Xem Nhiều 2/2023 #️ Tinh Xuan Trong Duong Thi # Top 6 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tinh Xuan Trong Duong Thi # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tinh Xuan Trong Duong Thi mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tình Xuân Trong Đường Thi

Hải Đà – Vương Ngọc Long  

Thơ Đường là một thành tựu lớn nhất, là đỉnh cao sáng chói của mấy nghìn năm lịch sử Văn học Trung Quốc. Mỗi một bài thơ Đường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ và đi thẳng vào lòng người đọc, để lại những suy tư trầm lắng và rung động không nguôi … Đường Thi là sự kết tụ mỹ thuật, tinh hoa văn học nghệ thuật….Mỗi một bài thơ Đường nổi tiếng xứng đáng là viên ngọc quí vô giá lung linh sáng chói, chẳng bao giờ phai nhạt qua cơn bụi lốc mịt mù và gió bão của thời gian và không gian vô tận….Bộ Toàn Đường Thi ấn hành vào năm 1707 chia làm 30 tập, gồm 900 quyển, với hơn 49.000 của ngót hơn 2200 thi sĩ . Thơ Đường có thể nói đã trải qua gần 300 năm (618-907). Dựa vào sự biến chuyển của các triều đại nhà Đường, có thể chia ra làm 3 thời kỳ tóm tắt như sau với những sắc thái riêng biệt, đặc trưng của thi ca, và phong cách, trường phái của các nhà thơ :

Thời Sơ Đường (618-713): mang phong cách của thời Lục Triều … thi vị cung đình, lời lẽ hoa mỹ ca ngợi vua chúa (thời Võ Tắc Thiên cầm quyền, mua chuộc kẻ sĩ, văn nhân tài tử để làm thơ tán tụng nhà vua ..) hoặc thi ca tình cảm ủy mị, phần nhiều chú trọng về hình thức hơn là nội dung .. thơ theo đúng những qui luật về thanh điệu và biền ngẫu. Tuy nhiên trong giai đoạn nầy có sự xuất hiện “Sơ đường tứ kiệt” , tức là bốn nhà thơ trẻ Vương, Dương, Lư, Lạc, vì ảnh hưởng của chinh chiến, ly loạn, nên thơ văn của họ gần thực tế hơn, phản ảnh được đời sống đau thương, thực trạng xã hội đương thời, hoặc những hình ảnh oai hùng ở chốn biên cương, hay bày tỏ thái độ uẩn ức đối với chế độ phong kiến đương thời. Thời Sơ Đường còn có những nhà thơ nổi tiếng như Trần Tử Ngang đề cao khuynh hướng “phục cổ”, Trương Cửu Linh với những bài thơ tình cảm nhẹ nhàng, hoặc Hạ Tri Chương, Trương Nhược Hư với những bài thơ diễn tả tình cảm tha thiết hoặc tả cảnh thiên nhiên với bút pháp tài hoa và điêu luyện. Họ đã kết hợp được trường phái hiện thực với lãng mạn .

Thời Thịnh Đường (713-846) : với sự lên ngôi của Lý Long Cơ (tức Đường Minh Hoàng) đã đề ra sự “phục bích” (dựng lại bức tường cũ), nhắc lại sự việc lật đổ Võ Tắc Thiên (705) và Lý Long Cơ diệt Vi Hậu (713) để khôi phục nhà Đường. Đường Minh Hoàng là nhà vua có nhiều tài năng, là một nghệ sĩ (tự nhuận sắc khúc Nghê Thường), say mê ca múa thi văn, quí trọng văn nhân thi sĩ, đã lập vào thời kỳ nầy đã có cơ hội phát triễn rực rỡ muôn màu, muôn sắc. .. Đây là thời kỳ đã đưa thơ Đường lên đỉnh cao chói lọi. Đại diện cho thời Thịnh Đạt nầy có thể nói có bà nhà thơ rất nổi tiếng, đó là Lý Bạch, Vương Duy và Đỗ Phủ. Lý Bạch với phong cách hào phóng đại diện cho dòng thơ lãng mạn bay bổng tự nhiên, đôi khi siêu thoát ra ngoài thực tế . Thơ Vương Duy (còn là một họa sĩ có tài) man mác hương vị thiền, thanh đạm hồn nhiên, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Thiền Tông.. Đỗ Phủ đại diện cho dòng thơ hiện thực trữ tình, mang những tư tưởng Khổng Mạnh của một kẻ sĩ đứng đắn nhận thức được trách nhiệm đối với vua, nước và dân. Hơn nữa bản thân của Đỗ Phủ cũng sống trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Thời kỳ thi ca của Đỗ Phủ cũng là giai đoạn cảnh thái bình thịnh trị trôi qua, khi Đường Minh Hoàng say mê nhan sắc Trương Quý Phi, bỏ bê công việc triều chính và chiến tranh nhiễu nhương xẫy ra, và chính Đỗ Phủ đã dùng ngọn bút tài ba của mình để miêu tả những hoàn cảnh xà hội tang thương trong giai đoạn nầy …Trong khi Vương Duy có những dòng thơ chịu ảnh hưởng Phật Giáo, thơ Lý Bạch man mác màu sắc Đạo Tiên, thì thơ Đỗ Phủ tiêu biểu tinh thần Nho Giáo, mang tính chất hiện thực của thời đại chúng tôi nên người ta thường gọi Vương Duy là Thi Phật, Lý Bạch là Thi Tiên và Đỗ Phủ là Thi Thánh .. Thời kỳ Thịnh Đường còn có Mạnh Hạo Nhiên với những dòng thơ thanh thoát và chân thật, chịu ảnh hưởng triết lý Lão Trang . Thơ Vương Xương Linh với những bài xuất sắc diễn tả về cảnh cung đình biên tái. Những nhà thơ khác nổi tiếng trong thời kỳ nầy như Cao Thích, Sầm Tham, Vương Hàn, Vương Chi Hoán và Thôi Hiệu (Hoàng Hạc Lâu) .Vương Kiến và Trương Tịch nổi tiếng về các loại thơ nhạc phủ … Bạch Cư Dị đại diên cho dòng hiện thực phê phán vì ông đã trải qua một giai đoạn lịch sử đen tối với chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy và Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những lời lẽ giản dị thành thực để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi áp bức, và sự bất công trong xã hội, tố cáo sự bóc lột của bonï quan lại quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng và nỗi trầm luân thống khổ của dân chúng trước thế sự thời cuộc ba chìm bảy nổi .. Cùng thời với ông có những nhà thơ khác như Hàn Dũ, Mạnh Giao, Giả Đảo, Trương Kế (Phong Kiều Dạ Bạc) v.v.. Mỗi nhà thơ có một phong cách tài hoa điêu luyện khác nhau, mỗi người một vẻ không sao kể xiết trong thời kỳ thịnh đạt nầy.

Thời Vãn Đường (846-907) : Thời kỳ nầy nhà Đường đã xuống dốc, xã hội suy thoái, hỗn loạn, nhiều cuộc nổi dậy khắp nơi vì quan lại tham nhũng, sưu cao thuế nặng . Nền văn học Trung Quốc cũng bị chuyển biến theo và thơ văn mang tính cách tiêu cực, đề cao tình yêu trai gái lãng mạn thoát vòng lễ giáo, hoặc những bài thơ vịnh sử phê phán gay gắt giai cấp quan liêu thống trị, sự tệ hại của vua quan, nỗi đau khổ của dân nghèo cô thế . Giai doạn nầy có những nhà thơ nổi tiếng như Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Lý Thường Ẩn , Vương Vũ Xứng…

Phân loại các nhà thơ Đường theo trường phái khác nhau có thể nói là khó khăn và phiến diện vì những nhà thơ có thể vừa miêu tả sự hiện thực trong xã hội mà cũng có những bài thơ phóng khoáng trữ tình, nghĩa là thể hiện nhiều khuynh hướng khác nhau … Đề tài trong thơ Đường có những nội dung rất đa dạng và phong phú .. có rất nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, tình bè bạn thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hương vị Thiền, đạo giáo v.v.. không sao kể xiết ..

Trong phạm vi bài sưu khảo và dịch thuật nầy, tác giả chỉ xin giới hạn vào trích dẫn và tuyển dịch một số trong những bài thơ Đường nổi tiếng. Các học giả tiền bối cũng như các thi sĩ hiện đại đã dịch rất nhiều những bài thơ Đường. Việc nghiên cứu, sưu khảo và dịch thuật thơ Đường đòi hỏi công phu của tác giả dịch thơ, phải tìm hiểu xuất xứ, nội dung, từ ngữ, điển tích, và nắm vững niêm luật bằng trắc, phép đối ngẫu v.v.. của các thể loại thơ Đường.. và mỗi dịch giả thể hiện một phong cách riêng biệt khi chuyển hóa qua một bài thơ Việt ..Mỗi tác giả có một cách nhìn khác nhau cũng như sự cảm nhận tình ý, và cái hay cái đẹp của một bài thơ Đường dưới các lăng kính đa dạng, nên mỗi tác giả có cách dịch thơ khác nhau, mỗi người một vẻ … nhưng phần đông các bản dịch đều diễn tả được đúng hình thức và nội dung của bài thơ gốc, thể hiện đúng ba nguyên tắc phiên dịch “ tín, đạt, nhã “ …

Tình Xuân Trong Đường Thi: Theo định luật tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ … xuân không tự hẹn mà đến, xuân đến ở trên đồi cao bằng những bông nắng vàng tơ nở rộ, xuân đến với đồng xanh với những khúc sáo nghê thường véo von, xuân đến trên dòng sông với sóng nước bập bềnh loáng bạc mênh mang … Xuân đến như hơi thở ngọt ngào, như nhịp tim đập tự nhiên của đất trời …Bức tranh Xuân trong Đường Thi muôn màu, muôn vẻ đã thắp lên niềm tin yêu, hy vọng và lạc quan cho con người và cuộc sống đời thường vốn dầy dãy oan khiên nghiệp chướng, mịt mùng cát bụi vô thường như Thiền Sư Mãn Giác đã dặn dò tăng chúng : “Xuân qua trăm hoa rụng – Xuân tới trăm hoa tươi – Trước mắt việc đi mãi – Trên đầu già đến nơi – Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết – Đêm qua sân trước một cành mai –“ (Cáo Tật Thị Chúng) Xuân vẫn đến đấy chứ … đến đó như giọt nắng vàng hoe treo lơ lửng trên cành , rồi lại ra đi như cơn gió dịu mát vô tình thoảng qua. Thi sĩ Bạch Cư Dị đã cho chúng ta thấy một hình ảnh nhân sinh của khổ lụy vô thường… mùa xuân trong cuộc đời cũng chỉ là một thoáng mộng mong manh ngắn ngủi … mộng đẹp đó nhưng rồi cũng dễ tan đi như mây bay gió thổi theo những buồn vui của cuộc đời…

Như hoa mà chẳng phải hoa Giống mù mà chẳng phải là mù sương Nửa đêm chợt đến lạ thường Sớm mai thức giấc lên đường lại đi Đến như thoáng mộng xuân thì Rồi như mây sớm lại đi phương nào ? (Như Hoa Mà Chẳng Phải Hoa -Bạch Cư Dị)

Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên đã mở cõi lòng ra phơi bày một cảnh sắc mùa xuân vào một buổi sáng thật sống động khi vừa thức giấc bằng mắt thấy tai nghe với những hình ảnh xuân ấm áp nồng nàn tràn đầy hương sắc dạt dào của hoa nở và thanh âm êm dịu của tiếng chim ca. Nhà thơ đã đi từ cõi mộng, bước ra khỏi “giấc xuân” để cảm nhận một mùa xuân trong thực tại hiện hữu của hương hoa thơm ngát và ngọt lành tiếng chim .. Và sau khi cảm nhận được cái đẹp xuân của thiên nhiên vũ trụ, hoà nhập với cảnh sáng mùa xuân, người thơ đã nhắc cho chúng ta biết rằng đâu phải xuân chỉ mới đến sáng nay … mà xuân đã đến tự đêm qua với mưa rơi và gió thổi để mà thương tiếc thầm cho những cánh hoa đã tàn rơi đêm qua … giữa khung cảnh thiên nhiên chan chứa hương vị thiền trong sáng :

Giấc xuân quên cả bình minh Chim non ríu rít gọi tình muôn nơi Đêm qua mưa gió bời bời Biết bao hoa đã rụng rơi tứ bề (Sáng Mùa Xuân – Mạnh Hạo Nhiên)

Nhà thơ đã đánh thức chúng ta ra khỏi cái thực tại với ngoại vật tốt tươi diễm lệ, để đi về với sự hồi tưởng tiếc thương ngậm ngùi, với giấc mộng xuân đã qua mau bất chợt …như một tuồng vân cẩu, một giấc mơ ngắn ngủi, tỉnh dậy nồi kê vẫn chưa chín … Thương xuân để mà tiếc xuân như Lý Thương Ẩn đã bộc lộ tình cảm một cách thiết tha da diết khi gió đông (tức là gió xuân) đã báo hiệu mùa xuân trở về, với sự oán trách giận hờn :

Khó dễ gần nhau, khó cách xa Gió xuân bất lực rũ tàn hoa (Vô Đề – Lý Thương Ẩn)

Hoặc như Đỗ Phủ đã diển tả cái buồn thấm thía sâu sắc vô cùng khi thấy hoa tàn rụng bay trước cơn gió ơ hờ của mùa xuân .. “phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân” ..(gió tung muôn cánh thì nỗi sầu muôn phần) :

Một cánh hoa tàn Xuân kém tươi Lòng buồn vời vợi, gió chơi vơi Hoa xuân thấp thoáng, tình vương mắt Hồn ngỡ bâng khuâng, rượu thấm người (Khúc Giang- Đỗ Phủ)

Mùa xuân vừa ló dạng đó, nhưng rồi cũng khuất bóng lúc nào chẳng hay. Vui hưởng và thương xuân đó, nhưng rồi mỗi cánh hoa rụng lại báo hiệu một mùa xuân sẽ trở gót quay đi … bồi hồi thương tiếc cho một mùa xuân sắp tàn :

Thềm sân mờ tỏ nở đầy hoa Mành lụa bên song yến hót ca Phấn nhạt buông rèm ngồi ứa lệ Thương xuân, xuân chẳng biết đâu mà ! (Thương Xuân Khúc – Bạch Cư Dị)

Thư thái xuân về lắm sự mong Gió đông hây hẩy ấm xuân nồng Tháng năm hờ hững nhìn hoa nở Bệnh sẵn sầu dâng cảm xót lòng (Thương Xuân – Dương Vạn Lý)

Đúng vậy …mùa xuân đã tàn phai để lại nỗi buồn khắc khoải khôn nguôi cho người thưởng ngoạn, chẳng khác gì “trong xuân sinh là thu sát điêu tàn, sau hạ trưởng là đông sầu xơ xác ..” nói lên cái định luật vô thường biến chuyển khôn lường của vũ trụ …

Chúa xuân đi mất trời thôi đẹp Phố cũ hương tàn lạnh bóng thu (Mộ Xuân Hoài Cảm – Đái Thúc Luân)

Mỗi độ xuân về đã gợi cho những kẻ tha phương ly xứ nỗi niềm nhớ cố quận quê hương, nơi chôn rau cắt rún một cách da diết não nùng … nhất là cặp tình nhân phải cách xa nhau vạn dặm . Vương Duy trong bài Tạp Thi nói chuyện về một đôi trai gái, nhà nàng ở ven sông Hoàng Hà, còn chàng bận công vụ phải về Giang Nam. Nhân có người về Giang Nam, nàng nhắn tin thăm chàng, và chàng cũng dọ hỏi người tin và xót xa đau lòng khi vẫn biết rằng bên song cửa nhà nàng, mai vàng đã nở hoa, cỏ cây xanh ngát, chim non ríu rít trên cành, nhưng “lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nàng vẫn sầu muộn bên song cửa đợi tin chàng từ phương trời thăm thẳm … Những tình cảm nhớ quê, nhớ người như những cơn sóng bập bềnh đã dồn dập xao xuyến không ngừng …

Anh từ quê cũ mới ra Hỏi thăm anh biết chuyện nhà ra sao Nhìn qua song cửa hôm nào Hỏi anh có thấy mai đào nở hoa ? (Tạp Thi – Vương Duy)

Nói đến tình yêu quê hương thiết tha mỗi độ xuân về phải nhắc đến nhà thơ Đỗ Phủ, một ngôi sao sáng chói trên Thi đàn Trung Quốc vào thời Thịnh Đường . Ông là nhà nho tiến bộ, hấp thu được những tư tưởng Khổng Mạnh thâm thúy sâu sắc, có một nhận thức rất đứng đắn về nhiệm vụ, bổn phận, và vai trò của kẻ sĩ thanh liêm, nghiêm túc đối với vua, với nước và với dân .. Thơ ông đượm đà tình yêu nước thương dân nồng nàn thắm thiết, tình nhân đạo vị tha bao dung… Thơ ông đã phản ảnh trung thực đời sống trung thực của những người dân bị áp bức bóc lột dưới chế độ phong kiến tàn bạo của giai cấp quan liêu thống trị … Thơ Đỗ Phủ là tiếng nói trung thực đậm đà của chính lòng ông, gây lại một ấn tượng mãnh liệt làm xúc động người đọc .. Nỗi nhớ quê nhà của ông thấm thiết vô cùng khi mỗi độ xuân về khi thấy những cây mai vàng đã bắt đầu hé nụ :

Tháng chạp mai hé nụ Sang năm nở đầy hoa Biết rằng ý xuân đẹp Sao khách vẫn sầu a Cây chung màu tuyết trắng Gió vờn sóng sông xa Vườn cũ tìm đâu thấy Núi Vu cây rườm rà (Giang Mai- Đỗ Phủ)

Cố quận quê hương ruột thịt thì mịt mùng xa cách, nỗi nhớ nhung nơi chôn rau cắt rún khi phải sống cuộc đời lữ thứ tha phương .. một nỗi buồn mênh mông sâu lắng và dằng dặc vô cùng để nhà thơ phải khắc khoải tự hỏi “ hôm nao mới được về nhà thăm quê ?” … Bài thơ u hoài vương vấn một nỗi buồn riêng mang khắc khoải và kín đáo:

Sông xanh càng trắng chim trời Núi cao biếc thắm rạng ngời đỏ hoa Thấy rằng năm hết xuân qua Hôm nao mới được về nhà thăm quê ? (Tuyệt Cú 12 – Đỗ Phủ)

Thơ Đỗ Phủ đã biểu lộ tính cách hiện thực vì ông là nhân chứng của thời đại đã tai nghe mắt thấy được những thảm họa chiến tranh, những nỗi bi thương trầm thống của xã hội phong kiến bất công suy đồi, sự xa hoa trụy lạc của giai cấp thống trị quan liêu, và chính bản thân ông, đời sống ông cũng đã trải qua những thăng trầm tang thương qua cuộc sống cơ hàn, vất vả, và khốn khổ.. Cuộc đời ông hầu như bôn ba tứ xứ nơi đất khách quê người, nên ông đã chứng kiến thường xuyên những cảnh chiến tranh chết chóc, những nhiễu nhương của xã hội và cuộc sống bần cùng, không những của chính bản thân ông mà còn của những kẻ tha nhân không quen biết …Ông đã không được may mắn, thành công trên con đường thăng quan tiến chức như bao kẻ quyền sang biết luồn cúi và nịnh bợ triều đình … Tính tình ông quá ngay thẳng . Ngay khi ông mất nơi đất khách quê người, gia đình ông cũng không đủ tiền đem được linh cửu của ông về quê vì quá nghèo ..Thơ của ông tràn đầy tình nhân đạo sâu sắc, yêu nước thương dân… Chính thơ đã phản ảnh được cái chức năng “Thi ngôn chí “, tức thơ đã nói lên cái chí khí kẽ sĩ trong một giai đoạn lịch sử nào đó ..

Mất nước, còn sông núi Cây cỏ mọc thành xuân Thương tình hoa tủi lệ Biệt ly chim bần thần Ba tháng tràn khói lửa Thư nhà giá vô vàn Tóc bạc ngày thêm ngắn Cài trâm ắt phân vân (Xuân Vọng – Đỗ Phủ)

Những người lữ thứ nơi đất khách quê người là những người nhớ quê hơn ai hết, lòng nôn nao chỉ ngong ngóng ngày trở về quê cha đất mẹ, mỗi độ xuân về …

Vô tình nước cuốn hoa tan Tiễn đi đông lạnh, gió ngàn bay qua Đêm mơ hóa bướm, nhớ nhà Đỗ quyên rền rĩ, xót xa trên cành Vắng thư, ngày tháng trôi nhanh Mái đầu sương điểm, xuân quanh quẩn gần Muốn về chẳng mấy khó khăn Ngũ hồ sương khói, dễ cầm chân ta ? (Xuân Tịch Lữ Hoài – Thôi Đồ)

Khi làm cánh chim viễn xứ, phải rời tổ ấm của quê cha đất tổ, thì cái nỗi buồn thấm thía và da diết, nẫu nuột thấu tận tâm can phải là cái buồn xa quê hương, khi năm tàn tháng tận, vào những ngày cuối năm, mà phải lê thân quán trọ nơi đất khách xứ người, mà quê hương thì xa vời vợi …

Năm mới quê càng nhớ Góc trời mắt lệ sa Già lê thân quán trọ Xuân đến người phương xa Sớm chiều cùng vượn núi Sông gió liễu thướt tha Khác chi câu truyện cổ Còn lại bao năm qua ? (Tân Niên Tác – Lưu Trường Thanh)

Có những nhà thơ còn chút may mắn hơn Đỗ Phủ là đến cuối cuộc đời già, đã đạt được cái hoài bão về thăm quê hương … Hạ Tri Chương đi làm quan xa nhà mãi đến năm 86 tuổi vì già ốm xin từ quan về quê. Sau hơn năm mươi năm xa cách, ông mới về quê vào dịp xuân về, và ông đã cảm khái viết nên bài Hồi Hương Ngẫu Thư (2 bài). Khi ra đi chỉ mang theo kỷ niệm dạt dào và tình cảm gắn bó với quê nhà, mà sau bao nhiêu năm mải mê đeo đuổi sự nghiệp công danh, vẫn cảm thấy tình quê hương là tình cảm thiêng liêng cao quí chẳng hề đổi thay trong lòng dạ người thơ. Nhưng lúc về đến nhà thì bao nhiêu cảnh vật, sự kiện đã đổi thay, đám trẻ quê nhao nhao vì nghĩ rằng nhà thơ cũng chỉ là kẻ lạ lẫm từ phương trời nào xa lạ tạm ghé qua đây. Cha mẹ thì đã qua đời từ lâu, còn bạn bè thì kẻ mất người còn, tạo nên nỗi chán chường ảo não tuyệt vọng của nhà thơ trước cảnh biến thiên của muôn sự, cuộc đời dâu bể tang điền thương hải mong manh vô cùng, nên nhà thơ chỉ còn biết bám víu vào một hình ảnh bất biến đó là sóng nước mặt hồ Gương vẫn còn nguyên vẹn với gió xuân phe phẩy, làm dịu mát lòng người …

Trẻ ra đi, lão mới về Tóc bông thưa thớt, tiếng quê dạt dào Trẻ con lạ lẫm nhao nhao Hỏi cười “Khách ở phương nào đến đây ?”

