Xem Nhiều 2/2023 #️ Top 10 Bài Hát Về Mẹ Nổi Tiếng Nhất Việt Nam 2022 # Top 2 Trend | Anhngucongdong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Top 10 Bài Hát Về Mẹ Nổi Tiếng Nhất Việt Nam 2022 # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 10 Bài Hát Về Mẹ Nổi Tiếng Nhất Việt Nam 2022 mới nhất trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những bài hát về mẹ là những ca khúc có nội dung ca ngợi tình yêu thương bao la vô bờ bến của mẹ dành cho con, ca ngợi sự hy sinh cao cả của người mẹ, hoặc tôn vinh tình mẫu tử thiêng liêng, hoặc nói lên những tình cảm, suy nghĩ của người con dành cho người mẹ kính yêu của mình,… Bài hát về mẹ có thể là một nhạc khúc Bolero sâu lắng, có thể là một bản nhạc nhẹ êm đềm, cũng có thể là một bài nhạc cách mạng hào hùng, bi thương,… Nhưng tựu trung lại thì những ca khúc ấy đều mang đặc điểm chung là: ấm áp, trữ tình, tha thiết, hình ảnh người mẹ hiện lên trong bài hát rất đỗi cao thượng, hiền dịu, tình cảm tác giả gửi gắm vào bài hát rất dạt dào, chân thành, xúc động hai tiếng thân thuộc “mẹ – con”.

Từ trước đến nay có rất nhiều ca khúc sáng tác về mẹ. Tuy không phải tất cả đều được nổi tiếng, đều đến gần với khán giả nhưng những ca khúc ấy đều rất có ý nghĩa, là những món quà tinh thần cho những người mẹ, cho một cuộc sống không thể thiếu âm nhạc như hôm nay.

1. Lòng mẹ (Y Vân)

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”. Chỉ vài câu hát đầu tiên cũng đủ nói lên được tình yêu thương vô bờ bến của mẹ. Những ca từ thật êm đềm, sâu lắng, súc tích nhưng chan chứa tình cảm. Không phải ai cũng biết được hoàn cảnh mà nhạc sĩ Y Vân sáng tác bài hát này. Đó là khi mẹ của nhạc sĩ bị bắt vì đi làm về khuya. Bằng tất cả những nỗi đau và tình thương mẹ tha thiết, tác giả đã viết nên ca khúc “Lòng mẹ”. Để rồi hôm nay, bài hát ấy trở nên bất hủ và kinh điển mà ai nghe qua cũng phải xúc động, nghẹn ngào bởi “…tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên…”.

2. Lòng mẹ (Ngọc Sơn)

“…Mẹ già chờ con ngồi đếm lá rơi. Đếm bao nhiêu lá mà con chưa về. Ngày xưa con bé ngây thơ, mẹ hay âu yếm bên con, mẹ bảo mẹ thương con nhiều…”. Da diết và cảm động không kém bài hát “Lòng mẹ” của nhạc sĩ Y Vân, ca khúc “Lòng mẹ” của tác giả Ngọc Sơn làm nổi bật hình ảnh một người mẹ già vẫn ngày ngày chờ đợi con trở về dù người con ấy đã đi xa. Mặc dù không biết ngày con về, dù mỏi mòn nhưng người mẹ vẫn đợi chờ trong hy vọng cùng với tình thương dào dạt dành cho con. Bài hát mang một vẻ u sầu bởi khung cảnh mùa thu vắng lặng, xào xạc tiếng lá thu rơi cùng sự tái hiện những kỷ niệm mẹ con trong quá khứ có thể làm cho người nghe không cầm được nước mắt, “…còn đây bao dấu yêu xưa, mà nay con đã đi xa, mẹ già chờ mong con hoài”.

3. Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn)

“Đêm chong đèn ngồi nhớ lại từng câu chuyện ngày xưa. Mẹ về đứng dưới mưa che đàn con nằm ngủ, canh từng bước chân thù, mẹ ngồi dưới cơn mưa…”. Hình ảnh người mẹ Việt Nam anh hùng hiện lên thật cao cả và ấm áp trong suốt bài hát “Huyền thoại mẹ”. Mẹ đã không quản ngại nắng mưa, không màng đến sức khỏe của mình, tất cả sự quan tâm chăm sóc của mẹ đều dành trọn cho những người con bộ đội Cụ Hồ. Mẹ đã lội suối, không ngại mưa bom, tiễn con ra trận, xóa sạch vết tích của con để quân thù không phát hiện được. Bởi thế nên đối với con, mẹ là làn gió, là dòng nước chứa chan cho đời mãi trong lành…

4. Bông hồng cài áo (Phạm Thế Mỹ – Thích Nhất Hạnh)

“…Mẹ, mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ, mẹ là bài hát thần tiên, là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao, là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối…”. Hình ảnh người mẹ luôn được so sánh với những gì trong sáng, cao cả và hiền hòa nhất. Bên cạnh đó, mẹ còn là những gì ấm áp, thân thuộc, ngọt ngào như lọn mía, nải chuối, buồng cau, tiếng dế, nắng ấm, vốn liếng yêu thương. Không chỉ ca ngợi hình ảnh người mẹ hiền đáng kính, bài hát còn nhắn nhủ những ai đang còn mẹ hãy yêu thương mẹ của mình, hãy dành tặng cho mẹ một bông hồng cài áo tươi thắm và nói với mẹ rằng “con thương mẹ”.

5. Hãy yên lòng mẹ ơi (Lư Nhất Vũ)

“…Rừng thay lá bao mùa rồi, đoàn quân chiến đấu xa làng quê. Mẹ ơi hãy yên lòng dù bao gian lao ngày tháng. Trường Sơn hay nơi đảo xa đoàn chúng con xin quyết giữ gìn. Chúng con luôn bên mẹ hiền ngày đêm vững bước trong đoàn quân…”. Với giai điệu sôi nổi, hào hùng, bài hát là lời nhắn gửi của những người lính ra trận đến những người mẹ Việt Nam anh hùng đang ngày đêm lo lắng cho con mình chiến đấu ngoài chiến trường. Lời nhắn mẹ hãy yên lòng kèm theo lời khẳng định sự quyết tâm, kiên cường chinh chiến vì non sông, đất nước.

6. Người mẹ của tôi (Xuân Hồng)

“Nước mắt mẹ không còn vì khóc những đứa con lần lượt ra đi, đi mãi mãi. Thời gian trôi qua, vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng. Nhưng vết thương lòng, mẹ vẫn còn nặng mang…”. Bài hát là những giai điệu nghẹn ngào, xúc động miêu tả nỗi đau, nỗi buồn của người mẹ Việt Nam anh hùng khi biết tin những đứa con chiến sĩ đã hy sinh trên chiến trường. Đồng thời, bài hát còn là những lời chia sẻ, an ủi của những chiến sĩ còn sống đến người mẹ kính yêu “Mẹ Việt Nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi! Xin cám ơn người, người mẹ của tôi!…”.

7. Mừng tuổi mẹ (Trần Long Ẩn)

“Mỗi mùa xuân sang mẹ tôi già thêm một tuổi. Mỗi mùa xuân sang ngày tôi xa mẹ càng gần. Rồi mùa xuân trước, tóc trắng mẹ bay như gió như mây bay qua đời con, như gió như mây bay qua thời gian. Ôi mẹ của tôi!…”. Ca khúc là nỗi niềm lo lắng của người con khi mỗi độ xuân về. Vì mỗi mùa xuân đến là người mẹ già thêm một tuổi nên người con sợ một ngày xuân nào đó sẽ phải xa mẹ mãi mãi. Tuy nhiên, bài hát không kết thúc trong bi quan mà là những dòng suy nghĩ cùng niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai tốt đẹp “…Tôi vẫn phải tin, tôi vẫn phải tin mẹ đang còn trẻ. Mỗi mùa xuân về mẹ thêm tuổi mới. Mỗi mùa xuân mới, con mừng tuổi mẹ”.

