Xem Nhiều 2/2023 #️ Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà # Top 3 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Lời mở

1. Lâu nay khi đọc những bản dịch thơ “Nam quốc sơn hà” ta thấy ít có bản dịch nào thật hay, đến độ tín, đạt, nhã. Ngay cả bản dịch được xem là khá đạt như bản của cụ Trần Trọng Kim (hay là Hoàng Xuân Hãn?) cũng còn nhiều chỗ phải bàn thêm. (Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! – Bản dịch này có chỗ ghi Trần Trọng Kim, có chỗ ghi Hoàng Xuân Hãn?). Rồi trong cả những bản dịch của các bậc thức giả, các vị quảng bác uyên thâm Hán Nôm như Nguyễn Đổng Chi, Ngô Linh Ngọc, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đăng Thục, Lê Thước, Nam Trân… vẫn còn nhiều chuyện cần trao đổi lại. Như chữ và nghĩa, ý và lời, vần luật và giọng điệu. Sự khác biệt (nếu không muốn nói là sai biệt) ở đây đôi khi lại rất xa.

Đặc biệt gần đây, bản dịch của hai cụ Lê Thước, Nam Trân được đưa vào SGK Văn 7 đã gây nên một cuộc tranh luận chưa có hồi kết. Bởi thế chúng tôi cho rằng, việc dịch lại “Nam quốc sơn hà”, ngõ hầu tìm ra được bản dịch hay, theo tiêu chuẩn tín, đạt, nhã là một việc làm rất cần thiết.

2. Theo nhiều người tìm hiểu và nghiên cứu thì “Nam quốc sơn hà” có khoảng 35 dị bản. Việc xác định đâu là bản nguyên tác (hoặc gần với bản nguyên tác) là điều thiết yếu và vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, về thời điểm ra đời của áng thơ bất hủ này cũng còn nhiều điều chưa thật thống nhất. Những tồn nghi, tranh luận về tác phẩm, tác giả rất cần sự tham gia của những nhà chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu văn chương trung đại, các nhà sử học, đặng làm sáng tỏ thêm, xác tín thêm giá trị của kiệt tác “Nam quốc sơn hà”.

Những người dịch thơ xưa nay, dù đạt hay chưa đạt đến độ hay của bản chữ Hán, thường coi bản hiện hành là chuẩn. Trong khi chờ đợi khảo cứu văn bản để đi đến một sự thống nhất chung, chúng tôi xin lấy bản chữ Hán trong Châu bản triều Nguyễn làm bản gốc. Bởi lẽ, xét trên nhiều bình diện, bản này được xem là có nhiều ưu điểm nhất (từ câu chữ đến ý tứ và giọng điệu đều hợp cách và hay).

Trong bài viết này, chúng tôi không bàn đến tác giả, cũng như không bàn đến những dị bản khác (Phiên âm Hán Việt – Châu bản triều Nguyễn: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên phân định tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”).

II. Đôi điều về một số bản dịch thơ

1. Trước hết, chúng ta khẳng định những bản dịch thơ ra tiếng Việt dùng chữ “đế” (Nam đế) như trong bản chữ Hán được coi là chuẩn nhất. Nó nói đúng ý của tác giả bài thơ. Người xưa dùng “Nam đế” là để đối sánh với “Bắc đế”. Dùng chữ đế với nghĩa là hoàng đế, là vua nước lớn thể hiện đúng và hay tinh thần tự chủ, tự cường của dân tộc ta từ thời dựng nước độc lập (sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc). Chữ “Nam đế” thấm đầy tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của cha ông ta. Tinh thần ấy sau này lại được Nguyễn Trãi khẳng định đầy kiêu hãnh trong “Bình Ngô đại cáo”: “Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên làm đế một phương”

– Trước đây dịch “mỗi bên hùng cứ một phương”. Và gần hơn là trong tinh thần của thời đại Tây Sơn với Hoàng đế Quang Trung vĩ đại .

2. Đương nhiên, trong một số bản dịch thơ, nhiều dịch giả dùng chữ “vua/ vương” để dịch chữ “đế” (trong Nam đế) cũng được coi là hợp lý. Song, có ý kiến cho rằng, chữ “đế” (trong “hoàng đế”) cao hơn chữ vương/ vua. Bởi vì, “đế” là vua nước lớn (phân biệt với “vương” là vua nước nhỏ hoặc vua chư hầu). Cho nên dịch “Nam đế” là “vua nước Nam/ vua Nam” cũng chưa thật sát nghĩa, đúng nghĩa của tác giả trong bản Hán văn (tạm gọi là nguyên tác như đã xác định ở phần trước).