Quê nhà xa cách tháng năm Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời Mặt Hồ Gương trước ngõ soi Gió xuân chắc chẳng đổi đời sóng xưa (Hồi Hương Ngẫu Thư – Hạ Tri Chương)

Nói đến mùa Xuân là nói đến nhựa sống căng tràn, là nói đến tình yêu lai láng dạt dào của những mối tình tuyệt đẹp giữa kẻ nam và người nữ . Bài thơ Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hộ là một giai thoại văn học nói lên một mối tình xuân muôn thuở nầy .. Chuyện kể rằng chàng sĩ tử Thôi Hộ đi thi bị hỏng, nhân tiết thanh minh đi du xuân ở phía nam thành Đô, thấy một trang trại cây cối xanh tươi tốt đẹp, ghé lại gõ cửa xin nước uống, thì gặp một tuyệt sắc giai nhân đứng dựa cành đào, e lệ chẳng nói năng chi, mà chàng trai Thôi Hộ thì đắm đuối nhìn … Hoa đẹp mà người cũng đẹp thay! Thôi Hộ từ giã bịn rịn ra về, năm sau cũng nhân tiết thanh minh ghé lại trang trại cũ đi tìm người xưa, cảnh vẫn không thay đổi, cây đào vẫn còn đó đùa cợt với gió đông, mà người đi đâu vắng, cửa đóng khen cài.. Thôi Hộ bồi hồi thương nhớ mà cảm xúc viết thành bài thơ đem gài vào cánh cửa ….

Năm ngoái hôm nay cũng cửa nầy Hoa đào má phấn đỏ hây hây Người đi đâu mất, còn hoa đó Ghẹo gió đông cười hoa ngất ngây (Đề Đô Thành Nam Trang – Thôi Hộ)

Các nhà thơ đã lấy hình ảnh của sự vật chung quanh, những gì bình thường trong cuộc sống mà nói lên những luyến lưu nhung nhớ của những mối tình lãng mạn, tạo dựng lên những bức tranh thơ trữ tình sống động, quyến rũ người đọc . Một Thôi Hộ đã dùng hình ảnh tươi mát của cây đào cười trước gió đông để vẻ nên hình ảnh tha thướt kiều diễm của người con gái, còn Vương Duy thì dùng hình ảnh của cây đậu đỏ để thầm nói lên nỗi nhớ tương tư da diết . Có một truyền thuyết ở miền Hồ Nam có một thiếu phụ có chồng đi lính thú miền xa, chẳng may chồng chết ở biên cương, người thiếu phụ thường đứng dưới cây nầy nhớ chồng khóc thương đến chết rồi hóa thành hạt đậu đỏ, mà người ta thường gọi là hạt “tương tư” để nói lên nỗi nhớ nhung trong tình yêu trai gái hoặc bạn bè :

Nước nam đậu đỏ đâm chồi Xuân về thắm nở xinh tươi trĩu cành Đậu xinh gợi nhớ tình xanh diệu huyền … (Tương Tư – Vương Duy)

Những cuộc tình thật lãng mạn như duyên với nợ, gần nhau đó để mà xa nhau, để mà nhớ thương khi mùa xuân không hẹn hò và chẳng ngần ngại trở về tự nhiên .. một trái tim thơ đã ngân vang nghìn cung bậc hòa nhập vào trái tim yêu … khi gió xuân khe khẽ xuyên màn …

Cỏ Yên biếc ngọc tơ ngàn Cành xanh trĩu nặng dâu Tần xa xa Chàng thân viễn khách nhớ nhà Thiếp buồn rười rượi ruột rà quặn đau Gió xuân lạ lẫm từ đâu Xuyên màn khe khẽ động sầu tâm ai … (Xuân Tứ – Lý Bạch)

Mùa xuân đến, chồng đi công tác xa, vợ ở nhà nhớ chồng mà đành đoạn tâm cang, đâu còn thưởng thức được cảnh hoa nở chim hót :

Oanh vàng xua đuổi bay xa Đừng cho chim cất tiếng ca trên cành Chim kêu làm thiếp giật mình Liêu tây khó đến đoạn đành tâm can (Xuân Oán – Kim Xương Tự)

Có những nhà thơ đã bộc bạch tình cảm của mình một cách chất phác chân thành. Họ đã bày tỏ diễn đạt ý nghĩ và cảm xúc của họ đối với bạn bè một cách tự nhiên, không che đậy. Họ đã thích thú tìm thấy trong chân tình bạn hữu những tâm hồn đồng điệu hòa nhịp theo nỗi buồn trầm lắng và niềm vui cất cánh bay cao .. Hãy xem Trần Tử Ngang vào một ngày xuân tiễn bạn tri âm lên đường, chất ngất nỗi niềm nhớ nhung, tâm tình gắn bó thiết tha … lời thơ trầm bổng lưu luyến để mà hỏi “ Gặp nhau, biết bao giờ ? ”

Khói xanh vờn đuốc bạc Tiệc ngon thơm rượu nồng Tri ân tình cầm sắt Đường đi ngăn núi sông Khuất vòm cây trăng sáng Sông Ngân tỏa ánh mờ Lạc Dương chừ muôn dặm Gặp nhau, biết bao giờ? (Xuân Dạ Biệt Hữu Nhân – Trần Tử Ngang)

Hoặc bài thơ Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch của Đỗ Phủ, cho thấy tình bè bạn, tri kỷ là cái gì cao quí trên cuộc đời nầy …

Thơ ai hơn Lý Bạch Ý tứ hay xuất thần Mát tươi như khai phủ Tài cao tựa tham quân Vị Bắc cây xuân ngát Giang Đông mây chiều gần Bao giờ chia chung rượu Nâng chén luận thi văn (Xuân Nhật Ức Lý Bạch – Đỗ Phủ)

Hoặc như Trịnh Cốc tiễn bạn ở bến sông Dương , bên những hàng liễu tha thướt màu biếc ngọc, xuân thắm… Họ đã cùng nhau đàm đạo, uống rượu, ngâm thơ, cùng chia sẻ cay đắng ngọt bùi trên đường đời, để rồi cũng đến ngày phải chia tay, mỗi người đôi ngả… Những cánh hoa dương ủ rũ héo mòn như thông cảm cùng đôi bạn . Mùa xuân là mùa của vui tươi hạnh phúc, của đoàn viên sum họp mà phải chia ly thì đâu có cảnh nào buồn hơn …

Liễu xanh rờn bến sông Dương Chạnh lòng ly khách hoa dương héo mòn Ly đình sáo gió véo von Tiêu Tương bạn đến, hướng Tần tôi đi (Hoài Thủy Biệt Hữu – Trịnh Cốc)

Những buổi chiều cuối năm khi nhà thơ nhìn nắng tàn rơi rụng ngoài sân, một nhánh mai vàng vừa hé nụ, báo hiệu cho mùa xuân mới sắp đến, làm nhà thơ dâng tràn cảm xúc ngậm ngùi .. khi nhớ quê, nhớ bạn, tự xót thương cho cảnh ngộ của mình .. Tác giả mượn thể thơ thuật hoài để bày tỏ nỗi lòng u uẩn, bang khuâng, đồng thời hé mở cho thấy cái quan niệm về nhân sinh và cuộc đời, như bài thơ “Nỗi Lòng Đêm Cuối Năm” của Lưu Vũ Tích :

Suốt năm không vừa ý Năm mới biết sao đây ? Bạn bè xưa thương nhớ Bao kẻ còn hôm nay Lấy nhàn mà vui sống Tuổi thọ bù gian nguy Xuân đâu cần mới cũ Chốn cùng cũng ghé ngay (Tuế Dạ Vịnh Hoài- Lưu Vũ Tích)

Có những bài thơ mang tính hiện thực, có tinh thần xã hội tiến bộ, khi nhà thơ đã dùng thi ca để phản ảnh bộ mặt thực đen tối của xã hội, cái suy đồi của chế độ phong kiến, cái bất công của giai cấp thống trị vua chúa, cái bất nhân xấu xa của những ông quan có thế lực và tiền tài .. Những bài thơ mang tính chất xã hội có giá trị và đó chính là cái chức năng thiêng liêng và cao quí của kẽ sĩ chân chính .. Người phụ nữ trong chế độ quan liêu phong kiến bị ràng buộc bởi những quan điểm hủ lậu nghiệt ngã như “trọng nam khinh nữ” họ chỉ là những bóng mờ bên lề cuộc đời.

Cung Tây đêm vắng ngát hoa xuân Muốn cuốn rèm châu oán hận dâng Ôm ấp cung đàn nghiêng dáng nguyệt Chiêu Dương mờ mịt bóng cây ngàn (Tây Cung Xuân Oán- Vương Xương Linh)

Những tháng ngày tuổi xuân phơi phới của cung tần mỹ nữ đã bị đày đọa, chôn vùi trong thâm cung, cấm thành, có khi suốt cả cuộc đời chưa thấy mặt quân vương …

Lầu cao bóng liễu nghiêng che Oanh ca hót sớm thảm thê cung tần Hàng năm hoa rụng ai màng Suối xuân đưa đẩy xuôi dòng ngự câu (Cung Oán – Tư Mã Lễ)

Người phụ nữ trong cung cấm không được quyền có hạnh phúc, sau một thời gian sung sướng, họ không còn được ơn mưa móc, tự chấp nhận số phận hẩm hiu, âm thầm quạnh quẽ chôn vùi cuộc sống cô đơn trong chốn thâm cung lạnh vắng ủ ê sầu …

Ơn vua thất sủng biết về đâu ? Thoảng chút hương xưa áo múa nhàu Tự giận thân mình thua cánh én Xuân về quanh quẩn bức rèm châu (Trường Tín Cung – Mạnh Trì)

Họ mỏi mòn lê dài cuộc sống vô vọng, để thời gian vô tình tàn phai nhan sắc, và đôi khi ngẩn ngơ, chua xót và thương tiếc vu vơ cho thời gian hương phấn vàng son đã trôi qua :

Tuyệt trần tuyết phải nhường hoa Hương thơm thoang thoảng vào tà áo vua Gió xuân đâu biết bông đùa Bay về thềm ngọc gió lùa bâng khuâng (Tả Dịch Lê Hoa – Khâu Vi)

Họ phải âm thầm chịu đựng, nhẫn nhục, chấp nhận cuộc sống lạnh nhạt, lẻ loi, như một bổn phận , hay đúng hơn một sự tự chấp nhận cái thân phận không may mắn, như một duyên phận, định mệnh của cuộc đời hồng nhan hẩm hiu, mong manh ..