8. Mẹ yêu (Phương Uyên)

“Sinh con ra trong bao nhiêu khó nhọc, mẹ ru con, yêu thương con tha thiết. Mong cho con luôn luôn ngoan hiền, giấc no say,…”. Mặc dù là một ca khúc thuộc thể loại nhạc trẻ nhưng bài hát vẫn mang những giai điệu thiết tha, trữ tình, ngọt ngào khi nói về tình mẹ. Tấm lòng yêu thương vô hạn, đức hy sinh của mẹ thật thiêng liêng và cao cả: “…Mẹ là cánh chim cho con bay thật xa, mẹ sưởi ấm cho tâm hồn con mẹ yêu. Dắt con đi qua bao nỗi đau là mẹ yêu, tiếng con yêu gọi tên suốt đời là mẹ yêu,…”.

9. Tình mẹ (Ngọc Sơn)

“…Ngược dòng thời gian bao dấu yêu xa xưa trở về. Nhớ hoài năm nào mẹ gian nan dãi nắng dầm sương. Nhọc nhằn chăm lo cho đàn con miếng ăn giấc ngủ từng đêm. Những khi gió lạnh, bên nhà tranh nghèo ấm êm tình thương…”. Bài hát là một chuyến về quê thăm mẹ của người con sau những tháng năm dài đi xa. Trên đường đi, bao kỷ niệm thân thương một thời sống bên mẹ đầy xúc động và chan chứa tình yêu thương như hiện lên trước mắt người con. Thế nhưng khi về đến ngôi nhà cũ thì người con ấy biết được mẹ đã đi xa, ngôi nhà ngày xưa giờ đây im lìm và quạnh vắng. Bài hát kết thúc trong nghẹn ngào và thương nhớ.

10. Tình mẹ (Nguyễn Nhất Huy)

“…Mẹ là những tiếng hát ấm áp ru con khi đông lạnh về. Mẹ là những ánh nắng lấp lánh đưa con đi trên đường quê. Để con khôn lớn lên, dang rộng đôi vai rồi đưa chân bước đi theo từng đêm vui. Mẹ vẫn thứ tha dù cho con mang bao nhiêu lầm lỗi,…”. Ca khúc thể hiện tấm lòng kính yêu của người con dành cho mẹ qua việc so sánh hình ảnh của mẹ với những gì ý nghĩa nhất đối với con. Đồng thời, bài hát còn nói lên được đức hy sinh, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ qua cảm nhận của người con: “…Mẹ đã có những phút giấu nước mắt cho con thơ ngây nụ cười. Mẹ đã có những lúc thức trắng cho con bao đêm ngủ say,…”. Chính vì sự cao thượng ấy, tình yêu thương vô vàn ấy nên người con đã tự hứa với lòng mình rằng “…Trên mỗi bước đi, xin mãi khắc ghi tình mẹ bao la biển trời”.

Top 10 Nhà Thơ Nữ Việt Nam Nổi Tiếng Nhất 2022

Trong lĩnh vực thơ ca Việt Nam từ cổ chí kim, bên cạnh rất nhiều nhà thơ nam nổi tiếng với hàng ngàn bài thơ được lưu truyền muôn thuở thì cũng tồn tại một bộ phận không nhỏ những áng văn thơ của phái nữ góp tiếng nói của mình vào dòng chảy chung của nền Văn học nước nhà. Nếu như thơ của những nhà thơ nam thường mang sắc thái mạnh mẽ, kiên cường, mang khí chất rắn rỏi, hiên ngang thì thơ của những nữ sĩ cũng không kém phần hào khí, thi vị, trữ tình.

Theo dòng phát triển của lịch sử, của chế độ kinh tế chính trị đất nước, tư tưởng phong kiến “Trọng nam khinh nữ” ngày càng phai mờ dần, thay vào đó là tư tưởng “Nam nữ bình quyền”. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều phụ nữ được đi học. Điều đó tất yếu dẫn đến việc xuất hiện ngày càng nhiều nhà thơ nữ Việt Nam nổi tiếng, tài giỏi, để lại cho đời những tác phẩm bất hủ.

1. Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ Nôm nổi tiếng. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam, “là nhà thơ độc đáo có một không hai trong lịch sử văn học dân tộc”. Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.

Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà.

Đặc điểm của thơ Xuân Hương là không bao giở dửng dưng, lạnh nhạt. Nhà thơ luôn luôn có một trái tim cháy bỏng, nói đến cái gì là nói đến với tất cả sự xúc động chân thành của mình. Khi giận dữ thì thét lên, mắng chửi, khi yêu thương thì đằm thắm, ngọt ngào.

Một số bài thơ tiêu biểu của Hồ Xuân Hương như: Bánh trôi nước, Mời trầu, Cái quạt, Đánh đu, Chơi hoa, Duyên kỳ ngộ, Thơ tự tình,…

2. Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh (1805-1848), là một nhà thơ nữ Việt Nam nổi tiếng thời cận đại. Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội. Thân phụ là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông. Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị (1804-1847), người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Chồng bà làm quan trải đến chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình, nhưng mất sớm (43 tuổi).

Dưới thời vua Minh Mạng, bà được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi. Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời.

Một số bài thơ tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan gồm có: Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Cảnh Hương Sơn, Thăng Long thành hoài cổ, Tức cảnh chiều thu,…

3. Sương Nguyệt Anh

Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê (1864-1921). Ngoài bút hiệu Sương Nguyệt Anh, bà còn ký nhiều bút hiệu khác như: Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh,… Bà là nhà thơ và là chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ giới chung do bà phụ trách là tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài Gòn. Sương Nguyệt Anh sinh tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, mẹ bà là Lê Thị Điền, người làng Thanh Ba thuộc huyện Cần Giuộc.

Năm 1917, Sương Nguyệt Anh được một nhóm chí sĩ ái quốc mời làm chủ bút tờ Nữ giới chung nghĩa là “Tiếng chuông của nữ giới”. Tờ báo ra số đầu tiên ngày 01 tháng 02 năm 1918, với chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội.

Sương Nguyệt Anh sáng tác nhiều, nhưng không gom thành tập. Nay chỉ còn tản mác một số bài thơ, như: Đoan Ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Tức sự , Chinh Phụ thi, Thưởng bạch Mai, Vịnh ni cô, Vua Thành Thái vào Nam, Cảm tác khi lính Việt đi Âu chiến,…Và vài bài vè, như: Vè tiểu yêu, Vè Thầy Hỷ, Vè đánh đề,…

4. Lâm Thị Mỹ Dạ

Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại quê: huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Bà làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn Nguyễn Du. Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế). Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt Nam.

Những giải thưởng mà nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã đạt được: Giải Nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1971-1973; Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Bài thơ không năm tháng; Giải A thơ của ủy ban toàn quốc các Hội Liên hoan Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1999. Giải A thơ Giải thưởng văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2004) của UBND tỉnh và Hội Liên hoan Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế. Năm 2007, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với 3 tập thơ: Trái tim sinh nở (1974), Bài thơ không năm tháng (1983) và Đề tặng một giấc mơ (1988). Năm 2005, tập thơ Cốm non (Green rice) của chị được dịch ra tiếng Anh, in và phát hành tại Hoa Kỳ.

5. Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh (1942-1988), là một nhà thơ nữ Việt Nam nổi tiếng của thế kỷ XX. Bà được xem là nữ thi sĩ nổi tiếng với nhiều bài thơ tình được nhiều người biết đến như Thuyền và Biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa,… Bà tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại làng La Khê, xã Văn Khê, ven thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.

Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh. Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau khổ, suy tư của nhà thơ luôn gần gũi vì được viết với sự đằm thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ. Nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh đã trở nên nổi tiếng như Thuyền và biển, Sóng (viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào năm 1968), Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh,… Các bài thơ Sóng, Chuyện cổ tích về loài người (Lời ru trên mặt đất, NXB Tác phẩm mới, 1978) được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt Nam. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc rất thành công các bài thơ: Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh.