Ví như câu thơ dịch “Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự” (Ngô Linh Ngọc), hay câu “Sông núi nước Nam, Nam đế chủ” (Bùi Văn Nguyên), tuy giữ được chữ “đế” nhưng chữ “ngự” dù có hợp nghĩa khi đi với chữ “đế” lại vẫn mất vần luật. Vần bằng trong nguyên tác đã đổi ra vần trắc. Đó là chưa nói dùng vần trắc ở đây làm nhẹ đi, yếu đi chất hùng văn đĩnh đạc, đàng hoàng đầy hào khí vốn có trong giọng thơ của câu mở đầu. Vần bằng (cư) cao (phù bình) vang ngân xa. Vần trắc (ngự, chủ) thấp, khép, ngắn.

Ở câu thơ thứ 2 “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (hay “Tiệt nhiên phân định tại thiên thư”?), trong nhiều bản dịch thơ ngỡ như không phải bàn thêm vì ngữ nghĩa lời thơ khá rõ. Dẫu thế, theo thiển nghĩ của chúng tôi, có hai điểm cần tham chiếu sâu hơn.

Thứ nhất là hai chữ “tiệt nhiên”. Các bản dịch phần lớn là theo nghĩa: rõ ràng, hoàn toàn, phân biệt đâu ra đấy, nên thường dịch là “rành rành” (hay “Rõ/ hiển nhiên/ vằng vặc/…). Dịch như thế cũng coi là hợp lý. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở câu thơ này ý nghĩa sâu xa của nguyên tác nằm trong 4 chữ “tiệt nhiên” và “thiên thư”. Bốn chữ này có thể coi là “nhãn tự” (chữ mắt/ mắt chữ) mà không sợ nói quá lên. Hiểu thế, ta sẽ thấy ý nghĩa tư tưởng lớn lao của bài thơ hội tụ ở câu thơ này. Bởi lẽ, hai chữ “tiệt nhiên” theo “Hán – Việt từ điển” của cụ Đào Duy Anh có nghĩa là: “Đạo lý chính đáng, không di dịch được”. Như vậy, câu thơ nguyên tác toát lên vẻ đẹp của tư tưởng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” như một nguyên lý, một chân lý. Đạo lý chính đáng ấy đã được “phân định ở sách Trời”, không di dịch được, “không ai chối cãi được” (mượn chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Khi ấy ta có thể khẳng định “Nam quốc sơn hà” là áng “thiên cổ hùng thi”, là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Đại Việt ta là hay, là chính xác và đầy sức thuyết phục. Đã là “phân định tại Thiên thư” thì dẫu là “thiên tử” (con trời) thì cũng không “cãi” được Trời và sách Trời.

3. Câu 3 và câu 4, từ ngôn ngữ, ý nghĩa đến tư tưởng đều được biểu hiện khá rõ ràng, minh bạch. Hai chữ “nghịch lỗ” dịch là: nghịch tặc hay lũ giặc, giặc dữ… đều hợp lý, chấp nhận được. Tất nhiên, chữ “nghịch tặc” (từ Hán – Việt) hàm nghĩa là bọn giặc, lũ giặc làm trái, làm ngược với đạo lý chính đáng (ở câu trên), trái với “Thiên thư” (sách Trời) càng làm rõ thêm mạch ý tưởng của bài thơ. Và như thế ở câu 4, hai chữ “nhữ đẳng” (chúng mày/ bọn mày/ bọn bay…) chỉ có thể là nói, là chỉ bọn giặc xâm lược, cướp nước, hợp logic (ý nghĩa) hình tượng thơ hơn. Khó có thể hiểu hai chữ “nhữ đẳng” là chỉ quân ta được.

Riêng chữ “hành”, chữ Hán cùng một chữ viết nhưng có 4 cách đọc và hàm nghĩa khác nhau. Theo sách “Hán – Việt tự điển” của Thiều Chửu (NXB Thanh niên – tái bản lần thứ 6), chữ “hành” có thể đọc: hành/ hạnh/ hàng/ hạng. Ở đây chúng tôi tập trung vào cách đọc thứ nhất: hành. Ba cách đọc còn lại không hợp nghĩa bài thơ. Chữ “hành” ngoài những nghĩa cơ bản như: Bước đi/ đi/ thi hành ra/ bài hành (ca hành)/ lối chữ hành… còn có một nghĩa rất đáng lưu ý là: sắp tới, dần đến.

Và chữ “khan” (khán), ngoài nghĩa: coi, xem/ giữ/ coi, đãi… còn một hàm nghĩa là: hãy thử coi một cái (dùng như trợ từ).