Đẹp xinh càng duyên bạc Muốn về biếng gương soi Ơn vua chẳng vì sắc Trang điểm chi vẽ vời Gió xuân mừng chim hót Bóng hoa rợp ánh trời Bao năm cô gái Việt Phù dung hái nhớ người (Xuân Cung Oán- Đỗ Tuân Hạc)

Hoặc có những nỗi oán phòng khuê … khi người phụ nữ tự ăn năn hối hận tại sao không biết giữ chồng ở nhà lo việc canh nông đồng áng mà chỉ mong chồng lên đường kiếm tước hầu quyền cao chức trọng …

Thiếu nữ phòng khuê chẳng biết sầu Ngày xuân tô điểm bước lên lầu Bên đường chợt thấy hàng dương liễu Hận xúi phu quân kiếm tước hầu (Khuê Oán – Vường Xương linh)

Phần đông những kẻ sĩ thời phong kiến chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng triết lý Khổng Mạnh hoặc Lão Tử, mỗi người có một cảnh ngộ khác nhau, để tùy theo đó mà có tư tưởng thái độ và hành động khác nhau . Từ cuối đời Hán đạo Phật du nhập dưới các phái Thiền Tông đã có ảnh hưởng sâu xa đến lối suy nghĩ, hành động, và cảm hứng của các thi nhân. Thơ đã phản ảnh được cái chí hướng, nhận thức, tình cảm và nếp sống của con người …Có những nhà thơ xem thường cuộc sống bon chen danh lợi, chán ngán thời thế mà chỉ thích ngao du sơn thủy, những dòng thơ của họ mang tính lãng mạn tiêu cực. Họ mang tư tưởng “lạc thiên tri mệnh”, muốn lui về ở ẩn sống yên vui qua ngày tháng :

Sống nhàn suy nghĩ triền miên Đến, đi là sự ngẫu nhiên trên đời Gió chiều đẩy chiếc thuyền trôi Đường hoa thơm ngát mời người vào khe Núi Tây đêm phủ mây che Sao Nam lấp lánh bốn bề núi cao Mịt mù sương khói đầm ao Phía sau rừng thấp trăng sao tỏ mờ Chuyện đời bỏ mặc ngu ngơ Ôm cần câu cá nhởn nhơ vui đời (Xuân Phiếm Nhược Da Khê – Cơ Vô Tiềm)

Chịu ảnh hưởng của đạo học, lấy tư tưởng vô vi xuất thế làm kim chỉ nam cho thực tại nhân sinh, xem công danh sự nghiệp, phù vinh phú quý như mây trôi gió thổi:

Xóa buồn đi, cứ vui chơi Bận tâm danh ảo, thì đời mất vui ! (Khúc Giang – Đỗ Phủ)

Chán chê nếp sống xa hoa cung đình, từ chối cái hào nhoáng áo mũ xênh xang, có khuynh hướng thoát ly tiêu cực, thích vui thú điền viên, thơ văn của họ mang vẻ đẹp của bức tranh sơn thủy mộc mạc hữu tình, chan chứa đạo vị, an nhiên, dịu dàng và trong sáng…

Cõi trần xa lánh mười năm Non xanh gối mộng đêm nằm trăng mơ Lầu son… giấc ngủ vật vờ Kiếp phù vinh chẳng có cơ thanh bần Việc triều cương lắm gian truân Sống say sưa chỉ thêm phần chán chê Thôi thì quẩy sách về quê Hoa cười chim hót bốn bề hương Xuân (Quy Ẩn – Trần Phốc)

Họ an thân ẩn dật sống vui thú với rừng xanh ngan ngát cỏ hoa, suối chảy róc rách, chim kêu vượn hót, những khung cảnh thiên nhiên nhàn hạ, bình dị và tĩnh mịch.. Họ sống cuộc đời thanh cao đạm bạc … nên những lời thơ thường siêu thoát nhẹ nhàng, thoát tục, mang mang đạo vị …

Sang hèn tuy khác bậc Ra đường phải tranh nhau Riêng ta không ràng buộc Sống chẳng phải lo âu Mưa phùn đêm rơi nhẹ Cỏ mọc nào biết đâu Núi xanh trời rạng sáng Chim ríu rít nhà sau Thiền sư đôi khi gặp Tiều phu dạo cùng nhau Thua kém mình yên phận Phú quí chẳng bền lâu (U Cư – Vi Ứng Vật)

“Cuộc đời như giấc mộng – Làm chi thêm cực mà ..” thì cuộc đời cũng chỉ là “hoàng lương mộng” tỉnh giấc mà nồi kê vẫn chưa chín … nhà thơ Lý Bạch đã sống rất phóng túng ngạo nghễ, cách ly xã hội phiền toái, xa lánh trật tự quan liêu phong kiến của triều đình, xem thường cái quan điểm luân lý câu nệ, lễ giáo gò bó của nhà nho, nên những vần thơ của ông cũng phản ảnh sự bất chấp phóng túng hào hoa của ông rất tự nhiên :

Cuộc đời như giấc mộng Làm chi thêm cực mà Suốt ngày say bí tỉ Ngủ lăn trước hiên nhà Thức dậy nhìn sân trước Chim hót vui đời hoa Ngày nào hôm nay nhỉ Gió xuân vờn oanh ca Nhìn cảnh mà ngao ngán Thấy rượu đành rót ra Nghêu ngao chờ trăng sáng Hát xong quên sầu ta (Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí- Lý Bạch)

Có những nhà thơ đã muốn tự tách mình ra ngoài cái phiền toái của xã hội phức tạp, cái hưng phế thăng trầm của lịch sử triều đại, không đoái hoài đến cái vòng luẩn quẩn của phù hoa danh lợi, chỉ thích một cuộc sống nhàn dật vô vi, an nhiên tự tại với núi, sông, mây, gió .. Thái Thượng Ẩn Giả là ai ? những người cùng thời với ông chẳng ai hay biết … Ai hỏi thân thế nhà thơ ? ở đâu ? đi dâu ? Ông chỉ làm bài thơ “Đáp Nhân” (Trả lời người hỏi) … ở đâu, đến đâu cũng chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên … nói lên cái phong độ thư thái của người thơ … Dù cho xuân, hạ, thu, đông bốn mùa thay lá theo định luật tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ .. nhưng tâm hồn và quan niệm sống của người thơ vẫn không thay đổi, vượt thoát ra cái vòng cương tỏa của thời gian sách lịch, của xã hội tầm thường

Tình cờ bước đến gốc thông Gối cao trên đá giấc nồng chiêm bao Khó tìm sách lịch núi cao Rét run đã dứt năm nào chả hay ? (Đáp Nhân – Thái Thượng Ẩn Giả)

Những bài thơ đã diễn tả tâm trạng bi quan yếm thế … những người đã ngán ngẫm cảnh phù phiếm xa hoa, đã kinh sợ những chông gai cạm bẫy, những phản trắc của cuộc đời cát bụi vô thường … để bây giờ muốn trút bỏ tất cả những tục lụy trần ai của cuộc đời mà tìm đến thiền môn …. Một nơi chốn không còn hận thù tranh chấp, không còn đố kỵ nhỏ mọn ….

Trâm anh trút bỏ tặng quanh làng Ngán ngẩm xuân tàn tóc cắt ngang Kinh sợ đời người như nến gió Giờ đây thân xác tựa sen vàng Mở xem lá bối lầm chương gấm Lần học trang kinh ngỡ bụi đàng Sắc đẹp là không, thôi giã biệt Sông Tương chắc vắng kẻ quyền sang (Kỹ Nhân Xuất Gia – Dương Tuân Bá)

Một bài thơ tình mang gốc huyền thoại thần tiên mà người đời vẫn còn ưa thích, đã trở thành điệu hát ca trù rất phổ biến đó là Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai hái thuốc và gặp hai tiên nữ rất xinh đẹp, mời Lưu Nguyễn về nhà tiếp đãi ân cần. Ở trong núi nửa năm, Lưu Nguyễn xin trở về nhà.. về đến trần gian đã trải qua bảy đời người . Trong 5 bài thơ đó có bài thơ tả “ Tiên Nữ Trong Động Nhớ Lưu Nguyễn” vào một ngày xuân thanh vắng :

Gảy khúc nghê thường chẳng có ai Mộng trần đâu biết mộng tiên dài Trời riêng góc động xuân yên ắng Nẻo khuất dương trần nguyệt úa phai Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc Suối thơm đào ngát nước xanh trôi Mỏng manh sương sớm đèn trong gió Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai ? (Tiên Tử Động Trung Hữu Hoài Lưu Nguyễn – Tào Đường)

Có những bài thơ hoài cổ vịnh sử, phản ảnh những giai đoạn thăng trầm của lịch sử … như bài Xích Bích Hoài Cổ của Đỗ Mục. Người thơ đã dùng những sự kiện hư cấu để làm câu chuyện thêm hứng thú bằng cách đưa ra một di tích lịch sử phát hiện được trên bãi chiến trường xa xưa, đó là một thanh kích sắt đã gãy và bị chôn vùi trong đất cát lâu ngày, để nhắc lại truyện xưa. Chu Du là danh tướng Đông Ngô thời Tam Quốc, là bạn của Tôn Sách và có công giúp Tôn Sách xây dựng nước Đông Ngô. Khi Tào Tháo đem quân xuống đánh, nhờ Khổng Minh cầu ngọn gió đông về để giúp Chu Du thực hiện được kế hỏa công đốt phá doanh trại của Tào Tháo, chiến thắng trận Xích Bích vẻ vang .. Hai Kiều đây có ý nói là hai người đẹp nổi tiếng của Đông Ngô, Đại Kiều vợ của Tôn Sách và Tiểu Kiều vợ của Chu Du … Trong bài thơ vịnh sử nầy Đỗ Mục đã đặt giả thuyết nếu không có ngọn gió đông giúp Chu Du thì Đông Ngô bại trận và hai nàng Kiều đã bị bắt về đài Đông Tước …

Kích vùi trong cát, sắt chưa tan Mài rửa, triều xưa thấy rõ ràng Giá thử Chu Du không được gió Hai Kiều bị giữ chốn đài xuân (Xích Bích Hoài Cổ – Đỗ Mục)

Mùa Xuân đến mọi nơi, nhưng không phải nơi nào cũng là chốn để vui xuân, thưởng xuân .. khi mà chiến tranh khói lửa triền miên đã xảy ra, gây bao cảnh biệt ly, tang tóc … Ở những chốn biên cương, đèo heo hút gió … xơ xác ảm đạm thì mùa xuân chỉ còn hoang vắng, lạnh lẽo, thê lương … “mộ biếc ba xuân đầy tuyết trắng “ như những lời than oán rền rĩ của người lính thú biên cương, phải đằng đẵng xa gia đình bao năm tháng …như trong bài thơ tả cảnh biên tái như sau :

Bao năm ải Ngọc với sông Vàng Mỗi sáng roi vờn với kiếm cung Mộ biếc ba xuân đầy tuyết trắng Hắc sơn muôn dặm uốn sông Hoàng (Chinh Nhân Oán – Liễu Trung Dung)

Xuân đến và xuân đi như gió thoảng mây trôi … Xuân đến cho muôn hoa đua nở, mạch sống tuôn tràn … Xuân đi cho hoa lá héo tàn , lòng người cô quạnh, cảnh trời hiu hắt ..Tuổi xuân cũng chỉ ngắn ngủi tấc gang, chẳng sống được dài lâu .. Xuân đã đi rồi đi đem lại nỗi sầu tàn phai, thương tiếc, nhớ nhung như hai nhà thơ Hàn Dũ và Vương Duy đã bộc bạch :