Nữ sĩ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh năm 1921 tại thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Năm mười hai tuổi, Anh Thơ được bố đưa về quê nội ở thị xã Phủ Lạng Thương, bên bờ con sông Thương hiền hòa, thơ mộng. Từ đây, con đường thi ca của nữ sĩ bắt đầu hình thành và phát triển.

Bà đã gửi tập thơ đầu tay “Bức tranh quê” để tham dự và đã đạt giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn. Trong vẻ độc đáo hiếm có, “Bức tranh quê” đã đánh dấu cho sự đa dạng của một phương hướng từng chi phối thơ Việt trong cả thế kỷ XX. Với thành công của tập “Bức tranh quê”, bà là nhà thơ nữ đầu tiên đoạt giải thưởng lớn và được ví như một bức tranh tĩnh vật bằng thơ trước cách mạng.

Những tác phẩm chính trong suốt cuộc đời sáng tác của bà, gồm: Bức tranh quê (thơ-1941), Răng đen (tiểu thuyết-1942), Cuối mùa hoa (thơ), Từ bến sông Thương (hồi ký), Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (hồi ký văn học). Với những cống hiến cho phong trào thơ mới như vậy, bà từng được ca ngợi là một cô nữ sĩ xinh đẹp nổi tiếng nhất đất Kinh Bắc.

7. Phan Thị Thanh Nhàn

Phan Thị Thanh Nhàn là một nhà thơ nữ Việt Nam nổi tiếng của thế kỷ XX, quê ở Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội. Bà là Ðảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội trong giai đoạn 2001-2005. Phan Thị Thanh Nhàn làm thơ từ sớm, đầu những năm 1990 đã có thơ đăng báo. Bà được đông đảo bạn đọc biết đến với “Hương thầm” (bài thơ này đã được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc năm 1984). Ngoài làm thơ, bà còn viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi.

Những giải thưởng mà nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã đạt được gồm: Giải Nhì cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969; Giải C Nhà xuất bản Kim Ðồng năm 1982 cho tác phẩm “Tuổi trăng rằm”; Giải A của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội các năm 1974 và 1980; Năm 1999, bài thơ “Hương thầm” của bà đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báo Văn nghệ; Giải A Nhà xuất bản Kim Ðồng năm 1995 cho tác phẩm “Bỏ trốn”; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2008.

Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ gồm có: Hương thầm (thơ,1973), Làm anh, Tháng giêng hai (thơ,1969), Chân dung người chiến thắng (thơ,1977), Bỏ (truyện thiếu nhi, 1995), Con đường, Nghiêng về anh (thơ, 1992), Xóm đê ngày ấy (truyện thiếu nhi,1977),…

Nhà thơ Ý Nhi tên thật là Hoàng Thị Ý Nhi, sinh năm 1944 tại thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình có truyền thống về văn hóa nghệ thuật. Bà tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội 1968, từng làm cán bộ biên tập ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Hiện nay bà sống và sáng tác tại TP Hồ Chí Minh.

Bà nhận Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1985 với tác phẩm Người đàn bà ngồi đan. Cùng với Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Ý Nhi thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ nhưng thực sự nổi bật sau chiến tranh với những cách tân hiện đại, làm mới thơ Việt Nam về cả nội dung và hình thức. Thơ Ý Nhi giản dị mà đậm chất trí tuệ, giọng điệu thơ trầm lắng, suy tư, thiết tha mà chua xót. Với ngôn ngữ đậm chất triết luận, thơ Ý Nhi là sự ký thác sâu lắng của một trái tim không khi nào thôi khắc khoải trên hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc đời.

Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Ý Nhi gồm có: Nỗi nhớ con đường (1984), Đến với dòng sông (1978), Cây trong phố chờ trăng (1981), Người đàn bà ngồi đan (1985), Ngày thường (1987),…

9. Đoàn Thị Lam Luyến

Đoàn Thị Lam Luyến sinh năm 1953, là nhà thơ Việt Nam, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1996), quê quán tại xã Anh Dũng, huyện Phù Tiên nay là huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay, bà là Tổng Thư ký Hiệp hội quyền sao chép Việt Nam. Đoàn Thị Lam Luyến sớm được biết đến từ thập niên 80, 90 (thế kỷ 20) với tập thơ đầu tay mang tên “Lỡ một thì con gái”, được độc giả đón nhận và yêu quí nhất là độc giả nữ với chất thơ đầy tình yêu và nữ tính.

Giải thưởng mà nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã đạt được gồm có: Giải thưởng cuộc thi thơ báo văn nghệ 1989-1990; Giải thưởng thơ của Nhà xuất bản Hội nhà văn 1995 (Tập thơ “Châm khói”).

Một số bài thơ tiêu biểu của nhà thơ gồm có: Khát vọng, Đa mang, Đà Nẵng, Đàn bà, Đêm cành đa, Đến hang Bồ Nâu học đánh cờ, Đợi, Đừng hứa sẽ cho nhau, Ốc đảo,…

10. Ngân Giang

Ngân Giang (1916 – 2002) tên thật là Đỗ Thị Quế, là một nữ thi sĩ Việt Nam. Bà viết nhiều thơ mang hơi hướng thơ Đường, trong số đó có nhiều bài hay như Trưng Nữ Vương, Xuân chiến địa, Bạch Đằng giang,… Bà sinh ra trong một gia đình Nho học tại phố Hàng Trống, Hà Nội nhưng quê quán gốc của bà thì ở thôn Hướng Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Thủ đô Hà Nội).

Trong khi nhiều nhà thơ lãng mạn cùng thời chịu ảnh hưởng của văn chương phương Tây thì Ngân Giang vẫn gắn bó với thơ Đường luật và các thể thơ dân tộc. Nặng lòng với quê hương, nhiều bài thơ của bà mang hình ảnh đất lạnh, xóm nghèo, chợ chiều, sông quạnh,…với một cảm tình nồng hậu nhưng man mác buồn.

Những tác phẩm tiêu biểu của nữ sĩ Ngân Giang gồm có: Giọt lệ xuân (nhật ký và thơ dưới bút danh Hạnh Liên); Tiếng vọng sông Ngân, Nhà xuất bản Lê Cường 1944; Những ngày trong hiến binh Nhật, Nhà xuất bản Đức Trí 1946; Những người sống mãi, Nhà xuất bản Sự Thật 1973; Ba tập Thơ Ngân Giang, Nhà xuất bản Phụ Nữ 1989 – Nhà xuất bản Trẻ 1991 – Nhà xuất bản Phụ Nữ 1994.

Top 10 Nhà Thơ Nổi Tiếng Nhất Của Phong Trào Thơ Mới 2022

1. Nhà thơ Xuân Diệu(1916-1985)

Hai tập thơ nổi tiếng nhất của ông là Thơ thơ và Gửi hương cho gió.Xuân Diệu mất ngày 18 – 12 – 1985 tại Hà Nội, để lại nhiều nỗi tiếc nuối trong lòng các đọc giả yêu thơ.

2. Nhà thơ Lưu Trọng Lư (1911-1991)

Lưu Trọng Lư sinh ngày 19 -6 – 1911. Quê ở Quảng Bình, có dòng dõi nho giáo. Ông vừa là nhà thơ, vừa là nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng và hoạt động tích cực trong phong trào Thơ Mới. Các bài thơ nổi bật của ông là Tiếng thu, Trăng lên. Lưu Trọng Lư đã được đưa vào Thi nhân Việt Nam do Hoài Thanh và Hoài Chân biên soạn.

Nhà thơ tài năng mất vào tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội.

3. Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1930)

Hàn Mặc Tử còn có tên gọi khác là Hàn Mạc Tử, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí. Quê ở Quảng Bình. Ông sinh ngày 22 – 9 – 1912. Ông có một cuộc đời đau khổ, lắm truân chuyên và phải chịu đựng căn bệnh nan y. Dù là vậy, với tài năng của mình, ông vẫn trở thành một nhà thơ nổi tiếng, mang hồn thơ uất, nhưng không kém lãng mạn. Ông đã đóng góp rất nhiều bài thơ hay cho phong trào Thơ Mới. Các tập thơ nổi tiếng của ông có thể kể đến như: Thơ Điên, Gái quê,…

Ông cũng là người đầu tiên khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Năm 28 tuổi, Hàn Mặc Tử mất do bệnh phong.

4. Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989)

Thế Lữ sinh ngày 6 – 10 – 1907, tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Quê ở Hà Nội. Ông làm nhiều việc như nhà văn, nhà soạn kịch, dịch giả, nhà báo,… nhưng nổi tiếng nhất với vai trò một nhà thơ. Ông hoạt động sáng tác sôi nổi nhất vào những năm 30 của thế kỉ XX, là thành viên của Tự lực văn đoàn. Hồn thơ của ông được Hoài Thanh ví như “chốn bồng lai”. Trong tất cả những tác phẩm, Nhớ rừng là bài thơ nổi tiếng nhất, đã được đưa vào giảng dạy và học tập trong nhà trường.

Tháng 6 năm 1989, ông ra đi khi vừa tròn 81 tuổi.

5. Nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966)

Nguyễn Bính sinh năm 1918, tên đầy đủ là Nguyễn Trọng Bính. Quê ở Nam Định. Ông là một nhà thơ theo trường phái lãng mạn nổi tiếng Việt Nam. Tuy nhiên, nếu như Xuân Diệu hướng đến tình yêu hiện đại, “Tây hóa”, thì thơ Nguyễn Bính lại quay về với tình yêu giản dị, mộc mạc, chân chất ở thôn quê. Vì vậy, ông được coi là nhà thơ của làng quê. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Bính đã cho ra đời nhiều tác phẩm hay, và nhiều bài thơ của ông đã được các nhạc sĩ phổ nhạc, như Chân Quê, Người hàng xóm,…

Nhà thơ mất vào năm 1966.

6. Nhà thơ Anh Thơ (1921-2005)

Anh Thơ sinh vào tháng 1 năm 1921, quê ở Hải Dương. Tên thật là Vương Kiều Ân. Bà là nhà một trong số ít nhà thơ nữ nổi tiếng trong những năm diễn ra cuộc cách tân thơ – phong trào Thơ Mới. Là một thi nhân tài năng, sáng tác từ năm bà 17 tuổi. Và ngay tác phẩm đầu tay – Bức tranh quê, bà đã được nhận giải thưởng khuyến khích do Tự lực văn đoàn trao tặng. Ngoài vai trò 1 nhà thơ, nữ thi sĩ còn đảm nhận nhiều chức vụ khác như bí thư, ủy viên thường vụ,…

Bà mất cách đây 11 năm (2005), là một trong những nhà thơ sống trong hai thế kỉ.

7. Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989)

Chế Lan Viên sinh ngày 20 – 10 – 1920, tên thật là Phan Ngọc Hoan. Quê ở Quảng Trị. Cũng giống như nữ thi sĩ Anh Thơ, năm 17 tuổi, ông ra mắt đọc giả tập thơ đầu tay mang tên Điêu tàn và ngay lập tức tạo dựng được tên tuổi cho mình. Thơ ông đi theo Trường Thơ Loạn, trường phái thơ của Hàn Mặc Tử. Thơ của Chế Lan Viên đậm chất trữ tình triết luận, với những triết lý, những siêu hình, bí ẩn. Còn từ khi tham gia Việt Minh, hoạt động Cách mạng, ông chuyển sang làm thơ về kháng chiến. Các tác phẩm tiêu biểu: Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường – Chim báo bão,… Ông có nhiều tác phẩm được đã được đưa vào giáo dục trong nhà trường.

Chế Lan Viên mất năm 1989 tại Sài Gòn.

8. Nhà thơ Vũ Đình Liên (1913-1996)

Vũ Đình Liên sinh ngày 12 – 11 – 1913 tại Hà Nội. Quê gốc ở Hải Dương. Ông là nhà thơ, cũng là một nhà giáo được nhiều người biết đến. Tuy vậy, ông sáng tác không nhiều. Tác phẩm nổi tiếng nhất của thi sĩ là bài thơ Ông đồ, đây cũng là một trong những bài thơ nổi tiếng và tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ Mới. Ngoài vai trò nhà thơ, ông còn làm văn, viết báo, nhà phê bình văn học và là một trong những thành viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam hoạt động cho đến tận bây giờ.

Nhà thơ mất vào năm 1996.

9. Nhà thơ Huy Cận (1917-2005)

Huy Cận sinh ngày 22 – 1 – 1917, tên đầy đủ là Cù Huy Cận. Quê ở Hà Tĩnh. Tuy không thuộc con nhà nho, nhưng ông vẫn có một niềm đam mê mãnh liệt với sáng tác, đặc biệt là thi ca. Ông là bạn thân của nhà thơ Xuân Diệu, và cũng là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới. Vì là người con của Cách mạng, nên hầu hết các tác phẩm của ông đều mang những trăn trở về quê hương, đất nước. Các tập thơ nổi bật là Lửa thiêng, Trời mỗi ngày lại sáng, Ngày hằng sống ngày hằng thơ,…

Ông mất vào năm 2005.

10. Nhà thơ chúng tôi

chúng tôi là bút danh của một nhà thơ bí ẩn nhất phong trào Thơ Mới. Cho dù không công khai thông tin về mình, nhưng nữ thi sĩ vẫn được biết đến và yêu thích với bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn” vô cùng nổi tiếng. Ngay sau khi bài thơ được đăng tải trên Tạp chí thứ bảy năm 1937, hàng loạt giả thiết về lai lịch của tác giả đã được đưa ra, nhưng không có gì để chắc chắn. Và cho đến tận bây giờ, chúng tôi vẫn là một câu hỏi không được trả lời.

Ngoài Hai sắc hoa Ti-gôn, nhà thơ này còn có thêm 2 bài thơ khác là Bài thơ đan áo và Bài thơ cuối cùng nhưng không nổi tiếng bằng.

Những Nhà Văn Thơ Nổi Tiếng Nhất Việt Nam Có Tác Phẩm Được Thế Giới

Các tác phẩm của A Khuê :

Ông có hơn ngàn bài thơ.Hai tập thơ nổi tiếng nhất của ông là:

Lùa bò trong sương

Vàng bay

Bài thơ nổi tiếng nhất của ông đã được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ thành nhạc đó là bài Về đây nghe em: Về đây nghe em! Về đây mặc áo the đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao…

Ông có hơn 300 ca khúc. Các ca khúc nổi tiếng là:

Tình thiên thu

Nhánh hoa xưa (thơ Trương Đình Tuấn)

Bóng gương (thơ Thái Thanh Nguyên)

Album Mặt trời đã lên (cùng nhạc sĩ Bạch Cung Thạnh)

2. An Nam tiến phụng sứ

An Nam tiến phụng sứ chính là một sư thần nhà Trần được cử sang đi cống tiến nhà Nguyên. 5 bài thơ của tác giả này được đề ở trạm dịch Quế Lâm và được Lê Tắc tuyển chép trong quyển 18 của An Nam chí lược với tiêu đề sách là “An Nam danh nhân thi” thuộc phần thơ của các danh nhân nhà Trần.

Hiện chưa có thông tin đầy đủ về tác giả này.

5 bài thơ đề ở trạm dịch Quế Lâm được Lê Tắc chép trong quyển 18 của bộ sách sử “An Nam Chí Lược” có tiêu đề là “An Nam danh nhân thi” đây là phần thơ của các vua quan triều Trần.

題桂林驛其一 楊柳長亭又短亭 春風吹旆著江城 無人相識客對客 有事可知情度情 千里鄉心蝴蝶夢 一船行色鷓鴣聲 不知擁節明朝去 又是煙波幾日程

Đề Quế Lâm dịch kỳ 1

Dương liễu trường đình hựu đoản đình, Xuân phong xuy bái trước Giang Thành. Vô nhân tương thức khách đối khách, Hữu sự khả tri tình độ tình. Thiên lý hương tâm hồ điệp mộng, Nhất thuyền hành sắc giá cô thanh. Bất tri ủng tiết minh triêu khứ, Hựu thị yên ba kỷ nhật trình.

