Xem Nhiều 12/2022 #️ Tìm Một Định Nghĩa Cho Thơ / 2023 # Top 17 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Tìm Một Định Nghĩa Cho Thơ / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Một Định Nghĩa Cho Thơ / 2023 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

T ừ lâu nhiều người đi tìm một định nghĩa cho ‘Thơ’ nhưng vẫn chưa có định nghĩa nào thỏa đáng để mọi người chấp nhận, mặc dù thi ca đã có từ lâu, đã trải qua nhiều thời gian thăng trầm và thay đổi từng bước theo đà tiến hoá của nhân loại. Trong đó có sáng tạo, có phê bình, có từ bỏ, có sửa đổi, có tôn vinh.v.v…

Hôm nay tôi xin được bước vào lãnh vực thi ca để chúng ta cùng nhau đi tìm một định nghĩa khả dĩ trong vòm trời thi ca của thế kỷ 21th. Trong phạm vi bài này, tôi xin đưa ra vài ví dụ của một số nhà thơ trên thế giới để chúng ta tìm cho chính mình một định nghĩa “Thơ”.

Thơ xuất phát từ ý thức giàu tưởng tượng của kinh nghiệm được biểu thị bằng ý nghĩa, âm thanh, và nhịp điệu của ngôn ngữ. Tất cả với mục đích nói lên những cảm xúc từ tâm hồn. Thơ cũng được hiểu là sự đo vận (meter) để tạo nên vần điệu (Rhyme), nhưng thật sự công việc đó không nhất thiết phải có cho một bài thơ. Thơ là một dạng thức cổ được lưu truyền xuyên qua nhiều thời đại và tác động lâu dài lên thời gian. Thơ chính nó đã có tính tự nhiên của nguyên thủy và biểu thức riêng biệt. Cho nên, rất khó cho chúng ta định nghĩa thơ một cách chính xác.

Rất nhiều nhà thơ trên thế giới đã định nghĩa thơ qua nhiều cách khác nhau. Tôi xin tạm đưa ra vài ví dụ sau đây để chúng ta có một ý niệm trong cách định nghĩa. Nhà thơ Wordsworth đã định nghiã thơ như sau: “The spontaneous overflow of feelings” tạm dịch “Thơ là sự phát động tự nhiên từ nguồn cảm xúc dâng trào của tâm hồn ” còn nhà thơ Emily Dickinson thì nói: “If I read a book and it makes my body so cold no fire ever can warm me, I know that is poetry” tạm dịch“Khi tôi đọc một quyển sách mà quyển sách đó làm thân thể tôi lạnh buốt mà không có một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm được đó chính là thơ” và Dylan Thomas thì định nghĩa: “Poetry is what makes me laugh or cry or yawn, what makes my toenails twinkle, what makes me want to do this or that or nothing” tạm dịch ” Thơ là cái gì làm tôi cười, tôi khóc, chán nản hay làm tim tôi đập mạnh, hay nó khiến tôi phải làm một điều này hay điều khác hay không muốn làm gì cả “.

Thơ là biểu thức tâm hồn của con người. Như vậy Thơ là gì?

Có lẽ, đặc tính của thơ là trừu tương cho nên rất khó để tìm ra một định nghĩa, chúng ta không thể miễn cưỡng để gắn cho nó một nhản hiệu, một hình tượng. Tuy nhiên không phải vì lý do này làm chúng ta phải dừng laị. Đây là lúc chúng ta phải đứng lên, phải thay đổi, phải làm sáng tỏ để mọi người nhìn thấy cái gì là thơ.

Thơ là một loại đá hoa cương của ngôn ngữ, như màu sắc trên một bức tranh, (nhưng với thơ nó dùng bằng ngôn ngữ). Thơ là vòng xoắn của tâm hồn cuộn tròn từng lớp cảm xúc của chính nó. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể đưa ra một định nghĩa về thơ một cách cơ bản với cái nhìn đơn giản trên hình thức và mục đích của nó.

Một trong hầu hết những đặc tính của hình thể thơ là sự tiết kiệm ngôn ngữ. Thơ thường dùng những ngôn ngữ ngắn gọn để diễn tả những ý tưởng, những cảm xúc của tâm hồn. Cho nên họ rất cẩn thận chọn lựa những ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, trong sáng và chuẩn mực, điều này không chỉ áp dụng trong lãnh vực thi ca mà còn cho văn xuôi nữa. Việc chọn lựa ngôn từ thường là các nhà thơ đạt được điều này khá cao. Những ngôn từ có giá trị gây được xúc động thường êm dịu và ẩn chứa nhạc điệu. Cho nên các nhà thơ thường tìm kiếm những sáng tạo trong sự lựa chọn ngôn từ lẫn dạng thức của thơ sao cho nhẹ nhàng, lơ lững, bàng bạc như sương khói.

Bây giờ chúng ta sẽ làm thế nào để đạt tới mục đích đó:

Một là sử dụng văn xuôi để kể lại, mô tả, tranh luận hay định nghĩa nó!?. Với tất cả những điều kiện trên cho phép chúng ta có thể làm được một bài thơ. Nhưng Thơ không phải là văn xuôi, thơ thông thường được nằm dưới một dạng thức cơ bản để nâng ý tưởng lên cao ra khỏi chỗ tầm thường. Thơ là sự gợi lên cảm xúc, là đặc trưng gợi nhớ tạo lên trong tâm hồn người đọc một cảm xúc mạnh: Niềm vui, nỗi đau đớn, sự giận dữ, niềm thanh thản hay yêu thương, v.v…, Thơ có khả năng làm người đọc ngạc nhiên thốt lên lời reo vui hay thất vọng từ đáy lòng qua kinh nghiệm cuộc sống, nỗi thầm kín chất chứa trong lòng hay thấu hiểu một chân lý. Điều đó chúng ta nghĩ như thế nào! Chúng ta có một định nghĩa chưa?.

Thơ có tính nghệ thuật tạo hình ngôn từ trong nhiều cách khác nhau để gợi lên cảm xúc mãnh liệt cho người đọc nhận biết một điều gì trong kinh nghiệm cuộc sống.

Chúng ta đừng xiềng xích thơ với những định nghĩa của mình. Thơ không phải là ủy mị, yếu đuối, dễ vỡ, vô tâm, không tầm thường nhỏ bé. Bạn đã biết, thơ mạnh mẽ và đậm hương sắc hơn những gì chúng ta đã nghĩ. Thơ là trí tưởng tượng tuyệt vời của nhân loại, thơ là một sức mạnh có thể bẻ gãy những xiềng xích nhanh hơn những gì bạn có thể nói. Chúng ta tạm định nghĩa thơ theo một cách sau đây: Thơ là sự bao trùm bí ẩn trong một sự việc khó hiểu được bao phủ trong một dạng thức đặc biệt hay bất cứ một cái gì đó vững chắc. Thật ra đây không phải là một định nghĩa mà chúng ta mong muốn và cũng không phải lý do để chúng ta né tránh nó. Nếu chúng ta thật sự muốn biết thơ là gì, thì chúng ta hãy đọc nó. Đọc một cách cẩn thận, dồn hết mọi tâm ý, hãy đoc nó lớn lên, hãy đọc nó nhiều lần. Đó chính là định nghĩa của chúng ta về thơ. Bởi vì việc định nghĩa thơ cũng giống như việc chụp lấy một cơn gió- nếu chúng ta bắt được nó, thì nó sẽ không còn là gió.

Trong thế giới khoa học tân tiến về vi tính hiện nay thơ đã được tương tác trong một liên mạng (website) để giới thiệu những nhà thơ và sinh hoạt của họ đến với moị người một cách rộng rãi. Những thi phẩm của họ được quảng bá nhanh chóng trên liên mạng miễn phí. Với đà tiến hóa hiện nay việc phổ biến một bài thơ không chỉ bằng chữ viết mà còn diễn tả bằng thanh đọc (ngâm) và phụ họa với âm nhạc, cho nên ý nghĩa một bài thơ càng gây nhiều cảm xúc đến người thưởng ngọan. Hệ thống trực tuyến liên mạng còn là nơi để những nhà thơ bàn luận về thi ca và giới thiệu những tài năng mới, những sáng kiến mới hay những cuộc bình phẩm thi ca lẫn nhau để trao đổi, học hỏi những điều mới lạ làm phong phú cho nền văn học. Chủ trương thi văn liên mạng với mục đích tạo một nhận thức của tinh thần và gúp đỡ những nghệ sĩ phát huy khả năng thiên phú của mình đến với mọi người không giới hạn thời gian, không gian hay tầng lớp. Đó là những bước tiến mới trên đường canh tân thi ca. Nhiều liên mạng thi ca (website) đã xuất hiện không ngừng với mục đích phát huy và tìm chiếc áo mới cho thi ca đã quá cũ. Điển hình website “Thơ Tân Hình Thức” là một khai phá mới, là những bước đi đầy can đảm trong vòm trời thơ văn. Theo tôi nghĩ trong cuộc đời này chẳng có gì tuyệt đối không thay đổi được. Văn hóa, xã hội, khoa học, nhân sinh, tôn giáo, chính trị.v.v đều tiến hóa theo thời gian và hoàn cảnh thích nghi của nhân loại. Đúng hay sai chỉ tính theo thời gian và thói quen nhân bản. Cho nên khi Website thơ “THT” ra đời đã làm cho nhiều người ngọng nghiệu đầy ngạc nhiên, đôi khi còn nặng lời chỉ trích. Với cá nhân tôi, chúng ta nên tìm kiếm một cái gì đó, hơn là ù lì cố giữ chiếc áo hơn bốn ngàn năm gần như mục nát. Hãy mạnh dạng đứng lên mở nhiều cánh cửa cho thi ca Việt tìm thấy được ánh sáng cuối đường hầm.