Xem xét nhiều bình diện nghĩa của chữ “hành” và chữ “khan”, chúng ta thấy khi chúng đi cùng nhau, trong một cách dùng (hành khan), chúng ta có thể hiểu là: Hãy xem đây/ hãy coi đây/ hãy chờ xem/ sắp tới đây/ rồi đây hãy chờ xem.

Vì thế chúng tôi cho rằng, câu kết của bài thơ “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” nên dịch nghĩa là: Chúng bay hãy chờ xem sẽ chuốc lấy bại vong.

III. Bản dịch thơ của chúng tôi

1. Điều đầu tiên chúng tôi muốn nói thêm cùng bạn đọc khi đưa ra bản dịch thơ mới của mình là: trong nhiều bản dịch thơ trước nay, người dịch không giữ được thật đúng hoặc làm sai lệch ít nhiều vần luật trong bản (tạm coi là) nguyên tác. Bản nguyên tác: Luật trắc vần bằng (tác giả gieo vần bằng: cư – thư – hư). Hơn thế, có những bản lại đổi cả thể tài bài thơ sang song thất lục bát hoặc lục bát, làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp mạnh mẽ, đanh thép, hào hùng, vang ngân của giọng điệu thơ nguyên tác – đặc biệt là ở câu thơ đầu.

Khi dịch, chúng tôi cố gắng giữ vần luật như trong nguyên tác. Để làm được như thế, ý trong hai câu thơ thứ nhất và thứ hai cần phải thay đổi. Bên cạnh đó, bản nguyên tác gieo vần bằng – vần chính, như đã nói ở trên. Bản dịch của chúng tôi cố gắng chỉ đạt được “vần thông” (tương đối). Vì thế có điều gì chưa hay, xin bạn đọc chỉ giáo thêm. Kỳ vọng lần dịch lại sau sẽ cố gắng dịch tốt hơn.

2. Về hai chữ “hùng cư” chúng tôi dịch là xuất phát từ ý tứ và giọng điệu, vần luật trong bài thơ nguyên tác mà chúng tôi cảm nhận. Chữ “hùng” không có trong nguyên tác. Nhưng ý “hùng cư” theo thiển nghĩ của chúng tôi, là nó toát ra từ thời đại anh hùng của dân tộc (thời Tiền Lê hay thời Lý). Và nó cũng toát ra từ tâm thế của những bậc anh hùng thời đại cũng như trong cảm quan của tác giả bài thơ. Chính từ suy nghĩ ấy mà chúng tôi mạnh dạn dịch câu thơ đầu là: “Nam đế hùng cư sông núi Nam”. Ý và lời câu thơ dịch không chỉ giữ được như nguyên tác mà giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ, vang ngân của câu thơ cũng như cả bài thơ sẽ làm nổi bật thêm tính chất tuyên ngôn độc lập của tác phẩm. Xét trên nhiều bình diện của sáng tạo thi ca, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng điệu và nội dung tư tưởng, bài thơ “Nam quốc sơn hà” (hay Thơ Thần?) thật xứng danh là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta. Tác phẩm ấy thật xứng đáng là áng “Thiên cổ hùng thi” của dân tộc anh hùng.

3. Cuối cùng, ở câu thơ kết khi dịch, sau 4 chữ “Bay cứ chờ xem” chúng tôi đưa vào đây dấu hai chấm (:) ngõ hầu làm cho ý thơ trở nên mạch lạc hơn mà giọng điệu thơ vẫn giữ được như trong nguyên tác.

Về tên bài thơ nên lấy là “Thơ Thần” như nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất hoặc giữ nguyên là “Nam quốc sơn hà”. Chúng tôi xin chọn: “Thơ Thần”.

Phiên âm Hán Việt:NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,Sông núi nước Nam thì Nam đế ngự trị,Rành rành phân định ở sách Trời (không thay đổi được).Cớ sao lũ giặc bạo ngược sang xâm phạm?Chúng bay cứ chờ xem: sẽ chuốc lấy bại vong. Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa: SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Nam đế hùng cư sông núi Nam,Sách Trời phân định thật đàng hoàng.Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?Bay cứ chờ xem: chuốc bại vong.

(Trần Nguyên Thạch dịch)

Hải Phòng – Đông xuân 2016-2017

Trần Nguyên Thạch(Q. Lê Chân – TP. Hải Phòng)Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 522

Những Bản Dịch Bài Thơ “Nam Quốc Sơn Hà”

– Việc sách giáo khoa (SGK) ngữ văn lớp 7, tập 1 dịch bài thơ tứ tuyệt Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) khác với bản dịch trước đây khiến nhiều người không đồng tình. Thực tế, có rất nhiều bản dịch khác nhau trước đây của những vị học giả, nhà Nho, nhà Hán học… và cũng đã gây nhiều tranh cãi trong giới học giả.