題桂林驛其二 夏日江城氣蘊隆, 使華期限苦匆匆。 萬程去路馬嘶外, 一掬歸心蝶夢中。 在我有懷深感慨, 彼天無語問窮通。 平生不作錐囊計, 慚愧尋常五尺童。

Đề Quế Lâm dịch kỳ 2

Hạ nhật Giang Thành khí uẩn long, Sứ hoa kỳ hạn khổ thông thông. Vạn trình khứ lộ mã tê ngoại, Nhất cúc quy tâm điệp mộng trung. Tại ngã hữu hoài thâm cảm khái, Bỉ thiên vô ngữ vấn cùng thông. Bình sinh bất tác chuỳ nang kế, Tàm quý tầm thường ngũ xích đồng.

題桂林驛其三 逆旅蕭蕭夜籟沉, 芭蕉葉上動秋心。 一鞭馬影隨風遠, 故國梅花入夢深。 客裏月明偏識麵, 天涯斷雁少知音。 淩雲未遂平生誌, 擊節不勝時朗吟。

Đề Quế Lâm dịch kỳ 3

Nghịch lữ tiêu tiêu dạ lại trầm, Ba tiêu diệp thượng động thu tâm. Nhất tiên mã ảnh tuỳ phong viễn, Cố quốc mai hoa nhập mộng thâm. Khách lý nguyệt minh thiên thức miến, Thiên nhai đoạn nhạn thiểu tri âm. Lăng vân vị toại bình sinh chí, Kích tiết bất thăng thì lãng ngâm.

題桂林驛其四 十日蒸雲似桂林, 薰風何處不披襟。 樹蟬爭響客懷苦, 庭菊未開秋夢深。 醉裏乾坤新使節, 吟邊山水舊知音。 無端夜半空階雨, 滴碎鄉關萬里心。

Đề Quế Lâm dịch kỳ 4

Thập nhật chưng vân tự Quế Lâm, Huân phong hà xứ bất phi khâm. Thụ thiền tranh hưởng khách hoài khổ, Đình cúc vị khai thu mộng thâm. Tuý lý càn khôn tân sứ tiết, Ngâm biên sơn thuỷ cựu tri âm. Vô đoan dạ bán không giai vũ, Chích toái hương quan vạn lý tâm.

An Nam tiến phụng sứ thơ hay

題桂林驛其五 踏盡崔嵬路幾千, 停車逆旅自年年。 安危非我所能及, 語默隨人深可憐。 澆破鄉心桑落酒, 吟消客恨草堂篇。 自憐補國無絲發, 兩度春風馬一鞭。

Đề Quế Lâm dịch kỳ 5

Đạp tận thôi ngôi lộ kỷ thiên, Đình xa nghịch lữ tự niên niên. An nguy phi ngã sở năng cập, Ngữ mặc tuỳ nhân thâm khả liên. Kiêu phá hương tâm tang lạc tửu, Ngâm tiêu khách hận thảo đường thiên. Tự liên bổ quốc vô ty phát, Lưỡng độ xuân phong mã nhất tiên.

lại trong quyển “An Nam chí lược” nằm ở quyển số 18, phần thơ của nhà Trần.

Các tác phẩm của An Nam tiến phụng sứ :

thivien.net/An-Nam-tiến-phụng-sứ/Đề-Quế-Lâm-dịch-kỳ-2/

3. Anh Chi – Lê Văn Sen

Anh Chi còn được biết đến với tên thật là Lê Văn Sen. Ông sinh năm 1947 tại Ngọc Trạo, Thanh Hóa và ông còn có một tên thật khác là Lưu Thuật Anh Thể loại sáng tác: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.

Các tác phẩm của Lê Văn Sen:

– Tôi yêu (1972) – Điệu lý riêng riêng (1979) – Thành lời tôi hát (1984) – Cây xương rồng khô khan (1995) – Câu chuyện buồm nhỏ (1982) – Nước mắt dành cho thiên nga (1989) – Bể khổ (1990)

4. Anh Ngọc – Nguyễn Đức Ngọc

Nhà thơ Anh Ngọc tên thật là Nguyễn Đức Ngọc, ông sinh năm 1943 tại Nghi Lộc, Nghệ An.

Bút danh khác còn có Ly Sơn.

Thể loại sáng tác: thơ, dịch, truyện ký. 1964-1972 dạy trường Trung cấp và Đại học Thương nghiệp, 1971-1973 là lính thông tin ở mặt trận Quảng Trị, 1973-1979 là phóng viên báo Quân đội nhân dân, từ năm 1979 là biên tập viên, cán bộ sáng tác tạp chí Văn nghệ quân đội. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1980).

Thơ Nguyễn Đức Ngọc :

– Ngàn dặm và một bước – Sông Mê Kông bốn mặt – Điệp khúc vô danh – Thơ tình rút từ nhật ký – Một con mèo nằm ngủ trên ngực tôi

– Tập thơ Hương đất màu cờ (1977) :

Bức tranh trên đỉnh dốc Cao điểm Cây xấu hổ Cỏ may Gặp gỡ Sài Gòn Gặp lại Góc vườn vui Khoảng đất dưới võng Khúc khải hoàn của đất đai Lúa chiêm ở Cùa Mùa mưa anh sẽ về Mưa trên mái tôn Sài Gòn đêm giao hưởng Sông Côn Đảo Thơ vui tặng con Thước ngắm một Tiếng mía quê ta Năm nay thăm vườn Bác

– Tập thơ Mạnh hơn tuyệt vọng

Anh còn gìChạy trốn dưới gầm trờiChiếc bình đã vỡCó lẽ nào anh lại sợ tình yêuĐùa tặng một cô gái không mấy chính chuyênEm đã đi về phía cuối trời chiềuEm đã trao anh không phải tình yêuGiá như…Là nhà thơ…Lặng lẽ lắc đầuMặt trời đã lặnNgười hát rong của thế kỷ XXNhạc Trịnh1Tạ ơnTâm hồn anhTình khúc 2000Tôi đang sống như một nàng chinh phụTuyệt vọng màu gìVí von từ Euro 2000Với nỗi đau này anh tồn tại

– Tập thơ Sông núi trên vai (1995) :

Chương 1    Tạo hìnhChương 2    Gọi tênChương 3    Đi đến những bài ca    Dốc Ba Cô    Bài ca về những đôi vai    Người kể chuyện dòng sông    Bài ca vầng trăng và chiếc dép    Hương lá    Bài ca lợp nhà    Những cô gái xe thồ    Bài ca đêm vượt lộ    Lời một cô gái ra dân    Bài ca những cô gái sống tuổi ba mươi trong rừngChương 4    Sợi chỉ    Bài ca những người đào huyệt    Sợi chỉ (tiếp)    Bài ca ru người nằm xuốngChương 5    Tiếng gọi    Bài ca mùa mưa anh sẽ về    Tiếng trả lời

Truyện ký Nguyễn Đức Ngọc :

– Ba cuộc đời một trái bóng

Dịch :

– Độc thoại của Marilyn Monroe (thơ Nga nhiều tác giả) – Những kẻ tủi nhục (Fedor Dostoievski)

Ánh mắt Bên lở bên bồi Cho một người1 Chuyện nhỏ trong rừng Một con mèo nằm ngủ trên ngực tôi Mỵ Châu3 Thị Màu Trở lại sư đoàn Vị tướng già

5. Nhà thơ nữ Việt Nam – Anh Thơ – Vương Kiều Ân

Anh Thơ (25 tháng 1 năm 1921 – 14 tháng 3 năm 2005), tên thật là Vương Kiều Ân (Vuơng là họ cha, Kiều họ mẹ), các bút danh khác: Hồng Anh, Tuyết Anh, Hồng Minh – đầu tiên bà sử dụng bút danh là Hồng Anh sau mới đổi tên thành Anh Thơ; là một nhà thơ nữ Việt Nam.