Biết xuân chẳng ở dài lâu Cỏ cây khoe sắc muôn màu khắp nơi Quả du hoa liễu kém tươi Chỉ còn bông tuyết khắp trời bay giăng (Vãn Xuân- Hàn Dũ)

Già theo ngày tháng trôi nhanh Năm quanh quẩn hết, xuân xanh đến hoài Vui cùng cốc rượu mà say Cần chi thương tiếc hoa bay ngoài trời (Tống Xuân Từ – Vương Duy)

Mùa xuân trong Đường Thi là bức tranh thủy mạc màu sắc hài hòa, có những nhà thơ tả cảnh thiên nhiên núi sông cây cỏ hoa bướm bằng những nét chấm phá đơn sơ, mộc mạc, nhưng đó là những gam màu pha trộn của một nghệ thuật hội họa tinh vi và sâu sắc .. Bằng những tầm mắt xa rộng, họ đã cho chúng ta thấy cái huyền diệu của thiên nhiên vũ trụ bao la, của hương vị Thiền và Đạo man mác , của sự thư thái và an nhàn để mà suy tư về sự vô thường và hữu hạn của cuộc đời . Những hình ảnh linh động và âm thanh dạt dào trong ngôn từ tinh vi cô động đã biểu hiệu cảm xúc chân thành, và gợi lên những liên tưởng thâm thúy và tư duy mẫn cảm .. Hãy lắng nghe tiếng chim kêu lanh lảnh bên khe suối mùa xuân của thi sĩ Vương Duy :

Người nhàn hoa quế rụng Đêm xuân núi đìu hiu Trăng lên chim thảng thốt Khe xuân vọng tiếng kêu (Điểu Minh Giản – Vương Duy)

Bài thơ tả tình và cảnh một cách rất nghệ thuật, mông lung giữa làn sương khói u hoài và ánh trăng soi huyền diệu trên bến nước dập dềnh mênh mông … làm người đọc phải bần thần suy tư : đó là bài thơ “Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân” của Trương Nhược Hư . Nhà thơ đã xử dụng ngôn ngữ thẩm mỹ một cách tài tình, những hình ảnh âm thanh sống động có sức gợi cảm ngân vang, cùng với sự sáng tạo, tưởng tượng liên kết lạ lùng, gây nên những tác động mạnh mẽ và sự tiếp thụ phong phú nơi người đọc . Bài thơ đã dẫn dắt người đọc đưa những bước chân hụt hẩng vào một thế giới cảm xúc mênh mang của cụ thể và trừu tượng, của vô hình và hữu hình, của thực chất và mộng ảo …

Biển vắng sông êm gợn nước bằng Lung linh trăng tỏ sóng triều dâng Mênh mông theo sóng trôi ngàn dặm Xuân thắm sông nào chẳng có trăng ?

Sông quanh đất ngát thoảng hương đầy Trăng sáng rừng hoa ngỡ tuyết bay Lất phất sương rơi nào có thấy Sông dài cắt trắng chẳng ai hay

Tinh khiết trời sông một sắc màu Trăng soi vằng vặc suốt đêm thâu Hỏi ai đã thấy vầng trăng cũ Có nhớ năm nao rực bến đầu

Kiếp người dâu bể mãi sinh sôi Trăng chiếu bên sông cũng thế thôi Chẳng biết vì sao trăng rạng rỡ Sông dài giục giã nước buông trôi

Lơ lửng mây trôi trắng xóa màu Hàng phong bến vắng động tâm sầu Đêm nay thuyền nhỏ ai rong ruổi Trăng sáng lầu cao gợi nhớ nhau

Quạnh quẽ vầng trăng dạ thốn đau Sáng soi gương điểm kẻ ly sầu Luyến lưu trăng ngủ trên thềm ngọc Quanh quẩn chày đêm dẫu quét lau

Càng ngóng trông nhau cứ biệt tăm Xin trăng xoải bóng đến thân chàng Khó mang ánh nguyệt ràng chân nhạn Rồng cá đua bơi gợn sóng vàng

Hoa rơi đầm vắng mộng đêm qua Tiếc nửa đời xuân cố quận xa Sóng nước trôi xuân, xuân sắp tận Đầm tây trăng xế lạnh đêm tà

Trăng chìm sóng biển dặt dầy sương Núi Kiệt sông Tương bóng mịt mùng Mấy kẻ cưỡi trăng nào có biết Bến cây trăng lạnh nghĩ mà thương … (Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ – Trương Nhược Hư)

KẾT LUẬN : Thế giới Đường Thi là một bức tranh thủy mặc hài hòa với những con chữ lẫn hồn thơ, là một sự phối hợp tuyệt tác giữa các màu sắc tuyệt mỹ và âm thanh trầm bổng làm quyến rũ người thưởng ngoạn vô cùng … Trên thi văn đàn Trung Quốc, mỗi một thi-sĩ có một cá tính sắc thái riêng biệt, một phong cách và khuynh hướng khác nhau.. Trong phạm vi thu hẹp đề tài “ Tình Xuân Trong Đường Thi” chúng tôi chỉ xin đan cử một số bài thơ xuân tiêu biểu mà thôi, chứ thật ra kho tàng của Đường Thi chất ngất vô vàn, như khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy hoa thơm cỏ lạ… Những người yêu thơ dầu ở cách xa nhau ngàn dặm, không nói, mà vẫn có những điểm tương đầu ý hợp khi cảm xúc được một bài thơ hay, một câu thơ đẹp, một ý thơ thâm thúy nào đó … Tác giả nếu có gì thiếu sót hoặc bất cẩn xin quí cụ túc nho trưởng thượng miễn thứ, và mong bạn đọc yêu thơ Đường miễn chấp . Tác giả xin chân thành cảm tạ . Vì chúng tôi chưa có nhu liệu cần thiết để đưa nguyên tác bài thơ chữ Hán lên liên mạng, xin quí bạn đọc thông cảm. Hải Đà – Vương Ngọc Long

 

Tinh Thu Trong Duong Thi

(Một chiếc lá ngô đồng rụng xuống Cả thiên hạ biết mùa thu trở về)

Thiên nhiên và mùa Thu giao hưởng là một bức tranh sơn thủy hữu tình, là cả một nguồn tha thiết khơi động cảm xúc bao la và thi hứng tuôn trào cho tao nhân mặc khách. Bức tranh Thu là phối hợp những đường nét tinh tế, những gam màu mỹ thuật, và những âm thanh chọn lọc, tất cả nhẹ nhàng lâng lâng như màn sương khói chìm đắm hồn người …..

Bước vào thế giới Đường Thi là bước vào một vũ trụ Thơ mênh mang bát ngát vô chung vô thủy, là đi vào một thế giới huyền thoại của tác động và mỹ thuật , của biểu cảm và hình tượng , có khả năng khêu gợi và cuốn hút tâm tư người đọc. Ngôn ngữ thơ Đường rất giàu hình ảnh và cảm xúc . Người ta thường nói “ý tại ngôn ngoại” (ý tại ngoài lời), những bài thơ Đường ngắn gọn như bát cú, tứ tuyệt, chỉ giới hạn trong một số từ ngữ nhất định, mà đã diễn đạt tất cả những suy tư cảm xúc của tác giả , mặc dầu cô động hạn chế, nhưng rất hàm súc, toàn bài thơ như đôi mắt … cửa sổ của linh hồn đã giải bày được đời sống nội tâm, trạng thái tư duy, dung hòa giữa mẫn cảm của con tim và nhận thức của khối óc .

Nhạc điệu câu thơ hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng ngân nga, âm hưởng sâu sắc nồng nàn, tạo nên những cảm giác nhẹ nhàng êm ái dễ đi vào tâm hồn người đọc. Cái phong cách của Đường Thi là một tổng hợp tinh vi của một nghệ thuật xử dụng ngôn ngữ phong phú điêu luyện qua thi pháp, thể loại, từ điệu, âm nhạc … đồng thời đã phản ảnh những quan điểm tích cực và tiêu cực , những tư tưởng triết lý của nhà thơ , được ăn sâu như gốc rễ qua các triều đại lịch sử …. Khi nhà thơ đã đắm chìm phong tỏa trước một thế giới vật chất chung quanh, của một khung cảnh thiên nhiên bao la vô hạn, con người thơ chỉ cảm thấy mình là một sinh vật nhỏ nhoi bất lực, đành mang một tư tưởng yếm thế thụ động ” Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” … Có những nhà thơ suốt đời mang hoài bão ” trí quân trạch dân” , “kinh bang tế thế ” đến khi gặp cảnh không may, gian khổ , cảnh ngộ éo le, thì chán nản buông xuôi thích tìm đến thiên nhiên với cuộc đời “bán quan bán ẩn” … Họ đã tìm thú tiêu khiển bằng cách điền viên ẩn dật, phỏng đạo cầu tiên …. Nội dung thơ miêu tả thú điền viên, sơn thủy, lối sống ẩn dật thanh nhàn chịu ảnh hưởng đạo lý vô-vi đã chiếm một vị trí quan trọng trong thơ Đường . Thiên nhiên của thơ Đường bàng bạc tình Xuân , Hạ, Thu, Đông ……. Bốn mùa hoa lá thay màu, đâm chồi nẩy lộc sẽ tuần tự biến thiên theo định luật vô thường của vũ trụ … nhưng Tiết Thu, Tình Thu, Ý Thu mãi mãi là sức hút lôi cuốn mãnh liệt muôn chiều của thi ca nghệ thuật trong nền văn hóa Đông Tây kim cổ …. Phạm vi bài sưu khảo nầy đề cập đến Tình Thu trong Đường Thi, gồm khoảng 70 bài thơ Thu tiêu biểu xuất sắc của các thi sĩ nổi tiếng, những thiên tài xuất chúng, những đại thụ sừng sững trên thi đàn Trung Quốc như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Trương Kế, Vương Duy, Giả Đảo, Lưu Vũ Tích … Đó là những ngôi sao lấp lánh trên thi đàn đời Đường Tống đã xử dụng bút pháp tinh vi và mẫn tuệ tuyệt vời để ca ngợi một mùa Thu mênh mang, một tình Thu dịu vợi, một ý Thu bàng bạc, một hồn Thu lâng lâng, trầm lặng đến nao lòng của trăng sương, gió núi, với những phút giây thanh thản hồn nhiên, trong nỗi bâng khuâng cánh nhạn bay về, hòa lòng xao xuyến theo nhịp chày đập vải may áo, nỗi niềm ray rứt đón gió heo may the thắt lạnh lùng, nỗi lòng ảm đạm nhìn ánh lửa bập bùng đom đóm trong đêm, những tiếng tơ lòng khao khát ngân vang trầm mình trên những phím đàn thánh thót dưới ánh trăng ngà, với lá ngô đồng rơi lả tả đầy ắp thềm trăng. Bức tranh thu đã được tô đẹp bằng một vầng trăng thu huyền ảo … Trăng soi lồng lộng trên sóng nước bập bềnh biến dòng sông thành một giải lụa vàng óng ả . Trong một đêm trăng vắng vẻ nhà thơ Lý Bạch nằm trong thư phòng, bóng trăng khe khẽ len qua khung cửa sổ rọi sáng đầu giường, trong một không gian tịch mịch giữa đêm, hồn thơ đã nhập vào hồn trăng bay lâng lâng vào một cõi mộng ảo vô cùng … Những tia sáng của trăng chập chờn mờ ảo đã làm nhà thơ ngỡ ngàng như sương khói bao phủ đầu giường, nhìn trăng mà lòng buồn vời vợi, ngỗn ngang trăm mối tơ lòng … Có nỗi buồn nào ray rức da diết ngấm tận hồn bằng nỗi sầu nhớ cố hương, quê cha đất tổ :