Trở lại vấn đề định nghĩa thơ. Thơ là những phương tiện bày tỏ ý tưởng hay cảm xúc của tâm hồn mình, đã được nhiều Thi Sĩ hay những tác giả chuyên nghiệp viết tràn ngập trên các báo chí hay những diễn đàn văn học. Thơ được tạo dựng bằng nhiều dạng thức khác nhau: Thơ tự do không vần điệu, thơ truyền thống, thơ Tân Hình Thức.vv. Nhưng hiện nay thơ tự do và thơ Tân Hình Thức được nhiều giới hâm mộ, nhất là giới trẻ đang trên đường khám phá đầy thích thú. Điều quan trọng trước mắt của thể thơ tự do hay Tân Hình Thức là tránh được mọi phiền phức tìm kiếm ngôn từ tạo nên vần điệu. Chính điều này đã làm suy giảm và cắt đứt dòng tư tuởng đang trào dâng trong tâm hồn. Y tưởng của bài thơ sẽ xa cách với đời thường, thiếu thực tế, chỉ là những nhóm từ rỗng tếch, máy móc, lập đi, lập laị đã trải qua bao thế hệ thi nhân xử dụng. Thi ca trong văn học là sự tìm kiếm những điều mới lạ để tạo khuông mặt mới cho thi ca. Vì thế chúng ta hãy mạnh dạng tiến lên và khám phá những điều mới lạ, những trầm hương cho thi ca hôm nay!!

Đi tìm một định nghĩa cho thơ. Khó có một định nghĩa đơn giản cho thơ để phù hợp với những cấu trúc khác nhau, những kiểu mẫu và chất liệu phụ thuộc của nó. Một tiêu biểu của sách thuật ngữ, chúng ta có thể định nghĩa, thơ là sự tổng hợp của văn học được viết trong dạng thức thi ca. Định nghĩa đơn giản này chỉ biểu thị một phần của thơ. Thơ còn mang một ý nghĩa rộng lớn hơn chứ không chỉ là những ngôn từ.

Thơ từ ngàn xưa là một cách thức để biểu lộ tình cảm qua truyền khẩu, trước khi con người có phương tiện ghi chép thơ trên giấy. Trong thời nguyên sơ, năng lực của thơ tạo nên sự truyền đạt trong nhiều lãnh vực như tôn giáo, lịch sử, và văn hóa. Điều này được tiếp tục không ngừng và nối tiếp xa hơn trong nhiều thế hệ sau này qua những bài thánh ca, thần chú, và những bài thơ theo lối tường thuật với những dạng thức khác nhau theo cảm xúc của từng người. Thơ luôn có một chỗ đứng riêng biệt của nó. Thơ là một phần quan trọng của văn học, là nền tảng của văn học nghệ thuật. Đó là lý do tại sao mà chúng ta nói rằng tiểu thuyết, tranh vẽ, âm nhạc, điện ảnh là… thơ ca.

“Prose = words in their best order;– poetry = the best words in the best order.”

“Văn xuôi = Ngôn từ được sắp xếp có lề lối nhất – Thi ca = Ngôn từ hay nhất được sắp xếp có lề lối nhất”.

Như vậy cái gì là thơ, theo bạn thì sao!!. Đó không phải là câu hỏi mà chúng ta có thể trả lời được trong một câu. Thi ca đã được tranh luận trong nhiều năm qua nhưng vẫn chưa có câu giải thích thỏa đáng. Nếu một bài thơ không có một cấu trúc, không vần điệu thì đó có phải là thơ không? Nếu nó nằm trong dạng thức thơ tự do, thơ Tân Hình Thức, hay một dạng thức nào mới lạ thì đó có phải là thơ không? Hay những lời của nhạc trữ tình, hay nhạc Rap hiện nay đó có phải là thơ không? Với bao nhiêu câu hỏi đó chúng ta phải định nghĩa ra sao. Măc dù rất khó để tìm ra một định nghĩa nhưng chúng ta có thể giải thích điều đó bằng cách này hay cách khác miễn sao nhiều người có thể hiểu được một ý tưởng tổng quát là tạm đủ.

Thơ là phương pháp sử dụng ngôn ngữ trong một cấu trúc để diễn tả cảm xúc, sự hồi tưởng, nơi chốn, thời gian, không gian hay một hành động, v.v… Ngôn từ sẽ mang chỗ mơ hồ thành hiện thực, một kết cấu trong sáng tự nhiên. Chính vì thế đã cho tôi một suy nghĩ là lời nhạc có thể là thơ. Tuy nhiên không phải là hoàn toàn bài Thơ nào cũng có thể đặt lời cho âm nhạc, và không phải tất cả lời nhạc đều là thơ.

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu xem ngôn từ của nhạc Rap hiện nay có phải là thơ? Tôi có thể trả lời ngay “Vâng” nhưng chỉ một số ít, không phải là tất cả. Như những gì trước đây chúng ta đã nói, Nhạc Rap chỉ tạo ra vần, chứ không phải là một bài thơ, nhưng không phải vì thế mà nó không thể trở thành một bài thơ được. (Nếu qúi vị cần tìm hiểu thêm về lời nhạc Rap nên nghe qua những bản nhạc của Snoop Dawg, của 504 Boyz hay của Eminem, v.v…)

Để trả lời câu hỏi Thơ là gì? Tôi xin đưa ra một số định nghĩa của một số nhà thơ nổi tiếng để chúng ta suy luận và tìm cho chính mình câu trả lời khả dĩ hợp lý.

WORDSWORTH WILLIAM đã định nghĩa thơ như sau:

“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquillity: the emotion is contemplated till, by a species of reaction, the tranquillity gradually disappears, and an emotion, kindred to that which was the subject of contemplation, is gradually produced, and does itself actually exist in the mind.” tạm dịch:

“Thi ca là một chuổi cảm nghĩ thanh thản trào ra và thoát đi từ cửa ngõ tâm hồn với những cảm xúc được hồi tưởng lại trong sự tỉnh lặng. Những xúc động đó ngừng lại bởi những nguyên tố phản ứng khiến cho sự tỉnh lặng dần dần tan biến và nguồn thơ được dâng lên từ tâm thức”

ROBERT FROST định nghĩa:.

“A poem begins with a lump in the throat, a home-sickness or a love-sickness. It is a reaching-out toward expression; an effort to find fulfillment. A complete poem is one where the emotion has found its thought and the thought has found the words.”

Tạm dịch:

” Sự thương nhớ quê hương, những xót xa trong tình trường là những hệ lụy bắt đầu từ những uất ức thoát ra bằng sự diễn đạt, một cố gắng để mưu tìm cho một sự toàn vẹn. Vầng thơ toàn vẹn là vần thơ trong đó đáp ứng được những suy tư và những suy tư đó biến thành ngôn từ của thơ”

ROBERT PINSKY thì định nghĩa

“Poetry…is an ancient art or technology: older than the computer, older than print, older than writing and indeed, though some may find this surprising, much older than prose. I presume that the technology of poetry, using the human body as its medium, evolved for specific uses; to hold things in memory, both within and beyond the individual life span; to achieve intensity and sensuous appeal; to express feelings and ideas rapidly and memorably. To share those feelings and ideas with companions, and also with the dead and with those to come after us.” Tạm dịch

” Thi ca…Là một nghệ thuật hoặc là một kỷ thuật cổ điển:Thơ có tuổi đời lâu hơn máy vi tính, già nua hơn nghề in, lão hơn sự viết lách và dĩ nhiên có người cảm thấy ngạc nhiên rằng thơ đã có từ lâu trước khi thể văn xuôi được chào đời. Tôi xin mạo muội nói ra rằng kỷ thuật thi ca là cách xử dụng thân xác làm chất xúc tác tạo ra những hư cấu để áp dụng vào những đặc thù riêng lẻ; Nắm bắt mọi sự thể trong trí nhớ suốt cả đời người;Tạo nên những giác quan và những xúc cảm mãnh liệt; Truyền đạt những cảm xúc cùng những tư tưởng một cách nhậm lẹ khó quên. Để chia xẻ những xúc cảm và tư tưởng với những người đương thời, những người đã chết và cho những người ở thế hệ sau”

BRYANT H. McGILL đã định nghĩa.