1. Bản dịch của sách “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam…” Nam quốc sơn hà Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định rõ ở sách trời Cớ sao lũ giặc đến xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! (Nguồn: “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam… thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVII” (NXB Văn học, Hà Nội, 1976). Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 2. Bản dịch của Hoa Bằng Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam coi. Rành rành phân định ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Bay sẽ tan tành chết sạch toi.

Học giả Hoa Bằng tên thật là Hoàng Thúc Trâm (1902 – 1977).

(Nguồn: Văn Lang, Danh nhân đất Việt, NXB Thanh Niên, 1995).

3. Bản dịch của nhà sử học Trần Trọng Kim Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

Nội dung của bài thơ Sông núi nước Nam.

Sông Như Nguyệt (sông Cầu) – nơi ra đời bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt 4. Bản dịch của Ngô Linh Ngọc Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự Sách trời định phận rõ non sông Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm? Bay hãy chờ coi chuốc bại vong.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc (1922-2004), tên thật Ngô Văn Ích.

(Trích: Ngô Linh Ngọc, Tổng tập văn học Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980).

Phần dịch thơ trong sách ngữ văn lớp 7 tập 1 mới đây. Sách ngữ văn 7 đăng ba bản dịch Nam quốc sơn hà nhưng cả ba bản dịch đều không giống với bản dịch được phổ biến lâu nay. 5. Bản dịch gây nhiều tranh cãi trong SGK ngữ văn lớp 7 tập I

Ở trang 62, sách ngữ văn lớp 7 dịch như sau:

Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Đây là bản dịch do học giả Lê Thước (1891-1975) và nhà thơ Nam Trân (1907-1967), tên thật là Nguyễn Học Sỹ đã có từ lâu. Bản này đang được dùng trong sách giáo khoa Trung học và Đại học và hiện đang dùng trong SGK ngữ văn lớp 7, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam.

(Nguồn: Nhóm giáo sư ĐH Huế, Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, NXB Giáo dục, 2001).

Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) còn được gọi là bài thơ Thần được cho là của Lý Thường Kiệt (1019-1105) chống quân Tống năm 1077 và được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta đã có nhiều bản dịch nhưng với 5 bản dịch trên, từ trước đến nay, học sinh, sinh viên cùng những người yêu văn học đều thông thuộc và đi vào tâm trí mỗi người là bản dịch thứ 3 bằng vần bằng của cụ Trần Trọng Kim (1883-1953). Còn bản dịch trong SGK lớp 7 dịch bằng vần trắc nên đọc trúc trắc, trục trặc… đến líu lưỡi, không quen thuộc.

Một bài thơ chữ Hán, Hán Nôm được phiên âm, dịch nghĩa rồi dịch thơ có nhiều văn bản, dị bản nhưng bài thơ dịch nào hay sẽ sống mãi trong lòng người đọc và trường tồn mãi với thời gian…

NT (Tổng hợp)

Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư

Sách là một kho tàng tri thức nhân lọai mà người xưa để lại cho muôn đời sau. Ông cha ta ngàn năm trước, khi lập quốc, việc viết sách không chỉ là để lại cho con cháu mà còn xem như là “Thiên thư”, khẳng định chủ quyền của quốc gia,cùng những báu vật do Trời Đất ban tặng, để mãi mãi cháu con theo đó mà xây dựng, bảo vệ và giữ gìn bờ cõi trường tồn vững mạnh.

Mỗi khi mùa xuân tới, một năm mới bắt đầu, ở trong sâu thẳm những tâm hồn người Việt đều hướng về nguồn cội, tổ tiên, ông bà… cõi linh thiêng không có gì sánh được, để tự hào được mang trong mình dòng máu Hùng Vương, và hai tiếng Việt Nam. Việt Nam, ngàn năm trước đã hiên ngang ngẩng đầu xưng với thiên hạ là quốc gia Đại Cồ Việt, đã khẳng định với 4 phương : quốc sơn hà Nam Đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư… “Thiên thư”- sách Trời hay chính nét bút kỳ tài của ông cha ngàn xưa đã vẽ hình đất nước bằng cả máu, mồ hôi, nước mắt, làm nên một dải đất cong cong hình chữ ” S ” trải dài từ Bắc xuống Nam. Từ nét chấm đầu tiên ở Mũi Sa Vĩ, Trà Cổ, Quảng Ninh đến nét bút “mở” nơi Đất Mũi, Cà Mau hướng về phương Nam, trải qua bao thăng trầm thuở khai thiên lập địa, cùng bao cuộc chinh chiến giữ chủ quyền, đất nước Việt tuy nhỏ bé nhưng kiên cường bên bờ sóng gió Biển Đông, vững chãi, không một thế lực to lớn nào có thể khuất phục, chia cắt, dời đổi.