Giường khuya trăng chiếu bời bời Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao Ngẩng đầu trăng sáng trên cao Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào…. cố hương

(Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch)

Bài thơ thu nầy đã vẽ lên một bức tranh sống động, có một âm hưởng tuyệt vời, trở thành một bài nhạc phủ (khúc hát mùa thu) trác tuyệt của Đường Thi .. “Ngưỡng đầu khán minh nguyệt, Ký tình thiên lý quang ” (Ngẩng nhìn trăng sáng lung linh, Xót thương nghìn dặm gửi tình quê xa) .Trăng là người tình chung thủy của Lý Bạch, để cuối cùng trong một đêm say khướt nhà thơ đã trầm mình xuống sông Trường Giang để được ôm vầng trăng trăng huyền ảo để cùng với trăng vĩnh viển an giấc ngàn thu ….Không có trăng nào đẹp bằng trăng thu, chẳng có trăng nào nào sáng hơn trăng quê như Đỗ Phủ đã âm thầm hoài vọng thiết tha :

Tha phương đêm phủ màu sương trắng Cố quận trăng soi ánh tỏ ngời (Nguyệt Dạ Ức Xá Đệ – Đỗ Phủ)

Hãy tưởng tượng khi nhà thơ một mình nằm trên thuyền trong một đêm thu , nhìn những hàng cây lá phong đỏ ối, lả tả rơi rụng trên giòng sông cuốn trôi, đóm lửa chài bập bùng, tiếng quạ kêu, và văng vẳng trong đêm thanh vắng là tiếng chuông chùa ngân vang, ai mà chẳng chùng lòng não nuột ….

Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ … (Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế)

Phong cảnh mùa thu đa tình đa cảm ru ngủ lòng người đã được diễn tả qua ngòi bút trác tuyệt tài tình của thi nhân:

Oanh vàng liễu biếc song song hót Nhạn trắng trời xanh vút vút bay Tây lĩnh nghìn thu sương tuyết phủ Đông Ngô thuyền đậu lớp lớp đầy (Tuyệt Cú – Đỗ Phủ)

Mây chiều gom hết trời thu giá Lẳng lặng sông Ngân đổ nguyệt đầy Kiếp ấy đêm nao tình nở đẹp Chốn nào trăng sáng hẹn cùng say ? (Trung Thu Nguyệt – Tô Thức)

Ảm đạm trời thu điểm ánh thiều Hán Cung lồng lộng gió phiêu phiêu Lưa thưa sao sớm vờn chân nhạn Réo rắt lầu khuya lộng sáo diều (Tràng An Thu Tịch -Triệu Cổ)

Mùa Thu là mùa của gợi nhớ mông lung, nhớ nhà, nhớ quê, nhớ gia đình của những kẻ phải mang kiếp sống tha phương lênh đênh nơi xứ lạ quê người, cái nỗi niềm cô độc lầm than của một kiếp sống ly hương:

Lưa thưa sao sớm vờn chân nhạn Réo rắt lầu khuya lộng sáo diều Sông quê mùa cá, chưa về xứ Đày đọa phương người, phận hẩm hiu (Tràng An Thu Tịch – Triệu Cổ)

Tùng cúc hai lần rơi lệ uất Đò đơn một độ khóc quê ròng Thấu xương cơn rét cần may áo Bạch Đế chày buông tiếng chập chùng (Thu Hứng – Đỗ Phủ)

Có những bài thơ Thu đã được sáng tác để ghi nhớ, hồi tưởng lại một giai đoạn lịch sử nào đó, nhớ lại một thời vàng son nhung gấm , khi nhà thơ đã nhập thế, làm quan, lo việc triều cung, nhưng đôi khi gặp hoàn cảnh không may, không được thăng quan tiến chức, mà thất vọng chán nản, đành thúc thủ an phận, chấp nhận số mệnh một cách tiêu cực theo đạo lý Trung Dung : “Thượng oán bất thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh” (Trên không oán trời, dưới không trách người, sống bình dị đợi mệnh)

Nức nở ve kêu thương nguyệt úa Não nùng đom đóm khóc chiều ngây Tài văn bao thuở triều cung hiến Thở vắn đêm sương lệ ứa đầy (Tân Thu – Đỗ Phủ)

Ghé bến thu sầu đau dạ khách Lên non tuổi hạc xót thương mình Phơ phơ tóc trắng đời chao đảo Lắm nỗi chua cay, rượu chẳng đành (Đăng Cao – Đỗ Phủ)

Lê gót phong trần, thư bặt tín Dặm trường quan tái, bước gian nan Mười năm lủi thủi đời hiu quạnh Thúc thủ giờ đây sống tịnh an ( Túc Phủ – Đỗ Phủ)

Những hạt mưa thu rơi thánh thót bên song gợi nỗi sầu hiu hắt, cảnh lòng quạnh quẽ cô đơn, sau tháng ngày đăng đẳng việc triều cung, nay ngồi ngẫm nghĩ về thân phận con người và cuộc đời :

Nắng tàn dạo mát hồ trong Lăn tăn sóng nước gợi lòng cô liêu Sự đời trôi nổi đã nhiều Hỏi con nước chảy còn điều thở than ? (Thu Nhật Hồ Thượng – Tịch Huỳnh)

Cái chế độ phong-kiến của Trung Quốc đôi khi chỉ là một lớp son phô trương lòe loẹt, một phồn vinh giả tạo, một tập đoàn bè phái vương tộc, những nhà nho nhập cuộc với quan điểm “nhập thế hành động”, nhưng đôi khi họ cảm thấy chán nản vì không thực hiện được cái hoài bão to lớn của họ mà họ ngán ngẩm thời thế ,đành phải từ bỏ áo mũ xênh xang, quyền cao chức trọng, để lui về ẩn dật, vui thú điền viên, bỏ hết tục lụy trần ai, dùng ngòi bút ca ngợi sự thanh nhàn theo quan điểm đạo Phật “xuất thế vô vi” , hoặc cầu cứu đến phép vô sinh, thuốc tiên huyễn hoặc phù phiếm ….

Người Nam, kẻ Bắc dừng đây Gió qua sông Sở lắt lay bãi tần Thu sầu khó cảm thiền nhân Mình ta đầu núi, lòng lâng lâng buồn (Đề Hoài Nam Tự – Trình Hiệu)

Tóc trắng mong đen nào ước được ? Thuốc tiên muốn luyện khó cầu may Tuổi già suy yếu ai nào cưỡng ? Đạt phép vô sinh nguyện ước đầy (Thu Dạ Độc Tọa – Vương Duy)

Cái triết lý về cuộc đời, nhân sinh quan cũng thấy trong những bài thơ thu, theo quan điểm cuộc đời chỉ là một giấc hoàng lương mộng, kiếp sống tạm bợ, phù du :

Cây tàn gợi khách lòng đau Đêm nghe tiếng gió thu sầu vi vu Sớm soi gương tóc rối bù Bóng hình in kiếp phù du ngỡ ngàng (Thu Triêu Lãm Kính -Tiết Tắc)

Dặm trường tóc trắng mây bay Sầu bao nhiêu nỗi đong đầy khôn vơi Thẫn thờ lặng ngắm gương soi Sương thu nào thấy bên đời phù du ? (Thu Phố Ca – Lý Bạch)

Có những bài thơ nói lên cảnh biên tái thời cảnh chiến chinh, binh đao khói lửa, cảnh chiến trường thảm khốc thê lương ảm đạm:

Sông thu ngựa uống sa đà Nước se se lạnh, gió sà cắt da Cát đìu hiu quạnh bóng tà Lâm Thao chốn cũ xa xa rập rình Trường Thành bao độ chiến chinh Nêu gương tiết khí, vẹn tình nước non Tấc lòng kim cổ sắt son Phau phau xương trắng chập chờn cỏ lau ( Tái Hạ Khúc – Vương Xương Linh)

và nỗi lòng của người chinh-phụ ở quê nhà, nhớ chồng đi thú đồn xa, đó là những cảm xúc nội tâm quằn quại , đau thương của thời chinh chiến, có bao người ra đi mà trở lại :

Trường An lẻ bóng trăng côi Tiếng chày đập vải buông lơi bốn bề Gió thu dìu dặt lê thê Chắc từ quan ải lùa về đêm mơ Bao giờ hết giặc hung đồ Chàng thôi chinh chiến, em chờ bên song (Tử Dạ Ngô Ca – Lý Bạch)

Đó là những nỗi ngậm ngùi xót xa, những lời u uất, than oán, sầu hận của người vợ thương nhớ chồng đang dãi nắng dầm sương nơi biên tái với bao gian nan hiểm nguy đang rập rình chờ đợi, và người chinh phụ ở quê nhà chỉ biết vào ra canh cửi

Chàng đi quan ải xa xôi Đá xanh em rửa, bồi hồi thu sang Xác xơ cây cỏ héo tàn Thêm sầu ly biệt bẽ bàng vấn vương Áo thời em giặt em thương Nôn nao gửi kịp biên cương cho chồng Thêu thùa em chẳng ngại công Chàng ơi có thấu tiếng lòng phu thê… (Đảo Y – Đỗ Phủ)

Có những bài thơ đã nói lên cái hoàn cảnh xã hội bi đát của một chế độ “phong kiến tôn quân”, người phụ nử trở thành một nô bộc, một công cụ vui chơi để thỏa mãn nhu cầu sắc dục của vua chúa . Cái quan điểm chồng chúa vợ tôi đã được thi hành một cách triệt để : “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử “, tình yêu đã bị phủ nhận, hạnh phúc bị triệt tiêu … đó là số phận hẩm hiu chua xót của các cung tần mỹ nữ , đã phải từ bỏ cuộc sống gia đình chân chính để bị đầy đọa trong thâm cung lặng lẽ, nhan sắc héo mòn với thời gian, tuổi trẻ tàn phai bị chôn vùi một cách tức tưởi một khi họ không còn được vua chúa ân sủng nữa. Đó là những bài thơ có tính cách xã hội đã lột trần phơi bày cái giai cấp thống trị độc ác, bạc bẽo và bất nhân . Những tâm trạng chua xót của các cung tần mỹ nữ sống cô đơn mỗi độ thu về , mặc dầu chỉ là những lời than trách nhẹ nhàng và chịu đựng ….