“Good poetry does not exist merely for the sake of itself, but rather, is a byproduct of yearning and growth; great poetry canonizes that yearning for the growth of others.” Tạm dịch:

“Thi ca trác tuyệt không tồn tại bởi chính thi ca, mà đó là thành quả của những khát khao và trưởng thành theo dòng đời. Đaị thi phẩm là sự thần thánh hoá được những khao khát và trưởng thành đó”

Vẫn là một câu hỏi Thơ là gì?.

Thơ thật khó tìm ra một định nghĩa đúng nhất. Có nhiều thể loại khác cũng được viết bằng những cảm xúc, nhưng chúng ta có thể tìm ra một định nghĩa dể dàng, nhưng thơ thì khác. Thơ được viết qua nhiều dạng thức và nhiều mục đích khác nhau, thơ có khi là những hình tượng mơ hồ, một tưởng tượng không bao giờ hiện thực.

Thơ được xử dụng loại ngôn ngữ đặc biệt hơn với ngôn ngữ bình thường và gây nhiều ấn tượng. Khi đọc nó lên sẽ gây nhiều cường điệu hơn ngôn ngữ bình thường, ngay cả lối phát âm cũng đặc biệt, phải đọc thế nào đễ hàm chứa một ngụ ý của bài thơ mặc dù chỉ một vài từ ngắn gọn. Thơ được sử dụng nhiều từ với những ý chính đậm vị. Tất cả những từ đó phải gợi lên được cảm xúc của người đọc. Ngôn ngữ thơ thường rất mạnh mẽ và gây nhiều ấn tượng.

Người ta còn có một định nghĩa khác về thơ: Thơ là văn học, là văn chương kết hợp của ngôn ngữ trong nhịp điệu hay mẫu thức riêng biệt. Thông thường, thơ là lối biên soạn thành hàng và những hàng được thu xếp thành những đoạn thơ, bài thơ. Tuy nhiên, không phải tất cả các bài thơ đều được sắp xếp thành những hàng và những đoạn thơ. Mỗi bài thơ đều có rõ ràng những vần điệu riêng nó, nhưng không phải mọi bài thơ bắt buộc phải theo vần điệu. Không hẳn thế, tuy nhiên bất cứ dạng thức thành lập nào của thơ đều cho chúng ta thấy được sự mới mẽ của nó và những ý tưởng muốn gởi gắm của tác giả.

Để đi xa hơn trong việc tìm kiếm một định nghĩa cho thơ, tôi xin nói qua về lịch sử thơ để chúng ta có thêm một vài ý niệm. Thơ là một dạng thức cỗ xưa của văn học. Chúng ta có thể quay laị thời cổ xưa đó để tìm những huyền thọai nói về dạng thức thơ. Khi nói về thơ là chúng ta đã bước vào thế giới vô cùng, đã đi từ nơi này đến nơi khác. Trước đây người ta đã dùng thơ để làm lời hát hay lời cầu kinh để phổ biến trong nhân gian. Trước khi những bài thơ được viết trên giấy (văn tự), thơ thường phổ biến qua truyền khẩu trong văn học..

Ngay cả sau này khi thơ được in thành sách vở, nhưng lời hát thơ vẫn được lưu hành trong nhân gian như loại thơ ca kể chuyện, loại nhạc dân ca chẳng hạn. Những thơ ca kể chuyện này được du nhập từ những cư dân đến lập nghiệp ở miền Bắc nước Mỹ thời sớm nhất và sau nhiều năm tháng đã biến thái thành những hình thể mới lạ hơn. (Chúng ta có thể tìm thấy những thơ ca kể chuyện quen thuộc của John Henry,” ” Casey Jones,” và ” Sweet Betsy “).Thi ca đã tạo thành lời hát và sáng tạo khôn ngừng trong suốt chiều dài lịch sử thế giới.

Bây giờ chúng ta bước vào từng phần của thơ để mở ra cánh cửa khác trong hướng đi tìm định nghĩa cho thơ. Thành phần của thơ:

Hình thể (Shapes): Một bài thơ thông thường được viết trong nhiều hàng. Nhiều hàng gồm laị thành nhiều đoạn thơ. Sự bắt đầu của một hàng hay một đoạn thơ không hẳn là sự bắt đầu của một câu mới. Thật ra, nhiều bài thơ hiện đại, họ không cần sử dụng thành câu kệ nào cả..

Trong nhiều bài thơ với mẫu thức bình thường với nhịp điệu và vần điệu là phương cách lặp lại nhịp và vần điệu trong mỗi đoạn thơ. Cũng có nhiều bài thơ hiện đại, họ sắp xếp những ngôn từ trên giấy thành những hình dạng khác nhau gợi ý thành một bức hình. Những bài thơ này tạm gọi là những bài thơ hình thể..

Ngôn ngữ (Language): Một nhà thơ thường chọn những từ rất cẩn thận cho ý nghĩa chính xác với những cảm xúc trong tâm hồn. Ngoài ra, mỗi bài thơ hầu như có nhiều cách diễn đạt ý tưởng của tác giả một cách riêng biệt. Tuy nhiên, những từ được lựa chọn không phải chỉ chú trọng đến ý nghĩa mà nó còn phải có âm điệu nữa. Nhịp điệu là một phần trọng yếu của thơ. Nhiều bài thơ đã sử dụng (trùng âm) sự lặp lại âm đầu, vần, và xen lẫn cả những hiệu ứng âm thanh khác lạ.

Nhân vật (Speaker). Mặc dù trong bài thơ được sử dụng chủ từ Tôi và đại danh từ Tôi (I & Me) tuy nhiên nhân vật đó không bắt buộc phải là tác giả. Thường thì nhà thơ tạo dựng một nhân vật riêng cho mình. Và người đọc phải hình dung hay tưỡng tượng ra những nhân vật đó theo ý tưởng của bài thơ diễn tả .

Tâm trạng (Mood). Tâm trạng là cảm xúc của chúng ta cảm nhận khi đọc một bài thơ. Có một số bài thơ nói lên sự buồn rầu, số khác diễn tả sự vui vẻ hay sự giận hờn, nhưng mục đích chính của một bài thơ vẫn là trạng thái tâm thức.

Làm sao để đọc một bài thơ.

1. Hãy đặt chính bạn vào bài thơ đó theo chiều hướng diễn tả của nó. Hãy tự mình như nhìn thấy, nghe thấy, ngưởi thấy, nếm thấy và cảm thấy được mọi thứ trong đó..

2. Đọc bài thơ đó lớn lên để cảm nhận âm thanh của nó. Thông thường âm thanh của một bài thơ sẽ làm cho người ta nghĩ về hay cốt nhấn mạnh ý nghĩa của nó..

3. Chắc chắn bạn phải hiểu mỗi từ trong bài thơ. Dồn mọi quan tâm đặc biệt để tạo nên âm thanh đọc của mình theo ý nghĩa của từng lời thơ.

4. Nhận dạng nhân vật trong thơ điều này có thể tạo sự sinh động của bài thơ.

Thêm một vài điều khác về thành phần của Thơ.

Hình ảnh của cảm giác (Sensory Images). Trong thơ, những hình tượng giác quan giúp người đọc nhìn thấy, nghe thấy hay cảm nhận được. Những hình ảnh của giác quan được gọi là hình tượng, những chi tiết về hình ảnh tạo người đọc sự nhận biết. Ví dụ một qủa táo chẳng hạn, chúng ta có thể diễn tả để người đọc có thể nếm, ngưởi hay nghĩ đến sự chua ngọt của nước táo, hay mùi vị thơm ngon của bánh táo. Hoặc những tiếng động ầm ầm, sự va chạm nghiêng ngã vào nhau tạo cho người đọc liên tưởng đến tiếng sấm, tiếng nỗ chẳng hạn.v.v Một bài thơ tác giả có thể xử dụng nhiều hình tượng của giác quan để tạo ý nghĩa bài thơ thêm phong phú và họ có cảm giác đang ở trong thơ như:

Thị giác (Sight)..

Thính giác (Hearing).

Xúc giác (Touch)..v.v

Nhịp điệu (Rhythm) Vần điệu (Rhyme).

Khi nhà thơ viết một bài thơ với vần điệu, tác giả thường suy nghĩ tìm từ với những vần điệu. Một trong số những từ này có thể mang một ý nghĩa ở chỗ cuối của hàng. Rồi vài vần khả dĩ dùng cho phần kết thúc của những hàng khác. Việc tìm vần thường dễ dàng hơn là tìm từ đúng ý nghĩa cho một bài thơ. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà thơ thích thú làm những công việc tìm kiếm những vần điệu đó.

Tóm laị, việc tìm kiếm một định nghĩa chung và chính xác cho thơ thật ư là khó. Theo tôi nghĩ, nên có một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Đã biết gì về thơ, đã thấy gì về thơ? Chúng ta có thật sự sống với thơ, có chết với thơ. Và con tim có chứa vùng mênh mông trời đất, có hình tượng của tâm thức dâng trào…! Khi chúng ta đọc một bài thơ chính là lúc ta định nghĩa thơ là gì vậy.