Sau khi dời đô về Thăng Long, triều chính ổn định, các quyết sách về kinh tế, giáo dục cũng đã được ban bố và thi hành, cuộc sống của người dân đã đi vào nề nếp, Vua Lý Nhân Tông nhận thấy sự cần thiết phải vẽ địa đồ sông núi quốc gia. Năm 1075, nhà vua đã sai Quan Thái úy Lý Thường Kiệt vẽ địa hình 3 châu Ma Linh, Địa Lý và Bố Chính, đổi tên thành Minh linh, Lâm Bình, Bố Chính. Năm 1172 Vua Lý Anh Tông đi du ngọan để ” xem sơn xuyên hiểm trở, đường xá xa gần và sự sinh họat của dân gian”, rồi sai các quan làm quyển địa đồ của nước chúng tôi như trong ghi chép của Lê Quý Đôn thì cuốn sách đó mang tên:Nam Bắc phiên giới địa đồ, đánh dấu việc chủ quyền quốc gia ” sông núi nước Nam vua Nam ở, dĩ nhiên được phân định bởi sách trời “. Có thể đây là quyển sách đầu tiên ông cha vẽ hình đất nước, nhưng ngày nay đã không còn.

Trải qua suốt thời Trần, có lẽ vì phải vừa xây dựng triều chính củng cố thế lực sau khi nhà Lý nhường ngôi vua, vừa phải liên tiếp lo luyện binh để đánh lại và chiến thắng 3 lần quân xâm lược Nguyên- Mông, giữ vững quốc gia sống trong hòa bình, an nguyên bờ cõi… nên việc làm sách địa lý không được chú trọng. Gần như không có quyển nào.

Tới đời Lê, năm 1435, quan Hành Khiển Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai viết quyển địa dư đầu tiên nước ta lấy tên , chuyên khảo về địa dư nước Nam, lược khảo địa dư, chính trị các triều đại trước thời vua Lê Thái Tổ, chép phần Lê sơ, kể rõ các địa phương hình thế sông núi, sản vật, liệt kê các phủ, huyện, châu, xã… Ông dâng lên Vua Lê Thái Tông, vua sai Nguyễn Thiên Túng làm thời tập chú, Nguyễn Thiên Tích làm lời cẩn án, Lý Tử Tấn làm lời thông luận. Sau vua Lê Thái Tông cho in vào bộ Quốc thư bảo huấn đại tòan. Đây là cuốn sách địa lý xưa nhất còn lại cho chúng ta hôm nay.Năm 1490, tức năm Hồng Đức 21, vua Lê Thánh Tông sai làm sách Thiên hạ bản đồ, người ta căn cứ vào quyển này mà sọan ra Hồng Đức bản đồ vào thế kỷ 17, đặc biệt có cả bản đồ Chúa Trịnh Sâm đem quân đi đánh Thuận Quảng( Trung Quốc). Đầu thế kỷ 18 vào năm Bảo Thái thứ 4, vua Lê Dụ Tông sai định lại biên giới các châu, huyện, viết thành sách Tân Định bản đồ. Tới cuối đời vua Lê Hiển Tông, Dương Nhữ Ngọc, người Lạc Đạo, Gia Lâm viết một quyển địa lý học Việt Nam có tên Thiên Nam lộ đồ thư. Thời Lê Trung hưng có Ngô Thì Sĩ(1726-1784) đậu tiến sĩ 1766 năm Lê Cảnh Hưng 27, ông viết Hải Dương chí lược, chuyên khảo về lịch sử, địa lý và nhân tài của Hải Dương. Cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Nhiễm, Nguyễn Tôn Quải sọan Nam quốc vũ cống. Cũng ở thế kỷ 18, Lê Quý Đôn, nhà bác học thông kim bác cổ thời đó sọan nhiều sách về kinh truyện, cổ thư, thơ văn, đặc biệt là sử ký và địa lý như Đại Việt thông sử (có các nước láng giềng), Phủ biên tạp lục ,gồm 6 quyển bao gồm các nội dung:danh nhân, thi văn, thổ sản, phong tục… liệt kê tên các phủ, huyện, xã, núi sông, thành trì, đường xá và các cách thức canh tác ruộng đất, thi hành thuế khóa…Ông còn có quyển Kiến văn tiểu lục có đề cập đến biên giới lãnh thổ bờ cõi nước ta.