Móc sương ướt đẫm cung thềm ngọc Chăn gấm đêm trường thấm lạnh thân Buông bức rèm gương lòng thổn thức Trăng thu ngóng đợi sáng đầy sân (Ngọc Giai Oán – Lý Bạch)

Sen thắm đâu bằng sắc mỹ nhân Gió lùa Thủy Điện ngát châu thân Quạt thu che kín ôm sầu hận Trăng đợi quân vương mãi trắng ngần (Tây Cung Thu Oán -Vương Xương Linh)

Cái nỗi khát khao tìm kiếm một hạnh phúc gia đình bình dị của người cung nữ với nỗi sầu khôn nguôi năm tháng, ôm hận nhìn dòng nước chảy nhanh, như vô tình xô đẩy tuổi thanh xuân không chút xót thương, người cung nữ đã phải đề bài thơ trên chiếc lá phong đỏ úa thả xuống dòng sông, theo nước cuốn trôi hờ hững, mong rằng một kẻ tha nhân nào đó nhặt chiếc lá, để đọc được những ý nghĩ thầm kín tha thiết của người cung phi bị tù ải lâu đời muốn nhắn nhủ:

Sông sâu nước chảy xiết cùng Thâm cung nhàn rỗi, não nùng thâu đêm Lá hồng … gửi gắm lòng em Người ơi thấu hiểu nỗi niềm cấm cung ? (Đề Hồng Diệp -Hàn Thị)

Đọc thơ Đường để cảm nhận tiếng lòng xao xuyến của người xưa vọng lại của hồn xưa trăn trở còn phảng phất đâu đây… Những bài thơ thu với những từ diệu điêu luyện, ý tưởng phong phú, cảnh tình thắm thiết … đậm đà tình cảm sâu sắc, nồng nàn, với những ngôn ngữ thâm thúy, tự nhiên hàm súc, ý tưởng chân thật thanh đạm , luật thi rất tinh mật , hoặc có những bài thơ giàu chất trí tuệ hơn cảm xúc …. Những tâm tình của người xưa : tình bạn hữu, tình vợ chồng, tình vua tôi , và ít oi những bài thơ ca tụng tình yêu đã bàng bạc trong những bài thơ đậm đà màu sắc nghĩa tình, đạo lý …. Những nỗi bồi hồi, thao thức nhớ bạn tri âm, trằn trọc đêm dài …

Nhớ bạn đêm thu thổn thức chờ Trời thanh, dạo mát, động hồn thơ Thông rơi lả tả bên đồi vắng Khắc khoải năm canh ngủ vật vờ (Thu Dạ Ký Khâu Vương Ngoại – Vi Ứng Vật)

Những phút giây thanh thản vô tư quên đời , dạo chơi trên Động đình Hồ, thưởng ngoạn trăng thanh gió mát bến Tiêu Tương ….

Đã luống sầu vương, quên đọc sách Thôi đành tìm rượu, đến lầu xinh

Lạc Dương nhớ bạn, thầm khao khát Hội ngộ chung vui vẹn nghĩa tình

(Đồng Vương Chinh Quân Tương Trung Hữu Hoài -Trương Vị)

Có những bài thơ man mác tình hoài cổ, trong một đêm thu giữa cảnh trời đất mênh mông bát ngát, người thơ bỗng cảm thấy lòng trống trải cô đơn , nghĩ đến chuyện xưa tích cũ mà ngao ngán ngậm ngùi nghĩ chuyện đời nay, tìm đâu ra người tri âm tri kỷ ? Nhà thơ đã dùng quá khứ để làm lăng kính chiếu vào hiện tại bằng những tia sáng triết lý muôn màu nói lên sự biến đổi của nhân thường thế thái khi thời gian như một con nước chảy qua cầu và vũ trụ biến đổi không ngừng …..

Thuyền thu ngắm cảnh trăng thâu Tạ quân chuyện cũ nhớ rầu rĩ ai Cất cao vút giọng ngâm dài Người xưa nào biết lòng này hay chăng ? Mai thuyền bỏ bến buồm căng Lá phong rơi rụng bẽ bàng người đi …… (Dạ Bạc Ngưu Chử Hoài Cổ -Lý Bạch)

Khói vương hơi lạnh vàng cây cỏ Thu nhuốm sắc tà bạc lá ngô Lầu Bắc chiều buông khơi tưởng nhớ Cảm hoài Ông Tạ, gió thu mơ …. (Thu Đăng Tuyên Thành Tạ Diêu Bắc Lâu – Lý Bạch)

Và trong cái nỗi khắc khoải suy tư đó, nhà thơ chỉ ước ao thầm mong có một kẻ tri âm, một tâm hồn đồng điệu, và có những đêm dài nhà thơ đã trăn trở, trằn trọc, dằn vặt , đay nghiến, cấu xé với hồn thơ và con chữ như Giả Đảo :

Hai câu ròng rã ba năm Rưng rưng ngấn lệ… sầu ngâm, tủi thầm Ngậm ngùi vắng bóng tri âm Thu về góc núi đêm nằm suy tư (Tuyệt Cú -Giả Đảo)

Một số ít bài thơ ca tụng tình yêu, mang tích chất lãng mạn, lẳng lơ, mặc dầu rất ít oi , đã đem lại những luồng gió tươi mát, ngan ngát mùi hương phấn da thịt ….

Trăng thu rón rén xuyên mành Áo xiêm cởi nhẹ, đèn hanh hanh mờ Tiếng cười khẽ động màn tơ Ưỡn mình, lan huệ thẫn thờ ngát hương (Tử Dạ Thu Ca – Khuyết Danh)

Lối mòn phủ ánh hoàng hôn Ai cùng ai thấu nỗi buồn của nhau ? Đường xưa khuất bóng, lòng đau Gió thu xao động nhánh sầu lúa non (Thu Nhật -Cảnh Vi)

Một bài thơ Đường khi đã đạt đến mức độ toàn mỹ và trác tuyệt, mỗi một chữ, một lời, một ý như những viên ngọc quí đã được kết hợp hài hòa, chi ly, để hình tạo một chuỗi kim cương lấp lánh , một giải giai-chương tuyệt vời… Vì lòng đam mê văn chương và thi ca, tác giả mạo muội chỉ xin mượn ý và phỏng dịch từ Thơ ra Thơ. Vì phải giữ cấu tứ, âm điệu, thể cách, luật bằng trắc nên chắc chắc có rất nhiều thiếu sót vì nhiều chữ không được sát nghĩa, khó lột đúng tinh thần nguyên tác, cái khó khăn là phải giữ cái hồn thơ và ý thơ của nguyên bản, và đồng thời thi điệu của bài thơ dịch. Hơn nữa có một số chữ và câu trong bài thơ Đường sau nhiều lần trước tác, biên soạn, đã tam sao thất bản, gây sự sôi động bàn cãi nhiều lần. Khi nước ta có chữ quốc ngữ và tiếng Việt càng ngày càng được cải cách phong phú và dồi dào, đã có rất nhiều nhà chuyên khảo Hán Học uyên bác, các đại học giả tiền bối đã dịch Thơ Đường với những bản dịch trác tuyệt và tài hoa. Nhưng mỗi dịch giả có một cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng và cảm xúc rung động muôn chiều khi đọc, ngâm, vịnh một bài thơ Đường .

… Nếu có gì thiếu sót và bất cẩn, mong sự lượng thứ và thông cảm của quí bậc túc nho trưởng thượng và quí bạn đọc yêu thơ .Vì lý do kỹ thuật về nhu- liệu, rất tiếc chưa in được nguyên tác chữ Hán của mỗi bài thơ Đường, tác giả mong bạn đọc lượng thứ .

Sơn Tinh, Thủy Tinh

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh

[alert style=”danger”]

Sơn Tinh, Thủy Tinh là câu chuyện truyền thuyết đặc sắc của dân tộc ta mang màu sắc của một truyện thần thoại.

Qua truyện này, người xưa muốn giải thích hiện tượng mưa giông, bão lụt ghê gớm hàng năm thường xảy ra, kéo dài suốt mỗi mùa mưa lũ, gây lên tại họa to lớn cho nhân dân ta ở khắp vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Cũng qua truyện này, ông cha ta đã nói lên ước mơ và ý chí của mình bằng tài năng phi thường chế ngự sức mạnh tàn bạo của thiên nhiên, đẩy lùi thiên tai bão lụt hàng năm để bảo vệ cuộc sống lao động yên ổn của mình.

[/alert]

Phần I – Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng đến xin cầu hôn với Mị Nương

[/alert]

1. Vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, sắc đẹp tuyệt trần [1]. Mị Nương được vua cha thương yêu hết mực. Nhà vua muốn kén [2] cho nàng một người chồng xứng đáng.

Một hôm, có hai chàng trai đến xin ra mắt nhà vua để cầu hôn [3]. Một người ở vùng núi Ba Vì [4], tuấn tú [5] và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Người dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh.

Còn một người ở mãi tận miền biển Đông, tài giỏi cũng không kém: gọi gió gió đến, hò mưa về. Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.

Một người là chúa của những miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm [6], cả hai đều rất xứng đáng làm rể vua Hùng.

Phần 2 – Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, đem được Mị Nương về núi

2. Hùng Vương băn khoăn, không biết nên nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho vời [7] các quan lạc hầu vào bàn bạc mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán [8] rằng:

Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, không biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván [9] cơm nếp, hai trăm đệp [10] bánh chưng, voi chín ngà [11], gà chín cựa [12], ngựa chín hồng mao [13] thì sẽ được rước dâu về.

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đem đầy đủ lễ vật [14] đến trước và được phép đưa dâu về núi.

Phần III – Sơn Tinh, Thủy Tinh giao chiến

3. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ đã đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mị Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành giông bão, sấm sét rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng, rồi ngập nhà, ngập cửa.

Sơn Tinh không hề nao núng [15], dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ [16]. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng liền. Cuối cùng Thủy Tinh đuối sức, phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa, làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh gây nên nạn lụt lội khắp vùng đồng bằng và trung du [17] nước ta. Nhưng lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải rút lui.

Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh Nguồn: Kể chuyện 2, trang 25 – NXB Giáo dục – 1982

[alert style=”danger”]

[alert style=”danger”]

[/alert]

Chú giải trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh

[1] Đẹp tuyệt trần: đẹp nhất trên đời, không có ai đẹp hơn. [2] Kén: chọn cẩn thận. [3] Cầu hôn: xin cưới làm vợ. [4] Núi Ba Vì: ngọn núi cao thuộc huyện Ba Vì, phía tây Hà Nội. [5] Tuấn tú: đep trai và có tài hơn người. [6] Vùng nước thẳm: vùng biển sâu. [7] Vời: (vua) cho gọi đến. [8] Phán: (vua) truyền bảo. [9] Ván: đồ dùng bằng gỗ để đựng. [10] Đệp: đồ dùng bằng tre đan để đựng. [11] Ngà: răng của hàm trên con voi mọc dài ra ngoài. [12] Cựa: móng nhọn ở phía sau cẳng gà trống. [13] Hồng mao: chùm lông (màu hồng) ở bờm ngựa. [14] Lễ vật: đồ để cúng tế. [15] Nao núng: yếu lòng (không vững lòng). [16] Nước lũ: nước mưa to từ trên nguồn đổ về tràn ngập các sông ngòi, gây ra lụt lội. [17] Trung du: vùng đất cao hơn đồng bằng, thấp hơn miền núi, nằm ở giữa hai vùng này.