Mỗi Bài Thơ Hay Là Một Định Nghĩa Về Thơ Hay / 2023

Quả vậy, nhân loại bắt đầu làm thơ từ lúc nào, có người đọc thơ từ lúc nào… thì cũng ngay lập tức câu hỏi này được đặt ra: Thế nào là một bài thơ hay?

Trên đời này có bao nhiêu bài thơ được người đọc thấy là hay thì cũng có bấy nhiêu câu trả lời cho câu hỏi trên và khi ta buộc phải viết hay nói ra những điều này thì ta đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng thừa, thừa mứa các suy nghĩ, các lý lẽ, các dẫn chứng… và ta biết khủng hoảng thừa cũng phiền phức chẳng kém gì khủng hoảng thiếu. Nói ngay như vậy để tự mình khỏi lăn tăn khi trả lời, cứ viết đến đâu… hết giấy thì ta dừng lại.

Vâng, câu trả lời giản dị nhất đời là thế này:

Một bài thơ hay là một bài thơ ít nhất được một người đọc trên đời thích nó theo cách thích một bài thơ. Thế thôi. Và rõ ràng, một bài thơ càng tự chứng tỏ được mình là hay bao nhiêu khi càng có nhiều người thích nó bấy nhiêu – nhưng đừng quên người thích nó là ai, khả năng cảm nhận thơ đến đâu, nên chính sự thích thú này lại phân hóa người đọc ra nhiều đẳng cấp.

Một ví von giản dị nữa: Tiếp nhận một bài thơ hay cũng tương tự như khi ta đối diện với một cô gái đẹp, hay nếm một món ăn ngon. Cả cái sự “đẹp” và “ngon” này vừa có tiêu chí chung, vừa có tiêu chí riêng tức cái “gu” hoặc “khẩu vị”, tức là những lý do bao la như nhân loại vậy.

Vì vậy, chúng ta đành khuôn nó vào những tiêu chí chung, bởi trong hệ thống tiêu chí chung này cũng đã là một biển cả những vấn đề nói mệt nghỉ rồi, vì chúng luôn bao gồm một mớ mâu thuẫn dính vào nhau như vạn sự trên đời đều có mặt phải, mặt trái.

Theo tôi, tạm đi vào vài tiêu chí phổ biến nhất trong các quan niệm xưa nay về thơ nói chung và thơ hay là thế này:

Trước tiên, thơ chỉ thuộc phạm trù cảm xúc hay gồm cả tư tưởng?

Nhà thơ nổi tiếng bậc nhất của thế kỷ 20 là Xuân Diệu từng tuyên bố: “Quy luật của thơ là quy luật của cảm xúc, như đã là nước thì có thể trong, có thể đục, có thể đầy, có thể vơi, nhưng không thể KHÔ”. Còn nhớ có lần được ngồi cạnh ông và nghe ông nhắc lại tuyên bố này cho nghe, tôi đã hỏi… vặn ông: “Vậy tư tưởng thì sao, thưa anh?”. Ông đáp lạnh tanh: “Quy luật là thời gian sẽ thanh toán nó trước tiên!”.

Thế là rõ: Với các nhà thơ lập danh từ thời thơ mới và vô số các nhà thơ Việt Nam và phương Đông nói chung, thơ là tiếng nói của cảm xúc và chỉ có cảm xúc mà thôi.

Vậy, trong trường thơ này, một bài thơ hay dĩ nhiên phải là bài thơ tràn đầy cảm xúc, dồn nén, truyền cảm, ám ảnh… Chúng ta không thể phản bác được các thi sĩ duy cảm này, bởi vì họ nói rất đúng. Một bài thơ mà chỉ toàn lý sự chay, bằng ngôn ngữ khái niệm… thì không có chỗ ở đây. Và bao năm trời, ta từng run rẩy với những kiệt tác “thơ duy cảm” của các nhà thời thơ mới và nhiều nhà thơ sau này nữa… Những bài thơ như “Tiếng thu”, “Tràng giang”, “Ngậm ngùi”, “Đây mùa thu tới”, “Tương tư chiều…”, “Mùa xuân chín”, “Chân quê”… mãi còn khiến ta xúc động, buồn vui theo chúng… Và với khả năng vượt thời gian như vậy – chúng đích thị là những bài thơ hay.

Và cái hay đó thuộc về nguồn mạch quá dào dạt của cảm xúc. Để dẫn chứng cho loại thơ hay do tràn đầy cảm xúc này, có thể nói cả ngày không hết: “Em không nghe rừng thu/Lá thu kêu xào xạc/Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô”. Một bức tranh chấm phá với một vài âm thanh mơ hồ… là tất cả chất liệu của kiệt tác số 1 của thơ thế kỷ XX của chúng ta! “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa/Lòng quên dợn dợn vời con nước/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Và: “Cây dài bóng xế ngẩn ngơ/Hồn em đã chín mấy mùa thương đau/Tay anh em hãy tựa đầu/Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi”. Đấy là nỗi buồn thiên cổ của nhà thơ sầu muộn nhất thế kỷ XX Huy Cận. Còn Xuân Diệu ư, chỉ một câu hỏi tuyệt đối vu vơ và duy cảm hoàn toàn đủ vẽ chân dung mình: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”… Không một chút lý do, chẳng phân tích, giảng giải…gì hết. Buồn vui đều vu vơ, khóc cười đều vô cớ… thì còn biết cắt nghĩa ra sao???

Chúng ta ngả mũ trước những câu thơ hay, những bài thơ hay duy cảm và chắc chắn không bao giờ phản đối tín điều này của các nhà thơ lớn ấy, vì nó là một phần vô cùng quan trọng làm nên chân lý về thơ.

Nhưng có thật trong chất liệu thơ hay chỉ có rặt duy cảm không thôi hay không?

Bởi vì đây cũng là Xuân Diệu: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu/Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết”. Và đây cũng là Huy Cận: “Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu/Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người”.

Còn với dòng thơ cách mạng thì càng khỏi nói, với một Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Đặc biệt là Tố Hữu: “Khóc là nhục, rên hèn, van – yếu đuối/Và dại khờ là những lũ người câm…”.

Và chẳng hạn, trong bài thơ nổi tiếng của nhà thơ – liệt sĩ thời chống Mỹ Nguyễn Mỹ, bài “Cuộc chia ly màu đỏ”, với những câu thơ một mình làm nên một cuộc tranh cãi, một cách dùng lý sự cố tình như khiêu khích: “Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy/Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy…/Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/Như không hề có cuộc chia ly”…

Đó vẫn chắc là những câu thơ mà không ít người Việt thế kỷ XX vẫn thuộc nằm lòng, mà ta dễ dàng thấy chúng mang đầy lý tính, thậm chí còn triết lý chay bằng ngôn từ khái niệm như văn xuôi…

Nhiều nhà thơ, trong cuộc tìm kiếm để cách tân thi ca đã cảm thấy không còn vừa lòng với thứ thơ chỉ có duy cảm không thôi. Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu trong số này. Và vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước có một nhà thơ đã tích cực phá tung khuôn khổ của thơ duy cảm và đạt được một số thành tựu đáng kể – đó là nhà thơ Việt Phương với tập thơ “Cửa mở” gây tranh cãi một thời.

Trong lời đề từ của tập thơ này, ông đã nói một cách hình ảnh một vị thế mới của chủ thể con người nhỏ bé trước sự đè nén của thế giới ngoại cảnh từ hàng ngàn năm nay: “Ơi ngôi sao biếc trên trời/Sao long lanh thế vì người cần sao/Mai này ta đủ tầm cao/Sao cần ta lắm nên sao sáng ngời”.

Đó là một thái độ sống và cũng là một thái độ làm nghề của nhà thơ đã mang đầy chất tư tưởng, triết học vào trong thơ, với những câu thơ mang tính phản biện hiếm hoi trong nền thơ cách mạng, tuy một thời bị “lườm nguýt” nhưng nay thì đã hoàn toàn được chấp nhận!

Và đó là thứ thơ đã đặt một chân vào thơ duy lý.

Đây là một câu chuyện viết cả ngày không hết, mà nếu mở rộng ra thứ thơ đã được trang bị thêm đôi cánh của âm nhạc – tôi muốn nói đến kho ca từ vĩ đại của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một người đã đem triết học vào ca từ âm nhạc một cách “dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật” … thì là một cuộc trò chuyện lý thú và bất tận luôn.

Nhưng thôi, một bài báo nhỏ không thể tham, xin nói tiếp một ý cũng rất bao la nữa: Thơ là để hiểu hay để cảm?

Thực ra vấn đề này rất gắn bó với điều vừa nói ở trên, nhưng không phải là một. Xưa nay, nhiều người đọc thơ đã quen khi đọc một bài thơ là phải tìm ra nó định nói một hay nhiều điều gì – ta quen dùng từ “thông điệp” để mô tả điều này một cách phổ quát nhất. Vâng, thơ là văn học, là nghệ thuật của ngôn ngữ, vậy thuộc tính của ngôn ngữ là công cụ để con người giao tiếp với nhau, hiểu nhau, thông cảm với nhau… Vậy thơ phải cần được người đọc hiểu nó. Thế thôi!