Dưới triều Tây Sơn, có một số sách viết về địa chí Việt Nam như Cảnh Thịnh tân đồ, Mục mã trấn doanh đồ, Cao Bằng phủ tòan đồ. Đầu thế kỷ 19 có ông Phạm Đình Hổ viết rất nhiều sách về địa chí như An Nam chí, Ô châu lục, Kiền khôn nhất lãm, trích sao các bộ Nhất thống chí đời Thanh và bản đồ đường đi ở nước Nam,Ai Lao sứ trình về đường đi sứ Ai Lao. Nhưng bộ sách chính của ông và có giá trị nhất là Vũ trung tùy bút, gòm 2 quyển khảo cứu về địa lý, phong thổ, phong tục tập quán, văn hóa , thắng cảnh và các danh nhân, tài nhân. Ngòai ra Phạm Đình Hổ cùng với ông Nguyễn Án, người Bắc Ninh viết Tang thương ngẫu lục, kể về danh nhân, thắng cảnh, di tích nước Việt. Đây là những cuốn sách quý về địa lý Việt Nam của thời Lê, cho ta biết được diện mạo và phong thổ của người Việt lúc bấy giờ.

Đến thời Nguyễn, bắt đầu từ vua Gia Long, việc biên sọan khảo cứu về địa chí nước ta mới thật sự được chú trọng, sách được viết nhiều và có giá trị cao mang tính chất “quốc thư” chính thức.Vua Gia Long lệnh cho quan Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định sọan bộ Nhất thống địa dư chí, gồm 11 quyển, từ quyển 1-4 tả đường bộ từ Húế vào đến Trấn Biên- Biên Hòa,từ Huế đến Lạng Sơn, đường thủy từ Gia Định- Sài Gòn đến Vĩnh Long- Lục tỉnh. Từ quyển 5-10 chép các Trấn, Doanh, Dinh, Cương giới, phong tục, thổ sản, các phủ huyện châu, đường lộ…Sang tới đời vua Minh Mạng, ông Phan Huy Chú sọan bộ , một phần quan trọng của bộ Lịch triều hiến chương lọai chí . Bộ sách này là cuốn Bác khoa tòan thư đầu tiên của Việt Nam từ thời cổ cho tới lúc đó, gồm 49 quyển, 5 quyển đầu là nói về địa chí, bờ cõi, phong thổ. Ngòai ra ông còn viết Hòang Việt địa dư chí ,phác họa bản đồ Đại Nam nhất thống tòan đồ vào năm 1834, đặc biệt trong bản đồ này vẽ rất rõ hình thể sông núi, duyên hải, đồng bằng… và có cả quần đảo Hòang Sa, Trường Sa.Ở phía Bắc còn có bộ Bắc thành địa dư chí, viết về thành Thăng Long và 11 Trấn ở phía Bắc gồm các mục cương giới, phân cách phân hạt hình thể, khí hậu, thổ sản…, và cuốn Phương đình địa chí lọai của Nguyễn Văn Siêu gồm 5 quyển chép địa lý nước Nam thời Hậu Lê, thời Nguyễn và các sách của Trung Quốc viết về Việt Nam. Sang tới đời Thiệu Trị, năm 1841,vua sai viết Đại Nam thống chí, một quyển địa lý học sơ lược của nước ta. Đến đời Tự Đức, vua sai Quốc sử quán sọan bộ Đại Nam nhất thống chí , trong suốt 17 năm từ 1865-1882 mới hòan thành. Đây là bộ sách đầy đủ nhất, viết có phân chia rõ ràng nhất theo từng địa phương, tỉnh… gồm cương giới, sự thay đổi tên gọi, các phủ huyện châu, hình thế, khí hậu, thành trì, dân số, hộ khẩu, ruộng đất, sông núi, hồ đầm, lăng mộ, đền, đình, chùa , miếu, cửa biển, nhà trạm, đường cái, bến đò, cầu cống đê điều, phố chợ, thổ sản, nhân vật lịch sử , thánh nhân…Cuốn sách này còn có rất nhiều tài liệu về sử học, kinh tế, chính trị, văn học nghệ thuật của nước nam, giới thiệu các xứ Cao Miên, Xiêm La, Miến Điện, Vạn Tượng, Nam Dương.Đến đời vua đồng khánh, năm 1886, Hòang Hữu Xứng theo lệnh triều đình sọan xong bộ Đại Nam quốc cương giới vựng biên có rất nhiều bản đồ địa hình nước Việt Nam. Sau đó Quốc sử quán sọan tiếp bộ Đồng Khánh địa dư chí chi tiết hơn về đồ hình nước ta.