Anh Thơ sinh tại thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang (Bắc Việt), tỉnh Hải Dương; quê quán: thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Cha bà là một nhà nho đậu tú tài và ra làm công chức cho Pháp nên phải thuyên chuyển nhiều nơi, Anh Thơ cũng phải đổi trường học từ Hải Dương sang Thái Bình rồi về lại Bắc Giang mà vẫn chưa qua bậc tiểu học. Ban đầu, bà lấy bút danh Hồng Anh, sau mới đổi thành Anh Thơ.

Anh Thơ sáng tác từ sớm, năm 17 tuổi với tập Bức tranh quê bà được nhận giải khuyến thích của Tự Lực Văn Đoàn. Sau đó bà tham gia viết bài cho báo Đông Tây và một vài báo khác.

Anh Thơ tham gia Việt Minh từ năm 1945, từng là Bí thư huyện Hội phụ nữ 4 huyện thời đó: Việt Yên, Lục Ngạn, Bắc Sơn, Hữu Lũng (tỉnh Bắc Giang), ủy viên thường vụ Tỉnh hội phụ nữ hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn.

Bà là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1957), ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 1 và 2).

Từ năm 1971 đến năm 1975 bà làm biên tập viên tạp chí Tác phẩm mới. Bà cũng là ủy viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Bà mất tại Hà Nội do bệnh ung thư phổi.

Anh Thơ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Các tác phẩm của bà :

• Bức tranh quê (thơ, 1939), 45 bài thơ

• Xưa (thơ, in chung, 1942)

• Răng đen (tiểu thuyết, 1943)

• Hương xuân (thơ, in chung, 1944)

• Kể chuyện Vũ Lăng (truyện thơ, 1957)

• Theo cánh chim câu (thơ, 1960)

• Ðảo ngọc (thơ, 1964)

• Hoa dứa trắng (thơ, 1967)

• Mùa xuân màu xanh (thơ, 1974), 39 bài thơ

• Quê chồng (thơ, 1979)

• Lệ sương (thơ, 1995)

• Cuối mùa hoa (thơ, 2000)

• Hồi ký Anh Thơ (hồi ký, 2002, gồm 3 tập: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng sông chia cắt)

• Bến đò bên sông

6. Anh Vũ – Nguyễn Công Ứng

Anh Vũ có tên khai sinh là Nguyễn Công Ứng bên cạnh đó ông còn có bút danh khác là Việt Tâm. Ông sinh năm 1943 và cũng chính là một nhà điêu khắc, một nhà thơ. Tập thơ Đôi mươi quan họ (1994) Tập thơ Đến những thời trai trẻ

7. Ấm Bảy

Ấm Bảy còn có tên là Muôn và họ Trương. Là cháu của Trương Quang Đản ở Mỹ Khê, Sơn Mỹ, Sơn Tịnh, Quãng Ngãi. Các bài thơ của Ấm Bảy

8. Ấu Triệu – Lê Thị Đàn

Ấu Triệu còn có tên thật là Lê Thị Đàn, là người làng Thế Lại, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ nhỏ bà đã nổi tiếng về năng khiếu văn chương và hiếu học tuy nhiên gia Các bài thơ của Ấu Triệu

9. Ba Giai

Ba Giai tên thật là Nguyễn Văn Giai chưa rõ năm sinh năm mất, tuy nhiên theo nhiều tài liệu ghi chép lại, ông sống dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức (Cuối thế kỷ 19) Các bài thơ của Ba Giai

10. Bà huyện Thanh Quan

Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Bà sinh ở làng Nghi Tàm huyện Thọ Xương nay là Hà Đông, tuy nhiên tiểu sử của bà không được biết đến đầy đủ. Bà đã lập gia đình với ông Lưu Nghị. Các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan

11. Bản Tịnh thiền sư

Bản Tịnh thiền sư (1100-1176) đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông, họ Kiều, người Phù Diễn, làng Vĩnh Khang. Các bài thơ của Bản Tịnh thiền sư

12. Bàng Bá Lân – Nguyễn Xuân Lân

Bàng Bá Lân tên thật là Nguyễn Xuân Lân (1912 – 1988) ông là một nhà thơ, một nhà giáo và là nhiếp ảnh gia của Việt Nam. Quê ở Đôn Thư, Hà Nam nhưng sinh ra và lớn lên ở Bắc Giang. Các bài thơ của Bàng Bá Lân

13. Bảo Cường – Tôn Quốc Cường

Bảo Cường sinh năm 1943 và có tên thật là Tôn Quốc Cường. Ông quê ở Dương Hòa, Huế và là một nhà thơ, nghệ sĩ ngâm thơ, sáo trúc, cộng tác với chương trình “Tiếng thơ ” cùa Đài tiếng nói nhân dân và Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh. Tập Dòng thời gian (1999)

14. Bảo Định Giang – Nguyễn Thanh Danh

Bảo Địng Giang (1919 – 2005) còn có tên thật là Nguyễn Thanh Danh, nguyên quán tại Xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Các bút danh khác: Nguyễn Thanh, Thu Thuỷ, Văn Kỹ Thanh, Nguyễn Tịnh Hà. Tập thơ Đường giải phóng (1977) phần 1 Tập thơ Đường giải phòng (1977) phần 2

15. Bảo Giác Thiền sư

Bảo Giác Thiền sư là bạn kết giao và cũng chính là người dẫn dắt thiền sư Tĩnh Giới. Chưa rõ năm sinh và quê quán của ông. Tuy nhiên, chỉ biết rằng ông mất năm 1173. Và các bài thơ lưu lại cũng không nhiều Bài thơ Quy tịch

16. Bảo Giám Thiền sư

Bảo Giám Thiền sư mất năm 1173 và chưa rõ năm sinh của ông. Ông còn có tên tục là Kiều Phù và là người Trung Thụy và rất có tài vẽ khéo và viết chữ đẹp. Các bài thơ của Bảo Giám Thiền sư

17. Băng Sơn – Trần Quang Bốn

Băng Sơn còn có tên thật là Trần Quang Bốn. Ông sinh 1932 và mất năm 2010 quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Bên cạnh đó ông cũng có rất nhiều biệt danh khác như: Mai Băng Phương, Trần Cẩm Giàng, Quang Chi… Các bài thơ của Băng Sơn

18. Bằng Việt – Nguyễn Việt Bằng

Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng và ông sinh năm 1941 ở Huế. Năm 1969 ông tham gia Hội nhà văn Việt Nam và ông cũng chính là Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Tập thơ Bếp lửa (1958) Tập thơ Những gương mặt, những khoảng trời (1973) Tập thơ Đất sau mưa (1977) Tập thơ Khoảng cách giữa lời (1984) Tập thơ Ném câu thơ vào gió (2001) Tập thơ Nheo mắt nhìn thế giới (2008) Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài phần 1 Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài phần 2 Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài phần 3 Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài phần 4 Các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài phần cuối Sự nghiệp và các bài thơ khác

19. Bế Kiến Quốc

Bế Kiến Quốc sinh ngày 19/05/1949, quê quán Hà Nội, hiện ở tại Hà Nội. Tốt nghiệp đại học Tổng Hợp Hà Nội, ngành Ngữ văn. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1981). Tập thơ Cuối rễ đầu cành (1994) Tập thơ Những dòng sông (1969) Các bài thơ khác

20. Bế Thành Long

Bế Thành Long sinh ngày 16-10-1938 tại Cao Bằng. Hiện công tác tại Hội Văn nghệ tỉnh Cao Bằng, thị xã Cao Bằng. Các bài thơ của Bế Thành Long

21. Bến Tre nữ sĩ

Bến Tre nữa sĩ chưa rõ tên thật và thân thế. Tuy nhiên có một bài thơ được ghi chép lại. Lâm biệt thi tặng

22. Bích Hoàng – Hoàng Bích Dư

Bích Hoàng tên thật là Hoàng Bích Dư (1928) và là một giáo viên, nhà thơ nữ quê ở Huế. Các bài thơ của Bích Hoàng