Những câu thơ xưa thì “dĩ tải đạo”, nay thì tự nguyện làm một thứ “vũ khí trên mặt trận văn nghệ” để tham gia vào công cuộc chiến đấu và xây dựng thì dĩ nhiên phải được người đọc hiểu rõ nội dung, nghệ thuật của chúng, thậm chí chúng càng “đại chúng” bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Ấy thế, mà ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, khi cách mạng còn trứng nước, nhà thơ Nguyễn Đình Thi, một cán bộ cách mạng, một nhà lãnh đạo văn nghệ, lại tung ra thứ thơ… không hoàn toàn dễ hiểu, với một chủ trương mà lúc ấy đã gặp phải nhiều sự bất đồng. Đó là thứ quan niệm thơ vẫn phục vụ cách mạng và cuộc sống, dĩ nhiên, nhưng phải bằng cách của nó – và ở đây, thơ có những quy luật riêng, không thể bị đơn giản hóa thành một thứ văn học tuyên truyền có vần điệu thô sơ.

Từ đó, càng ngày các nhà thơ (chưa nói tới các nhà thơ sống ở vùng chính quyền không thuộc phía cách mạng) dần dần nhận ra rằng thơ là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, khác hẳn văn xuôi (và các loại văn khoa học), và trong thơ, ngôn ngữ không chỉ có tác dụng chở ngữ nghĩa thuần túy, mà nó còn truyền cảm xúc, tư tưởng bằng cái vỏ âm thanh – tức là phần không có nghĩa của nó.

Và với thứ thơ này, người đọc vừa có cả sự hiểu lẫn sự cảm. Ở đây chưa nói đến những người cực đoan cho rằng thơ thuần túy chỉ là để cảm, không cần hiểu – thậm chí có người thần thánh hóa thơ như một thứ tiếng nói của tiềm thức, tức là không cần có ý thức (có nhà thơ lúc ngủ cũng để bút giấy bên cạnh, trong mơ cũng làm thơ, tỉnh giấc phải ghi ngay, kẻo sáng ra… quên mất…).

Thú thực, chính tôi đã viết quá nhiều bài về điều này, giờ nhắc lại thấy mệt và thừa. Chỉ lấy vài ví dụ thôi. Chẳng hạn, những câu thơ: “Tài cao, phận mỏng, chí khí uất/Giang hồ mê chơi quên quê hương” (Tản Đà); “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm/Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…” (Quang Dũng)

Đọc – đúng hơn là nghe những câu thơ như thế ngay người nước ngoài không biết tiếng Việt dù không hiểu nội dung cụ thể là gì, nhưng vẫn cảm nhận được hồn vía chúng nhất định gợi ta đến những gì… Và đó là cái mà Giáo sư Phan Ngọc gọi là “ngôn ngữ quái đản” của thơ, thứ ngôn ngữ lấy chính nó làm mục đích tự thân.

Tôi không thuộc số cực đoan đến mức chỉ đứng hẳn về một phía mà vẫn công nhận ngôn ngữ thơ vừa mang ngữ nghĩa cần thiết, vừa phải được hỗ trợ tích cực bởi những yếu tố phi ngữ nghĩa mà ta tạm gọi là nhạc tính.

Bài viết đã dài, để kết luận tạm thời xin kể một chi tiết nhỏ:

Nhân lúc viết bài này, vấn đề quá phong phú và thú vị nên tôi đã lăng xê lên cái trang mạng xã hội cá nhân của mình là facebook một cái “test”: Mời mọi người chọn một bài thơ mà mình cho là hay nhất mọi thời đại trong nền thơ Việt Nam. Khó đấy và sẽ rất phân tán. Nhưng nếu mọi người tham gia tích cực vào trò vui nay, ta sẽ phần nào hiểu được nhiều điều về cách hiểu và đọc thơ, yêu thơ của người Việt Nam, dù trong phạm vi bé tý của cái “tờ báo bỏ túi” của tôi.

Và thú thật, với tôi, tại thời điểm này, tôi cũng có một sự lựa chọn, nhưng có lẽ phải giữ bí mật đã, hy vọng có lúc sẽ bật mí tên bài thơ mà tôi chọn là hay nhất mọi thời đại của thơ ca Việt Nam!

Chỉ xin bật mí một tiêu chí để chọn của tôi là: Bài thơ hay nhất là bài thơ mang phẩm chất tinh túy nhất của thơ, nghĩa là nó đúng là thơ nhất. Vậy thôi!

Lời Bài Thơ Định Nghĩa “Vợ” (Nguyễn Khắc Thiện) / 2023

định nghĩa “vợ”

Vợ là người chẳng họ hàngThế mà giờ đẹp lại sang nhà mìnhNgười dưng lại kết duyên tìnhChung quy cũng tại “quy trình” mà ra

Vợ là Mẹ các con taThường kêu “Bà xã”, hiệu là “Phu nhân”Vợ là tổng hợp: Bạn thân,Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.

Vợ là ngân khố, kho tiềnGửi vào nhanh gọn, hơi phiền rút raVợ là Vua các loài hoaToả hương thơm ngát, đậm đà, ngất ngây

Vợ là quả ớt chín câyĐỏ tươi ngoài vỏ, nhưng cay trong lòngVợ là một đoá hoa hồngVợ là “Sư tử Hà Đông” trong nhà

Khi vui, nàng đẹp như hoaĐến khi tức giận, cả nhà thất kinhKhi chiến tranh, lúc hoà bìnhVợ là thám tử luôn rình rập ta

Vợ là một vị quan toàThăng đường xử án, toàn là án treoVợ là rượu ngọt tình yêuKhông uống thì khát, uống nhiều thì say

Vợ là thùng thuốc súng đầyCơn ghen ập đến nổ bay trần nhàVợ là nắng gắt, mưa saVợ là giông tố, phong ba, bão bùng

Nhiều người nhờ Vợ lên ôngNhiều anh vì Vợ mất không cơ đồVợ là những áng văn thơVợ như là những giấc mơ vơi đầy

Vợ là một chất men sayLà nước hoa ngoại làm ngây ngất lòngVợ là một áng mây hồngVợ là hoa hậu để chồng mê say

Vợ là khối óc, bàn tayVợ là bác sỹ tháng ngày chăm taVợ là nụ, Vợ là hoaVợ là chồi biếc, Vợ là mùa xuân

Vợ là tín dụng nhân dânVợ là kế toán giải ngân trong nhàVợ là âm nhạc, thi caVợ là cô giáo, Vợ là luật sư

Cả gan đấu khẩu Vợ ư?Cá không ăn muối coi như đời mờVợ là điểm hẹn, bến chờKhông Vợ đố biết cậy nhờ tay ai

Vợ là phúc, thọ, lộc, tàiChồng ngoan chăm chỉ nộp bài Vợ khenVợ là tổng quản, Thanh ThiênVợ là khoá sắt, xích xiềng cột chân

Vợ là dòng suối mùa xuânNgọt ngào, xanh mát, trong ngần, yêu thươngVợ là két sắt, tủ tườngMuốn mở phải nhả lời thương ngọc ngà

Vợ là một đôi thùng loaMỗi khi chập mạch cả nhà nổi giôngÂm thanh tựa sư tử gầmCha, con lấm lét mà không dám cười

Vợ còn xếp trước cả TrờiVợ là duyên nợ cả đời của taVợ là biển rộng bao laVợ là hương lúa đậm đà tình quê

Vợ là gió mát trưa hèVợ là hơi ấm thổi về đêm đôngVợ là chỗ dựa của ChồngNhiều anh dám bảo “Vợ không là gì!”

Khoan khoan hãy tỉnh rượu điVợ quan trọng lắm chẳng gì sánh đâuViệc nhà Vợ có công đầuNấu cơm, đi chợ, nhặt rau, pha trà

Vợ là máy giặt trong nhàVợ là vi tính, Vợ là ti viNhiều đêm Vợ hát Chồng ngheLời ru xưa lại vọng về quanh ta

Vợ là bà chủ trong nhàAi mà cãi lại lệnh bà biết ngay“Cấm vận” chắc chắn dài ngày “Chiến tranh lạnh” phải “ngủ chay” thôi mà

Vợ là làn điệu dân caVợ là bà chủ vợ là Ô-sinVợ là cái máy đếm tiềnVợ là nền móng dựng nên cơ đồ

Vợ là thủ quỹ, thủ khoVợ là hạnh phúc, ấm no cả nhàVợ là vũ trụ bao laNhiều điều bí ẩn mà ta chưa tường

Có lúc giận, có khi thươngSớm mưa, chiều nắng chẳng lường trước đâuVợ là một khúc sông sâuVợ như là cả một bầu trời xanh

Vợ là khúc nhạc tâm tìnhVợ là cây trúc bên đình làm duyênVợ là cô Tấm thảo hiềnVợ là cô Cám hám tiền, ham chơi

Vợ là mợ Vẹt lắm lờiThích đem so sánh Chồng người, Chồng taVợ là bến đỗ, sân gaVợ là mái ấm cho ta đi về

Vợ là “Khúc hát sông quê”Nốt thương, nốt nhớ tràn về đầy vơiVợ là đồ cổ lâu đờiAi mua chẳng bán, tứ thời nâng niu

Vắng vợ có một buổi chiềuCha con luýnh quýnh như diều đứt dâyUớc gì có vợ về ngayNâng niu tổ ấm đong đầy ngày vui

Nhắc nhau khắc dạ ghi lời :“Kính vợ đắc thọ” cho đời bình yên./.