[alert style=”danger”]

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh của Huy Cận

[1] Đẹp tuyệt trần: đẹp nhất trên đời, không có ai đẹp hơn. [2] Kén: chọn cẩn thận. [3] Cầu hôn: xin cưới làm vợ. [4] Núi Ba Vì: ngọn núi cao thuộc huyện Ba Vì, phía tây Hà Nội. [5] Tuấn tú: đep trai và có tài hơn người. [6] Vùng nước thẳm: vùng biển sâu. [7] Vời: (vua) cho gọi đến. [8] Phán: (vua) truyền bảo. [9] Ván: đồ dùng bằng gỗ để đựng. [10] Đệp: đồ dùng bằng tre đan để đựng. [11] Ngà: răng của hàm trên con voi mọc dài ra ngoài. [12] Cựa: móng nhọn ở phía sau cẳng gà trống. [13] Hồng mao: chùm lông (màu hồng) ở bờm ngựa. [14] Lễ vật: đồ để cúng tế. [15] Nao núng: yếu lòng (không vững lòng). [16] Nước lũ: nước mưa to từ trên nguồn đổ về tràn ngập các sông ngòi, gây ra lụt lội. [17] Trung du: vùng đất cao hơn đồng bằng, thấp hơn miền núi, nằm ở giữa hai vùng này.[alert style=”danger”]

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh đã được kể lại một cách hết sức độc đáo dưới ngòi bút của nhà thơ Huy Cận. Chính điều này khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn với nhiều độc giả.

[/alert]

[/alert]

Núi Tản như con gà cổ đại Khổng lồ mào đỏ thắp bình minh Mênh mông gọi nắng cho mùa chín Từ buổi Sơn Tinh thắng Thủy Tinh.

Đời vua Hùng Vương thứ mười tám Bão lụt quanh năm thường cuốn băng Nhà cửa trâu bò cùng khoai sắn Nước ngập lâu tre chẳng còn măng.

Lụt rồi mới sinh ra trời đất, Tiêu điều thôn xóm nước Văn Lang.

Thương dân Vua Hùng hằng lo nghĩ Làm sao dẹp bão và tan mưa Cho hoa thơm đậu thành trái quí Cho mạ xanh chín lúa ngập bờ Cho bê nghé tung tăng theo mẹ Cho trẻ em no ấm đùa nô.

Họp Lạc tướng, Lạc Hầu Vua hỏi, Phương cứu dân dựng nước thanh bình Con gái Vua Mị Nương tròn tuổi Đẹp như tiên má ửng bình minh Vua chờ ai là người tài giỏi, Gả Mị Nương, nàng cũng ưng tình.

Loa gọi khắp bốn phương tám hướng, Rằng Vua Hùng chọn rể người tài, Rằng Mị Nương đoan trang hồn hậu, Cũng chờ ai hào kiệt sánh vai. Mỗi sáng lên cửa thành Vua ngắm, Nhìn nước non biển rộng sông dài.

Bỗng một hôm hai chàng trai tráng, Một nỏ quàng vai từ núi về Ấy Sơn Tinh dáng người trầm lặng Một hung hăng gươm tuốt sáng lòe Từ biển lên áo dài cuộn sóng Là Thủy Tinh vỏ ốc đầu che…

Cả hai xin vua cho đọ sức Vua gật đầu chắc gặp rể tài Thủy Tinh vội nhảy lên phía trước Tay vung gươm như chém mặt trời Mở miệng rộng hô mây gọi sóng Lụt cung đình lụt cả vua tôi…

Mưa ào ào sóng dâng cuồn cuộn Ba ba cá sấu với thuồng luồng Há miệng gào ầm cả bốn phương Thủy Tinh đắc chí cười ngạo nghễ Mỵ Nương sợ hãi nép bên tường.

Sơn Tinh giương nỏ thần xốc tới Tên vút bay mây xám bỗng tan Mưa xối xả mưa liền tạnh ráo Biển đang dâng sóng cũng dịu dần

Trẻ đùa nghịch trên đường nước tháo Cá vượt rào, tôm nhảy quanh chân.

Nước mới rút phù sa trải lụa Tay Sơn Tinh gieo hạt đầu tiên Cây mọc lên sum xuê lá nụ Trái đua cành chim tới hót truyền Mỵ nương tựa mình cây e lệ Cảm phục ai, lòng cũng mừng riêng.

Vua Hùng nói hai người tài giỏi Con gái yêu có một tính sao? Đành phải chọn ai mang tới trước.

Voi chín ngà ngựa chín hồng mao, Gà chín cựa theo lời hẹn ước Ta nhận cho làm lễ đón dâu.

Sáng hôm sau mặt trời mới ló Voi chín ngà đạp lối đi đầu Gà chín cựa đến thành đập cửa Sơn Tinh ngồi ngựa chín hồng mao Vua nhận lễ Mỵ Nương xấu hổ Nhìn Sơn Tinh ý hợp tâm đầu.

Ngày vui của Sơn Tinh công chúa Là hội mừng của cả nước non Khèn thổi khắp đồng quê kẻ chợ Dân đua thuyền đánh vật tung còn Chim cũng vui líu lo mọi tổ Trái thơm lừng cỏ ngạt ngào hương.

Thủy Tinh chậm chân gào uất hận Gọi sóng thần hô nước dâng cao Thúc thủy quái cá kình cá sấu Đuổi Sơn Tinh vừa vượt qua đèo Mỵ Nương ngoái theo dòng nước dữ Xót thương oán hận lệ thầm gieo…

Thuỷ Tinh được thể vung gươm sáng Chỉ núi Tản Viên hò kéo mau Cả bọn thuồng luồng và rắn rết Phun độc vào trong nước đỏ ngàu Nước dềnh vênh bao vây núi Tản Lưng núi nay còn vỏ hến hào.

Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh (1976) Tác giả: Huy Cận

[alert style=”danger”]

Bài thơ Sơn Tinh, Thủy Tinh của Nguyễn Nhược Pháp

[alert style=”danger”]

Trước Huy Cận, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp cũng đã thổi hồn vào câu chuyện truyền thuyết nổi tiếng này bằng một bài thơ rất hay. Bài thơ Sơn Tinh, Thủy Tinh được ông viết năm 1933 miêu tả cuộc đối đầu giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh đầy hấp dẫn.

[/alert]

I

Ngày xưa, khi rừng mây u ám Sông núi còn vang um tiếng thần, Con vua Hùng Vương thứ mười tám, Mỵ Nương, xinh như tiên trên trần. Tóc xanh viền má hây hây đỏ, Miệng nàng hé thắm như san hô, Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ: Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ. Hùng Vương thường nhìn con yêu quá, Chắp tay ngẩng lên giời tạ ân; Rồi cười bảo xứng ngôi phò mã, Trừ có ai ngang vì thần nhân. Hay đâu thần tiên đi lấy vợ! Sơn Tinh, Thuỷ Tinh lòng tơ vương, Không quản rừng cao, sông cách trở, Cùng đến Phong Châu xin Mỵ Nương.

Sơn Tinh có một mắt ở trán, Thuỷ Tinh râu ria quăn xanh rì. Một thần phi bạch hổ trên cạn, Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi. Hai thần bên cửa thành thi lễ, Hùng Vương âu yếm nhìn con yêu. Nhưng có một nàng mà hai rể, Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều! Thuỷ Tinh khoe thần có phép lạ, Dứt lời, tay hất chòm râu xanh, Bắt quyết hò mây to nước cả, Dậm chân rung khắp làng gần quanh. Ào ào mưa đổ xuống như thác, Cây xiêu, cầu gẫy, nước hò reo, Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc, Bò, lợn, và cột nhà trôi theo. Mỵ Nương ôm Hùng Vương kinh hãi. Sơn Tinh cười, xin nàng đừng lo, Vung tay niệm chú. Núi từng dải, Nhà lớn, đồi con lổm cổm bò Chạy mưa. Vua tuỳ con kén chọn. Mỵ Nương khép nép như cành hoa: “Con đây phận đào tơ bé mọn, Nhân duyên cúi để quyền mẹ cha!” Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước, Rồi bảo mai lửa hồng nhuốm sương, Lễ vật thần nào mang đến trước, Vui lòng vua gả nàng Mỵ Nương.

II

Bình minh má ửng đào phơn phớt, Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh. Ngọn liễu chim vàng ca thánh thót, Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành. Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa, Rèm ngọc lơ thơ phủ áo hồng. Cánh nhạn long lanh vờn ánh lửa, Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.

Rừng xanh thả mây đào man mác, Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu Mình phủ áo bào hồng ngọc dát, Tay ghì cương hổ, tay cầm lau. Theo sau năm chục con voi xám Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều, Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng, Sừng tê, ngà voi và sừng hươu. Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ, Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười. Thần suốt đêm sao dài không ngủ, Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.

Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa, Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương. Lầu son nàng ngoái trông lần lữa, Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương. Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc, Thương người, thương cảnh xót lòng đau. Nhìn quanh, khói toả buồn man mác, Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu!” Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt, Hùng Vương mơ, vịn tay bờ thành. Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc, Mắt nhoà lệ ngọc ngấn đầm quanh…

Thoảng gió vù vù như gió bể, Thuỷ Tinh ngồi trên lưng rồng vàng. Yên gấm tung dài bay đỏ choé, Mình khoác bào xanh da giời quang. Theo sau cua đỏ và tôm cá, Chia đội năm mươi hòm ngọc trai, Khập khiễng bò lê trên đất lạ, Trước thành tấp tểnh đi hàng hai. Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ, Chân trời còn phảng bóng người yêu, Thuỷ Tinh thúc rồng đau kêu rú, Vừ uất vì thương, vừa bởi kiêu. Co hết gân, nghiến răng, thần quát: “Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!” Tức thời nước sủi reo như thác, Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa.

III

Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu, Áo bào phơ phất nụ cười bay. (Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu) Thần trông kiệu nhỏ, hồn thêm say. Choàng nghe sóng vỗ, reo như sấm, Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai. Mỵ Nương tung bức rèm đỏ thắm, Sơn Tinh trông thấy càng dương oai. Sóng cả gầm reo lăn như chớp, Thuỷ Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng. Cá voi quác mồm to muốn đớp, Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng. Càng cua lởm chởm giơ như mác; Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao. Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc Niệm chú, đất nẩy vù lên cao. Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo. Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng, Đạp long đất núi, gầm xông xáo, Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng. Mây đen hăm hở bay mù mịt, Sấm ran, sét động nổ loè xanh. Tôm cá xưa nay im thin thít, Mở quác mồm to kêu thất thanh. Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu, Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhoà. (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu, Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”

Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể, Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương. Trần gian đâu có người dai thế, Cũng bởi thần yêu nên khác thường!

Bài thơ Sơn Tinh Thủy Tinh (4 – 1933) Tác giả: Nguyễn Nhược Pháp

[alert style=”danger”]

[alert style=”danger”]

[/alert]

[/alert]

Truyền Thuyết Về Sơn Tinh – Thủy Tinh

Trai tráng khắp nơi nô nức kéo về kinh đô thi tài. Đã mấy ngày qua, biết bao nhiêu chàng trai tuấn tú, võ nghệ tài ba lần lượt ra trổ tài, nhưng vẫn chưa được nhà vua ưng chọn. Nhà vua đã hơi thất vọng thì bỗng nhiên có hai người cùng một lúc tiến vào xin thi tài, một người tên là Sơn Tinh, còn người kia tên là Thủy Tinh. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi cao. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió gió đến, hò mưa tới – Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.

Một người là chúa của những miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều rất xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Vua Hùng Vương lúc này băn khoăn không biết nên nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, vua Hùng Vương phán rằng:

– Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, không biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì sẽ được rước dâu về.

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ đã đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.

Sơn Tinh lúc đó không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh lại không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.

Sơn Tinh từ đó được nhân dân tôn là một trong bốn vị tứ bất tử của dân tộc.

Xem video truyện cổ tích Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

Bạn đang xem bài viết Tinh Xuan Trong Duong Thi trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!