23. Bích Khê – Lê Quang Lương

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương và ông sinh năm 1916 tạo Quãng Ngãi nay thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Tuyển tập thơ Bích Khê phần 1 Tuyển tập thơ Bích Khê phần 2 Tuyển tập thơ Bích Khê phần 3 Tuyển tập thơ Bích Khê phần cuối

24. Bích Liên hòa thượng – Thích Trí Hải

Bích Liên hoà thượng (1876-1950) thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông sinh trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Các bài thơ của Bích Liên hòa thượng

25. Bình Nguyên Trang – Vũ Thị Quỳnh Trang

Bình Nguyên Trang còn có tên thật là Vũ Thị Quỳnh Trang sinh năm 1977 tại Phú Thọ và quê gốc ỏ Hải Hậu Nam Định và là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 Tuyển tập thơ của Bình Nguyên Trang phần 1 Tuyển tập thơ của Bình Nguyên Trang phần 2 Tuyển tập thơ của Bình Nguyên Trang phần 3 Tuyển tập thơ của Bình Nguyên Trang phần 4 Tuyển tập thơ của Bình Nguyên Trang phần cuối

26. Bình Phú tổng đốc

Bình Phú tổng đốc tức tổng đốc Bình Định, Phú Yên, chưa rõ là ai, thân thế và sự nghiệp. Và hiện tại chỉ có một bài thơ được ghi chép lại. Lưu giản thi

27. Bùi Ân Niên

Bùi Ân Niên là người làng Châu Cầu, tỉnh Hà Nam, Bắc Việt. Ông đã đổ cử nhân trường Hà Nội, nổi tiếng hay chữ. Khoa Ất Sửu, Tự Đức 18 (1866) vào kinh thi hội, làm xong bốn kì được vào hạng chánh trúng cách. Các bài thơ của Bùi Ân Niên

28. Bùi Bá Kỳ

Bùi Bá Kỳ chưa rõ năm sinh và năm mất chỉ biết ông là người làng Phù Nội châu Hạ Hồng. Và là một người họ ngoại của nhà Trần nên từ nhỏ đã được hầu hạ bên cạnh vua và đã làm nhiều chức quan lớn trong triều đình. Các bài thơ của Bùi Bá Kỳ

29. Bùi Chí Vinh

Bùi Chí Vinh sinh ngày 23 tháng 10 năm 1954 và hiện đang sinh sống ở Sài Gòn. Bên cạnh viết thơ ông còn viết truyện thiếu nhi và viết kịch bản phim. Tập Thơ đời (2007) phần 1 Tập Thơ đời (2007) phần 2 Tập Thơ đời (2007) phần 3 Tập Thơ đời (2007) phần cuối Tập Thơ tình (1989) phần 1 Tập Thơ tình (1989) phần 2 Tập Thơ tình (1989) phần 3 Tập Thơ tình (1989) phần 4 Tập Thơ tình (1989) phần 5 Tập Thơ tình (1989) phần cuối Các bài thơ khác

30. Bùi Công Minh

Bùi Công Minh sinh năm 1947 tại Đà Nẵng, vốn là giảng viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nổi tiếng với bài thơ Hành khúc ngày và đêm được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc. Tập thơ Ngày và đêm

31. Bùi Cơ Túc

Bùi Cơ Túc chưa rõ năm sinh năm mất và có niên hiệu là Liên Khê. Cũng chưa rõ quê quán và sự nghiệp của ông chỉ biết ông sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Trấn Quốc Tự

32. Bùi Dương Lịch

Bùi Dương Lịch (1758-1828) tự là Tồn Thành và Tồn Trai hiệu là Thạch Phủ, người xã Yên Đông, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông từng giữ chức Đốc học Nghệ An sau đó thăng chức lên Phó Đốc học Quốc tử giám sau ông xin về quê dạy học. Các bài thơ của Bùi Dương Lịch

33. Bùi Đạt

Bùi Đạt (1433-1509) người làng Duy Tiên, xã Tân Cốc, huyện Duy Tiên, phủ Lị Nhân, trấn Sơn Nam (nay là huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Đỗ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Dậu. Dưới thời Lê Thánh Tông ông làm đến chức quan Tham chính. Vãng Tam Cốc Trần đê cư xứ

34. Bùi Đăng Sinh

Bùi Đăng Sinh là một nhà thơ Việt Nam hiện đại, ông sinh năm 1940 và quê ở Thanh Oai, Hà Đông nay là Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc. Tập thơ Nơi đợi chờ nhau (1994)

35. Bùi Đức Ánh

Bùi Đức Ánh sinh năm 1949 và còn được biết đến với bút danh khác là Bùi anh Sắc. Ông là một nhà giáo, nhà văn, nhà thơ quê ở Sơn Tịnh, Quãng Ngãi. Và là hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Tập thơ Thong dong ký ức (2012)

36. Bùi Đức Khiêm

Bùi Đức Khiêm là một nhà thơ, nhà văn và cũng là một nhà báo. Ông nguyên là Tổng biên tập của báo Công thương và cũng có nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi Các bài thơ của Bùi Đức Khiêm

37. Bùi Giáng

Bùi Giáng sinh năm 1926 và mất năm 1998. Ông sinh ra tại Thanh Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Ông rất được văn giới yêu mến và kính trọng. Và cũng chính là tác giả của nhiều tập thơ nổi tiếng. Bên cạnh đó ông cũng được đánh giá là một người có nnawg khiếu văn chương, ngôn ngữ kể cả các ngôn ngữ khó như chữ Hán và tiếng Đức. Chính điều này đã làm kinh ngạc những người trong văn giới. Tập thơ Như sương (1998) phần 1 Tập thơ Như sương (1998) phần 2 Tập thơ Như sương (1998) phần cuối Tập thơ Mười hai con mắt – Di cảo thơ (2001) phần đầu Tập thơ Mười hai con mắt – Di cảo thơ (2001) phần cuối Tập thơ Bèo mây bờ bến và Một số tác phẩm chưa xuất bản – Di cảo thơ Tập thơ Đêm ngắm trăng (1997) phần 1 Tập thơ Đêm ngắm trăng (1997) phần 2 Tập thơ Đêm ngắm trăng (1997) phần 3 Tập thơ Đêm ngắm trăng (1997) phần cuối Tập thơ Rong rêu (1995) Tập thơ Mưa nguồn hòa âm (1973) phần đầu Tập thơ Mưa nguồn hòa âm (1973) phần cuối Tập thơ Lá hoa cồn (1963) phần đầu Tập thơ Lá hoa cồn (1963) phần cuối Tập thơ Bài ca quần đảo (1963) phần đầu Tập thơ Bài ca quần đảo (1963) phần cuối Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 1 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 2 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 3 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 4 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 5 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần 6 Tập thơ Mưa nguồn (1962) phần cuối Các bài thơ khác phần 1 Các bài thơ khác phần 2

38. Bùi Hạnh Cẩn

Bùi Hạnh Cẩn sinh năm 1921 tại thôn Vân Tập, xã Minh Tân, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong một gia đình Nho giáo. Thân sinh là cụ Bùi Trình Khiêm. Ông nổi tiếng với các bản thơ dịch đặc sắc Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 1 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 2 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 3 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 4 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 5 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 6 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 7 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 8 Tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần cuối

39. Bùi Hồng Khanh

Bùi Hồng Khanh sinh năm 1946 và là một quân nhân, cựu biệt động thành Đà Nẵng. Ông đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và quê gốc ở Điện Bàn, Quảng Nam. Sau khi về hưu chủ yếu viết thơ và hồi ký Các bài thơ của Bùi Hồng Khanh

40. Bùi Huy Bích

Bùi Huy Bích sinh năm 1744 và mất năm 1802 ông có tự là Hy Chương và hiệu Tồn Am. Đây là một nhà thơ nhà văn của Việt Nam quê ở Thanh Trì, trấn Sơn Nam nay thuộc Hà Nội. Ông từng làm đến chức quan Tham tụng ở phủ chúa Trịnh. Tuyển tập thơ của Bùi Huy Bích phần 1 Tuyển tập thơ của Bùi Huy Bích phần 2