(Nguyễn Khắc Thiện biên tập)

Vương Trọng, Một Mai Nếu Bạn Muốn Đi Tìm / 2023

Nhà thơ Vuong Trọng

Với tôi điều đó thoạt tiên gây sự ngạc nhiên, và rồi từ ngạc nhiên tôi muốn tìm hiểu sáng tác của họ. Chọn trường hợp Vương Trọng, tôi thực sự thú vị những muốn lục tìm trong từng câu chữ của anh những dấu ấn mờ tỏ tư duy của một người làm toán. Nhưng tôi đã gần như thất bại. Điều đó chứng tỏ, tư duy hình tượng và những thăng hoa lãng mạn của thơ đã lấn át những khái niệm khô khan của toán học.

Hãy quan sát anh trong những khoảnh khắc đời sống, những sự kiện đưa đến những rung động trong tâm hồn anh với tư cách là một người làm thơ. Đây là những hoàng hôn tuổi thơ dại, chờ mẹ về từ đồng chiêm của mấy anh em trên bậu cửa:

Anh em con chịu đói suốt ngày tròn

Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa… Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng

( Khóc giữa chiêm bao )

Đô Lương quê anh, những bờ bãi ven sông Lam xanh biếc ngô khoai, những núi Quỳ đất đỏ kia là gì mà để lại thật sâu nặng trong ký ức của anh, đến mức dù có sống ở miền quê nào, cũng không thể thay thế được, dù có đi đến đâu cũng không thể có miền đất nào sánh nổi:

Con lang thang vất vưởng giữa đời thường

Đâu cũng sống, không đâu thành quê được

( Khóc giữa chiêm bao )

Miền quê gian khổ đó có ngôi nhà thân yêu của anh, có một thời kham khổ, thiếu thốn, nhưng cũng cái thời đó, mọi thứ đều trở thành trớ trêu, nghịch lý. Ví như gia đình anh cũng bao gia đình khác, thiếu ăn, kham khổ là vậy, nhưng vẫn bị quy thành phần. (Thời ấy gia đình nào mà bị quy thành phần thì khốn khó vô cùng! ). Hãy đọc những câu thơ tả thực nhớ về thời gian nan kia của Vương Trọng: Một thời kham khổ anh em/ Vừng rang rau cải, rau giền làm cơm/ Mùa đông chen chúc ổ rơm/ Nửa đêm cơn đói còn thơm mùi vừng ( Phố phường ai giã cối vừng ). Giữa thị thành, nhà ai đang giã vừng, mùi thơm liên tưởng tới những ngày gian khó ở quê nhà. Nghe tiếng sấm đầu mùa, điều nhớ nhất là tiếng người râm ran gọi nhau đi bắt cá: Gặp cơn mưa lớn đầu mùa/ Râm ran tiếng đó, tiếng lờ đi đơm ( Nhà quê 1 ). Cơn mưa đầu mùa gọi anh về với những ký ức tuổi thơ, và làm thức dậy trong tâm hồn anh những khát khao sáng tạo: Cơn gió đồng thổi thi tứ vào thơ ( Nông dân ).

Có phải vì ở đấy Vương Trọng có những người thân yêu tuyệt vời mà anh mang theo hình ảnh của họ, như một sự ân nghĩa suốt cả cuộc đời anh. Ví như hình ảnh người chị dâu: Lấy chồng, chồng ở nhà đâu/ Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều/ Làm dâu gặp phải cảnh nghèo/ Đôi bàn tay chị chống chèo lo toan ( Chị dâu ).

Người chị dâu ấy không những chống chèo, lo toan việc lớn của nhà chồng đã đành, ngay cả những việc nhỏ như đến bữa cơm thường ngày, chị cũng giành chỗ đầu nồi, xới cơm cho cả nhà: Bữa cơm em út quay vòng/ Đầu nồi, chị xới tay không kịp rời. Người chị dâu của Vương Trọng hệt như người phụ nữ tôi đã từng gặp, chỉ khác là, trong số những người ngồi quay vòng bên nồi cơm kia, chí ít có một người hiểu chị, chia sẻ với chị. Người đó lớn lên cầm bút viết về những ký ức không quên ấy về người chị dâu của mình. Người cầm bút đó là Vương Trọng. Tại đây cần nhấn mạnh, nếu Vương Trọng không có cái trắc ẩn rất con người kia về chị dâu của mình ( cũng như sau này lớn lên với biết bao số phận khác anh gặp trong đời ), chắc gì Vương Trọng đã cầm bút làm thơ. Như vậy, lòng trắc ẩn – biểu hiện cụ thể nhất của lòng nhân ái là nơi bắt đầu của thơ. Nói khác đi, thơ đi từ đó – từ lòng nhân ái, trắc ẩn, và thơ cũng hướng con người đến đó.

Có phải là ngọn núi Quỳ nhỏ nhoi mà dù đi qua bao núi, vượt qua bao đèo, anh vẫn luôn luôn nhớ về: Tôi đã mang chiều cao núi Quỳ đọ những đỉnh núi cao/ Ngày về thấy núi Quỳ thấp lạ. Đó là ngọn núi thuở nhỏ Vương Trọng ngày đội nắng, chân dép mềm đá bỏng/ Để đêm về thông mọc giữa chiêm bao ( Núi Quỳ ). Hình như ngọn núi này vẫn còn cất giữ rất nhiều những kỷ niệm tuổi thơ của Vương Trọng. Rồi ta sẽ gặp lại núi Quỳ một lần cuối trong thơ anh!.

Nói Vương Trọng đa cảm ngoài nỗi thương nhớ người chị dâu đảm đang, đẹp người tốt nết, người mẹ tảo tần chịu thương chịu khó và ngọn núi Quỳ thân thuộc như trên là chưa đủ. Là thi sỹ, Vương Trọng không giấu những xúc cảm trong trái tim mình. Mỗi lần đi qua nơi hẹn hò gặp nhau giữa anh và người yêu năm nào, trái tim anh lại vang lên những nhịp đập thuở ban đầu:

Cái thời mơ ước thì cao

Bầu trời cũng hẹp, ngôi sao cũng gần Cái thời người ấy chớm xuân Ta vừa lớn dậy mới lần đầu yêu…

Cái nơi hẹn hò ấy thường hiện lên giữa chiêm bao

Sao chiêm bao những đêm thường

Người xưa hiện với đoạn đường này đây

( Khi qua nơi hẹn )

Còn đây là lời tự thú, khi đã trót nhớ vụng thương thầm:

Ngoài em ra anh đã nhớ đã thương

Không chỉ một vài người con gái

( Tự thú )

Nhưng đây thì không còn là nhớ thương thầm vụng nữa:

Em tuy có cháu gọi bà

Với anh sau trước vẫn là em thôi

( Hẹn tết )

Người đa cảm thì vẫn thường hay cô đơn, vẫn thường không thoát khỏi cô đơn, không thoát khỏi chạnh lòng mỗi khi đối diện với hạnh phúc của người khác. Một lần đi qua hồ Tây thấy thanh niên đi bên nhau từng đôi, anh viết:

Thuyền nào cũng thấy thuyền đôi

Ghế nào cũng gặp hai người bên nhau Một mình chẳng biết dừng đâu Anh đi như một con tầu không ga

( Qua hồ Tây )

Bài thơ không đề năm tháng sáng tác, nhưng tôi dám chắc được viết khi anh đã không còn trẻ. Bỗng nhớ tới nhà thơ Thanh Tịnh những lúc cô đơn nhất, thường nói: Trẻ em đi từng đàn, thanh niên đi từng đôi và cụ già đi từng chiếc ( ! ). Vương Trọng chưa già nhưng chắc cũng không còn trẻ nữa ( nhân vật trữ tình trong bài thơ xưng Anh ) đã thấm thía nỗi đơn chiếc trên trần gian này, chí ít là quanh hồ Tây nổi tiếng tình tứ và lãng mạn này, anh như không chốn nương thân, bất định như một con tầu không ga… Điều này thêm một bằng chứng cho thấy Vương Trọng đa sầu, đa cảm.

