này có phần thông nhất hơn. Trọng Thủy là kẻ thực hiện âm mưu đen tối của vua cha là thôn tính quốc gia Âu Lạc. Trọng Thủy hiển nhiên được coi là tên gián điệp không hơn không kém. Song, không thể nói rằng Trọng Thủy không phải là nhân vật chứa đựng mâu thuẫn. Khi đạt được ý nguyện của vua cha, thôn tính được đất nước Âu Lạc, lần theo dâu lông ngỗng tìm thấy xác Mị Châu, Trọng Thủy đem xác vợ về chôn cất, “thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết”. Chính cái chết đã làm sáng lên chút nhân tính còn lại trong con người Trọng Thủy. Cái chết của Trọng Thủy, Mị Châu là lời tô’ cáo âm mưu và thực tê’ chiến tranh xâm lược, phản ánh mối quan hệ giữa nước và nhà, sô’ phận quốc gia và hạnh phúc cá nhân. Có dị bản ở vùng cổ Loa kể rằng, khi Triệu Đà thắng lợi mở tiệc khao quân, thuyền của Trọng Thủy đang dạo chơi trên hồ thì oan hồn Mị Châu hiện lên túm cổ dìm chết Trọng Thủy. Chúng ta thấy đây là bản kể không có tính hệ thống nếu đặt trong tương quan với hình tượng nghệ thuật của tác phẩm. Nếu oan hồn Mị Châu dìm chết Trọng Thủy thì làm sao có thể còn tồn tại hình tượng ngọc trai – giếng nước sâu sắc và giàu ý nghĩa như vậy. “Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng thêm”. Hình tượng này đã hóa giải nỗi oan của Mị Châu và cả nỗi giày vò, ân hận của Trọng Thủy. Bài học cảnh giác cao độ và sự cảm thông sâu sắc với những nỗi oan tình. Tìm hiểu truyền thuyết rõ ràng phải kết hợp cả việc khai thác hình tượng nghệ thuật, các môtíp nghệ thuật theo hướng thi pháp học, đồng thời phải chú ý đến phương pháp nghiên cứu liên ngành.

Nhân dân đã nghiêm khắc biết bao và cũng nhân hậu biết bao khi xử lí số phận ba nhân vật trung tâm của tác phẩm qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và có sức lay động lòng người.

2. Đặc điểm nghệ thuật

Nghệ thuật xây dựng nhân vật vừa gắn với “cái lõi sự thật lịch sử” vừa lung linh yếu tố hoang đường, kì ảo, tạo nên “chất thơ và mộng” tràn đầy trong tác phẩm. Các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ và hành động được chọn lọc để khắc sâu hình tượng nhân vật: An Dương Vương tài giỏi nhưng mất cảnh giác, giặc đến vẫn điềm nhiên đánh cờ, rút kiếm chém con gái, lời của thần Kim Quy; Mị Châu ngồi trên lưng ngựa rắc lông ngỗng, lời khấn nguyền của nàng trước khi chết…

Những hư cấu nghệ thuật (Rùa Vàng, Mị Châu và chi tiết nhà vua tự tay chém đầu con gái) được sáng tạo là để nhân dân gửi gắm lòng kính trọng đô’i với thái độ dũng cảm của vị anh hùng, sự phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu là lời giải thích lí do mất nước và nỗi đau mất nước.

Bạn đang xem bài viết Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!