Ngòai những cuốn sách do Vua ban lệnh viết, như một lọai “quốc thư”- sách quốc gia, còn có một số sách của các tiến sĩ, tú tài khoa bảng của các đời vua viết như dạng sách để nghiên cứu và cho dân gian biết về non sông gấm vóc đất Việt. An nam chí lược của Lê tắc thời vua Lê Thánh Tông, Tỏan tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư sọan vào cuối thế kỷ 17, Việt dư thặng chí tòan biên của Lý Trần Tấn đời vua Gia Long,Thối thực ký văn của Trương Quốc Dung đời vua Minh Mạng. Hay cuốn Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng, Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí của Nguyễn Thụy Trân, Tân đính Nam quốc địa dư giáo khoa thư , Nam quốc địa dư chí của Lương Trúc Đàm….

Những cuốn sách địa dư, địa chí khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một quốc gia có lãnh thổ, có biên cương, không một ai có thể thay đổi. Ông cha xưa không chỉ lập quốc, kiến tạo, mở mang bờ cõi, chiến đấu giữ gìn lãnh thổ mà còn làm nên những kỳ tích cho con cháu muôn đời có được những di sản quý báu , đó chính là những nét bút kỳ diệu của ông cha ta vẽ hình đất nước để lại con cháu. Đó cũng chính là những thông điệp thời gian để nhắc nhở những thế hệ người Việt Nam hãy giữ truyền thống của cha ông, tiếp nối vào nét bút để cho nước Việt càng thêm tươi đẹp, thêm giàu mạnh và trường tồn.

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi. Ông cha đã vẽ hình đất nước cho ta có được một dải chữ ” S ” Việt Nam thiêng liêng bất khả xâm phạm bên bờ biển Đông. Sang năm mới, đốt nén hương trầm, tâm vọng về tổ tiên nguồn cội, để tự hào, để nguyện tiếp nối ông cha, để Tổ quốc Việt Nam muôn đời trường tồn./.

Hòai Hương

Ai Là Tác Giả Bài Thơ: Nam Quốc Sơn Hà

Ai là tác giả bài thơ: Nam Quốc Sơn Hà

Dẫn nguồn tư liệu:

Muốn biết ai là tác giả bài thơ thì trước hết phải biết bài thơ đó đang nằm trong những loại văn bản nào? Hiện nay, sơ bộ thống kê đã thấy có khoảng 30 dị bản bài thơ NQSH nằm trong các văn bản Hán Nôm chép tay hoặc khắc gỗ. Cụ thể là 8 bản Việt điện u linh, 10 bản Lĩnh nam chích quái, Thần phả đền cửa sông Ngũ Huyện (Quả Cảm, Hoà Long, Yên Phong, Bắc Ninh), Biển khắc bài thơ NQSH ở Phù Khê Đông (Tiên Sơn, Bắc Ninh), Trương tôn thần sự tích, Thiên Nam vân lục liệt truyện, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử diễn âm, Việt sử quốc âm, Việt sử tiêu án, Việt sử tiệp kính, Lịch triều hiến chương loại chí, Dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí; Bằng trình thản bộ (1).

Các văn bản trên có thể quy về 5 thể tài: thần phả, thần tích, truyện ký, sử ký, địa chí, tạp lục. Tất cả đều là văn bản hoá truyền thuyết anh hùng Trương Hống, Trương Hát, còn gọi là Thánh Tam Giang, Trương tôn thần, Thần sông Như Nguyệt…Truyền thuyết kể rằng: Bà Văn Mẫu (Vũ Giàng-Bắc Ninh) mộng giao với Long thần sinh ra một bọc bốn trai một gái, đặt tên là Hống, Hát, Lừng, Lẫy và Đạm Nương. Hống, Hát ham học, thích chơi trò kỳ lạ, được thầy Lã dạy, làu thông binh thư võ lược. Lúc nhàn rỗi thường hỏi mẹ về cha, mẹ bèn thuật lại truyện cảm giao với Long thần họ Trương, bèn lấy Trương làm họ. Khi Triệu Việt Vương dấy nghĩa, Trương Hống, Trương Hát theo giúp, trở thành tướng giỏi. Triệu Việt Vương thất bại, Hậu Lý Nam Đế lên thay, muốn triệu hai ông ra giúp, hai anh em từ chối rồi tự vẫn để trọn tiết với chủ cũ. Thượng đế khen là tiết nghĩa, phong thần. Từng giúp Nam Tấn Vương Ngô Hậu Chúa dẹp loạn Lý Huy, Lê Đại Hành chống Tống năm 981, Lý Thường Kiệt chống Tống năm 1076, thần Trương Hống, Trương Hát đều đọc thơ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (2) khích lệ binh sĩ chiến đấu. Đến thời chống Nguyên Mông, Hưng Đạo Vương cầu khấn âm phủ, nhất nhất đều linh ứng. Hai thần được nhiều đời vua bao phong thần tước. Nhân dân dựng lập gần 300 đền miếu thờ hai thần suốt cả các vùng lân cận sông Cầu, sông Thương (nay thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh) và nhiều làng xã nay thuộc Hải Dương, Hà Tây, Phú Thọ…

Hai mươi chín sự tích còn lại có khác nhau chút ít về tình tiết, về địa danh, về hiện tượng âm phủ, song vẫn khá ổn định về kết cấu và các tình tiết chính.