Chưa hết, không chỉ đa sầu, đa cảm, Vương Trọng đã không ít những giây phút tuyệt vọng khắc khoải, đợi chờ: Qua giờ hẹn, sao em chưa tới/ Đèn ngã tư đã bao lượt đổi màu ( Đợi em trên đường Pasteur ); Vương Trọng cũng đã bao lần thấp thỏm: Có em rồi ta trẻ lại bao nhiêu/ Khi thứ Năm trở thành Thứ hẹn ( Thứ hẹn ). Thì ra họ yêu nhau và hẹn cứ đến thứ năm lại gặp gỡ. Tại đây trong hồn thơ Vương Trọng cái mê của người làm thơ đã lấy mất cái tỉnh của người làm toán, cái dại khờ ( Một nửa hồn tôi hóa dại khờ – Hàn Mặc Tử ) tâm hồn người làm thơ đã chế ngự cái khôn ngoan của con người lý trí :

Năm tháng không em ta gánh nỗi cô đơn

Thời gian nặng nề leo dốc Thứ Năm lệch vai hai đầu chủ nhật Như người ly hương nặng nhọc Trên con đường Không có phía tình yêu

( Thứ hẹn )

Cho nên không có gì khó hiểu khi anh nồng nhiệt triết lý về tình yêu:

Chừng mực với mọi điều

Với tình yêu xin đừng chừng mực Đã yêu thì yêu như lửa đốt Cành cây nào cũng phải cháy thành tro Đã yêu thì yêu như rượu bốc…

( Triết lý khi yêu )

Tất cả cho thấy Vương Trọng là người sống theo chủ nghĩa tình cảm. Anh gạt sang một bên con người lý trí, con người toán học mỗi khi cầm bút làm thơ. Bởi vậy không khó để nhận ra nét chủ đạo trong thơ Vương Trọng vẫn là giọng điệu trữ tình quen thuộc của thơ ca nói chung, và của thơ ca Việt Nam nói riêng.

2. Cuối những năm 60 của thế kỷ XX Vương Trọng xuất hiện trên thi đàn với tư cách là một nhà thơ quân đội, tham gia cuộc thi thơ của Tuần báo Văn Nghệ, cùng với những Phạm Tiến Duật, Vương Anh, Bế Kiến Quốc, Phan Thị Thanh Nhàn…Tác phẩm Bài thơ nằm võng của anh đoạt giải cuộc thi ấy, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc, và là một căn cước đưa anh về Tạp chí Văn Nghệ Quân đội. Kể từ đó sáng tác thơ, biên tập thơ với anh là nhiệm vụ.

Là nhà thơ quân đội, Vương Trọng để lại trong thơ mình rất nhiều những dư ba chiến tranh. Nhiều cuộc hành quân, những tăng, võng, bạt: Tuổi thơ ta nằm trên võng gai/ Đi dánh Mỹ ta nằm võng bạt ( Bài thơ nằm võng ). Rất nhiều những khoảng lặng nhớ thương đồng đội trên những cung đường gian lao: Lặng nhìn đồng đội mà thương/ Nắng nôi theo suốt chặng đường hành quân/ Đất tơi, trì trật bàn chân/ Tóc tai màu bụi, áo quần màu tro…Chúng mình nghiêng bóng che nhau/ Qua khắc nghiệt của Trung Lào mùa khô ( Đi dọc mùa khô )

Viết về chiến tranh, Vương Trọng chọn lối tả thực, hoặc có thể nói Vương Trọng sử dụng thế mạnh của mình là tả thực. Thơ có thể có hai phương thức tư duy cơ bản: hoặc là miêu tả hoặc là biểu hiện, miêu tả hiện thực và biểu hiện con người tư tưởng, con người tâm trạng của nhà thơ. Miêu tả hạp với ngôn ngữ xác tín, biểu hiện thường hạp với ngôn ngữ biểu cảm. Thơ Vương Trọng nghiêng về hiện thực, nghĩa là anh đứng gián cách với hiện thực, quan sát nó, lựa chọn những chi tiết để miêu tả nó bằng ngôn ngữ xác tín, đưa nó vào thơ. Trần Đăng Khoa gọi đó là những câu thơ viết bằng mắt. Trang thơ của anh vì vậy hiện lên chân thực như thực những khung cảnh chiến trận. Bức tranh về mặt trận Tà Sanh qua những câu thơ thô ráp, ở đó những vệt màu như cày dọc ngang trên mặt vải của một bức sơn dầu hoành tráng mà gân guốc, đầy những chất liệu nóng và chói gắt…cốt để miêu tả cho được cái dữ dội của chiến trường:

Con voi rừng trụi lông

Sốt rung rừng, lá mùa khô rơi rụng Khe lá mục cạn dòng nước uống Con nai khát ăn nhầm lá độc Chết vắt ngang thân mục gỗ chắn đường… Bạn tôi khát đến khi không nói được… Bạn tôi khát đến khi không đi được Nằm nhìn trời mà tưởng nhớ dòng sông Ước một cây chuối rừng Bập răng vào nhai cho thỏa thích… Hai mươi tuổi bạn tôi chống gậy Chỉ còn hơn một triệu hồng cầu Bước lên thềm tay dò, tay vịn

Môi máy nhiều mà chẳng nói thành câu …

( Tà Sanh )

Đấy là cơn khát giữa mặt trận Tà Sanh mùa khô. Sức gợi của thơ ở đây chính là hiện thực, là từ hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh. Còn đây là một bức sơn dầu khác, có điểm nhấn xác thực mang tính tự sự cao, mang tính tố cáo mạnh mẽ từ một khung cảnh sau cuộc thảm sát, được tạo ra bởi những câu thơ mang âm trắc, vần trắc thất thường, trong hơi khí của thơ đã chen lấn, tuy chưa thật đậm dấu ấn tâm trạng của người viết: Bước đi mỗi bước, đau mỗi bước/ Mười tám xác trâu chắn ngang đường/ Mười tám cặp sừng nằm chỏng ngược/ Da thịt tơi bời, cơn gió nấc…/ Từng đôi mắt nhìn, lửa trong mắt/ Đất chẳng yên lành đất tro than/ Nhà chẳng còn nhà, người vắng ngắt/ Ôi, Tả Hồ Xìn, Tả Hồ Xìn/ Trăm năm, ngàn năm ghi tội ác ( Xe dừng Tả Hồ Xìn ).

Với đoạn thơ tả thực rất giỏi này, nếu tạm cất đi câu đầu: Bước đi mỗi bước, đau mỗi bước, và câu cuối: Ôi, Tả Hồ Xìn, Tả Hồ Xìn/ Trăm năm, ngàn năm ghi tội ác, thì hiện lên nguyên vẹn một bức tranh khách quan của hiện thực, nghĩa là tác giả đã làm xong cái việc thông báo. Phần cảm nhận như thế nào đó tùy thuộc vào từng người đọc. Điều này cho thấy vì sao Vương Trọng thích Đỗ Phủ hơn Lý Bạch*. Đỗ Phủ gần với tranh sơn dầu, Lý Bạch gần với tranh lụa. Thơ Vương Trọng mảng viết về chiến tranh mang rõ rệt cá tính sáng tạo của anh.

Bao giờ Vương Trọng cũng tìm được một ý nghĩa nông sâu nào đó trước một hiện tượng của đời sống nào đó. Với hai chị em nhà nọ, anh như một người đứng ra an ủi: Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa/ Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi/ Thằng bé khóc bụng chưa quen chịu đói ( Hai chị em ). Và từ cảm thông, an ủi, anh nhắc nhủ mọi người, lời nhắc nhủ mang sắc thái một lời cảnh báo, đặc biệt là với những bố mẹ khác đang chuẩn bị ra tòa: Nín đi em!- em khản giọng khóc gào/ Chị mếu máo, đầm đìa nước mắt/ Những bố mẹ bên bờ chia cắt/ Phút giây thôi, hãy nghe tiếng con mình ( Hai chị em ).

Một ví dụ khác. Những đứa trẻ ngoài giá thú, một hiện tượng bình thường và tương đối hay gặp của những đất nước chiến tranh dài lâu như nước ta, một hiện tượng thường bị người đời ghẻ lạnh: Thôi nhắc chi những năm dài trống trải/ Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu/ Tóc hoàng hôn thưa dần theo lược chải/ Pháo cưới người như đốt để trêu nhau ( Với đứa con ngoài giá thú ). Gặp những hoàn cảnh như vậy, anh thấy cuộc sống đã thừa những vô cảm đối với những con người bất hạnh và thiếu những an ủi cần thiết. Vương Trọng nhìn điều đó theo một cách khác, cách của con người trắc ẩn: Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm/ Để người đời ghét bỏ mẹ con tôi? ( Với đứa con ngoài giá thú ). Bài thơ mượn lời người mẹ nói với đứa con ngoài giá thú. Với người mẹ không có đứa con nào không phải là con của mẹ. Vương Trọng như hóa thân trong vai người mẹ để nói với con, nhưng cũng là để gửi một thông điệp với người đời về một trường hợp gây không ít những đau thương trong đời sống xã hội.

Chúng ta sẽ nhận ra quan niệm đầy tình người này của người làm thơ qua các trường hợp Mỵ Châu, Thúy Vân, Hòn Vọng Phu…Lấy một ví dụ, Hòn Trống Mái. Đây như một phát hiện của Vương Trọng: nỗi cô đơn cũng đã hóa đá, nhưng hóa thành đôi chim trống mái để mãi mãi bên nhau. Vương Trọng chạnh lòng: Trống Mái-loài chim được thế/ Người thì Tô Thị, Vọng Phu…(Bên hòn Trống Mái). (Tôi nhớ có lần nhà thơ Văn Thảo Nguyên ở Lạng Sơn về, có một nhận xét thú vị: Phía sau hòn đá hai mẹ con nàng Vọng Phu hóa đá kia, cũng có một hòn đá hệt như một con hổ đang nằm phủ phục. Văn Thảo Nguyên nghĩ rằng chắc con hổ mỏi rình mẹ con nàng Vọng Phu lâu quá, buồn quá nên cũng đã hóa đá nốt! ) Trở lại những bài thơ của Vương Trọng: Một lần, với em bé còn nhỏ tuổi đã phải một mình mưu sinh hàng ngày đi kiếm củi. Hình ảnh ấy thường đến với anh trong đêm: Gánh củi ấy trở thành đá núi/ Đêm đêm đè nặng ngực tôi (Thương cháu bé lên năm gánh củi); Với Chí Phèo, anh mượn giọng Chí để nói với Bá Kiến: Mày chết mày mất giống/ Anh em tao còn nhiều/ Ở mỗi làng mỗi xóm/ Có một ông Chí Phèo (Chí Phèo); Với Trương Chi, anh nhắn nhủ: Sao đem giọng hát một đời/ Đổi về tình hận ngậm ngùi ngàn năm (Nói với Trương Chi); Với người bạn đồng nghiệp hàng xóm, nhà văn Thái Vượng mệnh yểu, anh thảng thốt: Người ấy đâu rồi/ Bàn văn dang dở truyện ngắn/ Bàn cờ ngổn ngang ngựa xe (Hoa quỳnh, nhớ Thái Vượng)…vv

Một ví dụ nữa. Người con dâu về nhà anh. Lẽ thường tình của cuộc sống. Nhưng với Vương Trọng, anh ghi lại khoảnh khắc đó rất hóm hỉnh: Thế là cháu đã thành con/ Bác thành bố, mẹ chẳng còn lạ xa/ Ăn chung bữa, ở cùng nhà/ Nói năng thêm giọng, vào ra thêm người (Nói với con dâu). Một lời dặn tinh tế để không làm phật lòng con dâu, lại vừa độ như để nhắn nhủ thành viên mới: Nhà mình quý nhất con ơi:/ Nâng niu gìn giữ tình người trước sau/ Đã rằng hai tiếng thương nhau/ Thì thương cho đến bạc đầu còn thương (Nói với con dâu). Nói với con dâu thôi nhưng cũng đủ để nhận ra quan niệm sống của Vương Trọng: nâng niu gìn giữ tình người trước sau …

Chúng ta vẫn thường thừa nhận với nhau rằng toán và thơ thật khác xa nhau, và nếu có một điểm chung nào đó, điểm chung ấy chắc phải rất xa. Thơ tư duy bằng hình tượng, bằng tưởng tượng, bằng ngôn từ, bằng nhịp điệu, thậm chí bằng cả những khoảng lặng trắng tinh giữa hai dòng chữ, giữa hai khổ thơ…Toán tư duy bằng con số, bằng khái niệm, bằng định đề, bằng suy tưởng và suy luận trừu tượng. Toán cần chính xác. Thơ đôi khi cần bay, cần nhòe, cần dừng, cần một chút mơ hồ…Hai lĩnh vực này có chung một cảm thức về cái đẹp của sự thăng hoa.

Đây là thơ:

Đêm xuân không dễ ngồi nhà

Anh đi thơ thẩn như là để đi

Đến đâu và sẽ làm gì Xin đừng rành mạch những khi xuân về

( Đêm xuân )

Còn đây là khi toán đã lấn sân:

Nối dây gầu thả vào lòng giếng

Nối dây diều thả vào lòng trời Đừng đơn giản đánh đồng hai khái niệm… Nếu không có sợi dây nối liền với đất Chẳng bao giờ người biết bay lên

(Tản mạn về những cánh diều giấy)

Vương Trọng rất chú ý dùng những đại từ chỉ định biểu thị sự nhấn mạnh về tính chất hiện diện, cụ thể, trước mắt của điều định nói, để làm chính xác thêm điều định nói. Đó là khi toán đang lẫn khuất giữa những câu thơ. Lấy một ví dụ:

Áo chàm lẫn vào bóng cây lặng lẽ

Khuất mờ rồi nét mày nhỏ bé

Đấy là khi câu hát đằm sâu

Đấy là khi câu hát nhớ thương nhau

( Thị xã màu xanh )

Một ví dụ khác:

Bộ mặt nào cũng có nhiều răng nhọn

Không phải để cười mà để nhai, để ăn

Đấy là hai câu lấy từ bài Mắt con nhìn, viết tại sân bay Gia Lâm ngày 19/3/1973, ngày tên giặc lái Mỹ cuối cùng rút khỏi miền bắc. Đoạn thơ có thừa những yếu tố chính xác: tính từ nhiều, nhọn, tổ hợp từ không phải, kết từ mà để, như biểu thị sự khẳng định – một kiểu lập luận của toán!

Một ví dụ khác:

Nhìn dọc: dựng mũi tên

Nhìn ngang: xòe lưỡi búa Bước lên hóa con thuyền Sóng rượu cần nghiêng ngửa

( Nhà Rông )

Phải thừa nhận đây là một sự quan sát và liên tưởng ví von khá thông minh. Nhưng nếu ba câu đầu dùng để miêu tả cái nhà Rông Tây Nguyên, người đọc vẫn chưa thấy tác giả ở đâu cả. Chỉ có câu cuối: sóng rượu cần nghiêng ngửa là hướng nội, là tâm trạng, cũng là tình cảm của tác giả. Và tôi cho rằng đấy là câu thơ nhất trong đoạn thơ trên.

Còn đây là mấy câu lục bát, hầu như mỗi câu cõng trên lưng một con số của Nguyễn Bính:

Đồn rằng đám cưới cô to

Nhà giai đưa chín con đò đón dâu Nhà gái ăn chín buồng cau Tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn Lang thang tôi dạm bán thuyền Có người trả chín quan tiền lại thôi

Nhiều con số là vậy nhưng sao đọc lên vẫn không thấy con số át mất phần thơ của lục bát Nguyễn Bính!

Cũng có thể tôi đã có cảm giác tiền định Vương Trọng là nhà thơ xuất thân từ người học toán chăng?.

Vì yêu Nguyễn Du và Truyện Kiều, Vương Trọng đã có những đóng góp đáng kể để giúp bạn đọc hiểu hơn về Truyện Kiều. Có lần, anh là người tổ chức các cuộc thi đố Kiều khá lý thú của Đài Tiếng nói Việt Nam, thu hút khá đông đảo thính giả tham gia. Vì say mê Nguyễn Du, Vương Trọng tìm cách dịch lại ( phần thơ ) toàn bộ Thơ chữ Hán của Nguyễn Du hầu hết bằng thể lục bát căn cứ vào dịch nghĩa của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính từ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm đến Bắc hành tạp lục. Không bàn về quan niệm dịch, hiệu quả dịch như xưa nay các dịch giả vẫn thường bàn, chỉ nội một việc bỏ công ngồi chuyển thể Thơ chữ Hán của Nguyễn Du ( rồi sau đó dịch lại cả Chinh phụ ngâm, tác phẩm đã quá hay, quá quen thuộc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm ), cho thấy tình yêu sâu sắc và đam mê hiếm thấy của Vương Trọng đối với di sản của ông cha.

6. Nhưng cũng như nhiều nhà thơ khác, Vương Trọng không ảo tưởng với những câu thơ tưởng như gan ruột của mình. Vẫn thường vất vưởng, lang thang trong cõi trần, vẫn thường run rẩy với những câu thơ như đam mê suốt cả cuộc đời, song với Vương Trọng, những trang viết suốt một đời vất vưởng kia, quá lắm cũng chỉ là thi ca ơi, người phù phiếm vô cùng (Thúy Vân). Trên hết, Vương Trọng vẫn là một ông “đồ gàn” đáng yêu xứ Nghệ, cho dù đi đâu, ở đâu cũng thiết tha với quê hương, giữ từ giọng nói, nết ăn, nết ở nhà quê của mình. Và núi Quỳ, ngọn núi mà ta đã gặp ở đầu bài viết này vẫn là nơi luôn luôn ẩn hiện trong tâm hồn anh. Như loài cá hồi với bản năng loài có một không hai của chúng ( Bài Cá hồi ), Vương Trọng từ núi Quỳ sinh ra, còn quá sớm, nhưng anh đã dặn: Hãy đưa tôi về nơi sinh nở, bởi vì anh quan niệm Hạnh phúc lắm nếu được nằm xuống đấy.

Còn bạn, một mai nếu muốn, bạn sẽ tìm được nhà thơ Vương Trọng!.

Tháng 4 năm 2015

(Nguồn: Tạp chí NV&TP)

Bạn đang xem bài viết Tìm Một Định Nghĩa Cho Thơ / 2023 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!