Ai là tác giả bài thơ?

Qua gần 30 văn bản trong đó có 30 bài thơ, không hề thấy một câu chữ nào ghi nhận bài thơ NQSH do Lý Thường Kiệt trực tiếp hay gián tiếp, đích thực hay tương truyền viết ra. Ở đâu bài thơ đó cũng là của Thần, do Thần ngâm đọc… Xin dẫn vài tư liệu sau đây…

– “Đến thời vua Lý Nhân Tông, quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi. Vua sai Thái uý Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm quân sĩ nghe trong đền có tiếng thần ngâm thơ: “Nam quốc sơn hà …thủ bại hư”. Rồi quả nhiên quân Tống bị thua, phải rút về nước”.

(Việt điện u linh – Lý Tế Xuyên. Bản dịch. NXB Văn học, H.1972, tr 70-71)

– Đêm ấy Đại Hành một thấy hai thần nhân cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to, gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”.

Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà chạy tan…Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân …sai dân phụng thờ …nay vẫn còn là phúc thần” (Lĩnh Nam chích quái – Vũ Quỳnh – Kiều Phú. Bản dịch, NXB Văn hoá, H, 1990, tr. 83-84).

Nhưng, chưa rõ vì sao, bài thơ NQSH đã bị ngộ nhận là của Lý Thường Kiệt, từ trước Cách mạng tháng Tám cho đến tận ngày nay. Có thể nói, không ít học giả đầy quyền uy học thuật như Trần Trọng Kim (trong Việt Nam sử lược), Hoàng Xuân Hãn (trong Lý Thường Kiệt), Nguyễn Đổng Chi (trong Việt Nam cổ văn học sử), Dương Quảng Hàm (trong Việt Nam văn học sử yếu), Đinh Gia Khánh (trong Lịch sử văn học Việt Nam), Văn Tân ( trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập1), Bùi Văn Nguyên (trong Văn học Việt Nam…) v.v…, và hầu hết những bộ sách lớn của thời đại như Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Thơ văn Lý-Trần. Lịch sử văn học Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam đều công nhiên khẳng định NQSH là bài thơ do Lý Thường Kiệt viết ra, hoặc trực tiếp, hoặc giả thác là của thần. Từ đó dẫn đến vô số loại sách báo, bảo tàng, đền miếu, di tích văn hoá lịch sử, nhà lưu niệm, triển lãm v.v…khắc hoạ tên Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Sự ngộ nhận phổ biến và kéo dài đến mức giáo sư sử học Hà Văn Tấn phải kêu lên: Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống, ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó là đoán thôi, làm sao nói chắc chắn được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng cho đến nay, mọi người đều tin rằng đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật (Lịch sử- Sự thật và sử học. Xưa và Nay tháng 3-1994).

Riêng tôi, tiếp bước các tiền bối Ngô Tất Tố (trong Văn học đời Lý), Hoa Bằng (trong Thử viết Việt Nam văn học sử), Nguyễn Văn Tố (trong Đọc sách Việt Nam văn học) v.v…và Trần Nghĩa (trong Thử xác lập văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà), Trần Thị Băng Thanh (trong Văn hiến Thăng Long) v.v…những người chưa muốn bàn tới, hoặc thận trọng tồn nghi vấn đề tác giả NQSH… để gián tiếp, rồi trực tiếp phủ nhận Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ.

1. Hầu hết các ngôn bản trên đều tìm thấy trong bộ Thư mục đề yếu – Di sản Hán Nôm Việt Nam. NXB KHXH, H.1993, 3 tập.

2. Trương tôn thần sự tích xuất hiện muộn (1929) giống như một văn bản tổng kết về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát. Ở bản này, thần đọc thơ hai từ âm phủ Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt, mỗi lần lời thơ lại có câu chữ khác nhau. Riêng lần hai, thơ thần đọc âm phù Lý Thường Kiệt chính là bài thơ đang lưu hành chính thức trong và ngoài trường học hiện nay:

Phiên âm:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ:

Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự.

Sách trời định phận rõ non sông.

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

Bay hãy chờ coi chuốc bại vong!

Ngô Linh Ngọc dịch

Nguồn Xưa và Nay, số 83, tháng 1-2001

Bạn đang xem bài viết Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!