41. Bùi Huy Phồn

Bùi Huy Phồn (1911-1990) có các bút danh là Đồ Phồn, Bùi Như Lạc, Cười Suông, Việt Lệ, Ấm Hai, Lý Ba Lẽ, BHP. Ông sinh ngày 16-12-1911 tại Phố Đầm, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, quê gốc tại làng Liên Bạt, xã Mai Đình, huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây. Các bài thơ của Bùi Huy Phồn

42. Bùi Hữu Nghĩa

Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) hiệu là Nghi Chi, người làng Long Tuyền, Bình Thuỷ, tỉnh Cần Thơ. Ông đỗ giải nguyên trường hương Gia Định năm 28 tuổi (1835, Minh Mạng 16) nên thường gọi là thủ khoa Nghĩa. Các bài thơ của Bùi Hữu Nghĩa

43. Bùi Hữu Thiềm

Bùi Hữu Thiềm sinh năm 1947 tại xã Vạn Ninh, Móng Cái, Quảng Ninh, hiện đang là chủ tịch hội Văn học miền đông, có nhiều thơ in trên các báo trung ương và địa phương. Tập thơ Gửi cùng (2005)

44. Bùi Hữu Thứ

Bùi Hữu Thứ (1889-1945) hiệu Nguyện Trai người thôn An Ninh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu 1909, phó bảng khoa Kỷ Mùi 1919. Các bài thơ của Bùi Hữu Thứ

45. Bùi Kim Anh

Bùi Kim Anh sinh năm 1948 tại Thái Bình và đã tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội. Bà cũng chính là giáo viên dạy văn số 1 tại một số trường Phổ thông trung học ở Hà Nội. Tập thơ Sợ rằng lục bát đã nhàu – Nhặt lời cho bóng là (2015) Tập thơ Nhẹ cánh hoa rơi, Người ở trong ta – Nhặt lời cho bóng là (2015) Tập thơ Đi tìm giấc mơ (2012) Tập thơ Lối mưa (1999) Tập thơ Cỏ dại khờ (1996) Chùm thơ lục bát phần đầu Chùm thơ lục bát phần cuối Các bài thơ khác

46. Bùi Kỷ

Bùi Kỷ (1888-1960) tên chữ là Ưu Thiên, hiệu là Tử Chương, là nhà giáo, nhà Nho học và nhà nghiên cứu văn hoá đầu thế kỷ 20. Ông quê ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam), trong một gia đình khoa bảng Nho học Các bài thơ của Bùi Kỷ

47. Bùi Minh Quốc

Bùi Minh Quốc sinh ngày 3/10/1940, quê ở Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây. Ngay từ khi còn là học sinh trung học, ông đã sớm nổi tiếng ở miền Bắc với bài thơ Lên miền Tây. Tuyển tập thơ của Bùi Minh Quốc phần 1 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Quốc phần 2 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Quốc phần 3 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Quốc phần cuối

48. Bùi Minh Trí

Bùi Minh Trí (1939-) là nhà giáo, nhà thơ, quê ở Hải Dương, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1939. Ông là phó giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, giảng dạy tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần 1 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần 2 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần 3 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần 4 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần 5 Tuyển tập thơ của Bùi Minh Trí phần cuối

49. Bùi Mộ

Bùi Mộ chưa rõ thân thế, đỗ bảng nhãn, quan đời Trần Anh Tông, sống khoảng cùng thời với Mạc Đĩnh Chi. Quá Bành Trạch

50. Bùi Nguyễn Trường Kiên – Nguyễn Hữu Hà

Bùi Nguyễn Trường Kiên tên thật là Nguyễn Hữu Hà, quê xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là nhà báo, nhà thơ, nhà văn, nhà giáo Tập thơ Quê nhà nỗi nhớ (2002) phần đầu Tập thơ Quê nhà nỗi nhớ (2002) phần cuối Tập thơ Gửi lời cho gió mang đi (1997) Tập thơ Tình – Ru cho một thuở (2015) phần đầu Tập thơ Tình – Ru cho một thuở (2015) phần cuối Tập thơ Đời – Ru cho một thuở (2015) phần đầu Tập thơ Đời – Ru cho một thuở (2015) phần cuối

51. Bùi Phổ

Bùi Phổ sinh năm 1443, chưa rõ năm mất người xã Lê Xá, huyện Nghi Dương, đạo Hải Dương (nay thuộc tỉnh Nam Định). Năm 25 tuổi, đỗ Chính tiến sĩ khoa Đinh Mùi Hồng Đức thứ 18 (1487) Vãn Thánh Tông Thuần hoàng đế

52. Bùi Sĩ Vui

Bùi Sĩ Vui là nhà văn, nhà thơ, Trung tướng quân đội Việt Nam. Ông nguyên là Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra. Và quê ở Quảng Tân, Quảng Xương, Thanh Hóa Tập thơ Khoảng trời thương nhớ (2008)

53. Bùi Sim Sim

Bùi Sim Sim sinh ngày 20 tháng 6 năm 1969 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An và bà đã tốt nghiệp Khoa ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội năm 1991. Tập thơ Giữa hai chiều quên nhớ (2003) phần đầu Tập thơ Giữa hai chiều quên nhớ (2003) phần cuối Các bài thơ khác

54. Bùi Thanh Tuấn

Bùi Thanh Tuấn (1974-) là nhà thơ trẻ đương đại Việt Nam, còn có các bút danh Lão Bộc, Bùi Bảo Nghi. Sinh tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Các bài thơ của Bùi Thanh Tuấn

55. Bùi Thế Mỹ

Bùi Thế Mỹ 1904-1943) là nhà văn, ký giả hiện đại, hiệu Lan Đình, Thông Reo, quê huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Các bài thơ của Bùi Thế Mỹ

56. Bùi Thụy Đào Nguyên

Bùi Thuỵ Đào Nguyên sinh năm 1980, hiện là thợ may màn cửa, sinh sống tại Long Xuyên, An Giang, thi thoảng có thơ, truyện, nghiên cứu đăng trên các báo… Các bài thơ của Bùi Thụy Đào Nguyên

57. Bùi Tông Hoan

Bùi Tông Hoan có sách chép là Bùi Tông Quán) hiệu Thuỷ Hiên, chưa rõ năm sinh năm mất, quê quán và hành trạng như thế nào. Chỉ biết ông làm quan dưới thời Trần Anh Tông. Các bài thơ của Bùi Tông Hoan

58. Bùi Trục

Bùi Trục chưa rõ năm sinh năm mất, hiệu Đản Trai, người làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà Nội). Ông đỗ Hương cống năm Lê Cảnh hưng thứ 20 (1759) làm tới chức Tự thừa (trợ lý) Các bài thơ của Bùi Trục

59. Bùi Tuyết Nhung

Nhà thơ Bùi Tuyết Nhung tên thật Bùi Thị Tuyết Nhung, sinh ngày 22-10-1978 tại Nam Định. Chị còn có bút danh khi viết văn xuôi là Ninh Gia Hân, Vũ Thị Huệ. Các bài thơ của Bùi Tuyết Nhung

60. Bùi Văn Dị

Bùi Văn Dị (1833-1895) tự Ân Niên, có các tên hiệu là Tốn Am, Du Hiên, Hải Nông, Châu Giang. Ông quê làng Châu Cầu, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội Các bài thơ của Bùi Văn Dị

61. Bùi Văn Dung

Bùi Văn Dung sinh năm 1941 (Tân Tỵ), quê và chỗ ở hiện nay đều là xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông được biết đến với tứ thơ nổi tiếng “Gửi nắng cho em” Gửi nắng cho em

62. Bùi Văn Nguyên

Bùi Văn Nguyên (1918-2003) là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ và dịch giả văn học Việt Nam. Ông có các bút danh: Vân Trình, Hùng Nam Yến, Khuê Hoa nữ tử, Tú Gầy. Ông quê ở làng Hưng Vận, xã Nghi Hưng, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Các bài thơ và bản dịch thơ tác giả khác của Bùi Văn Nguyên

63. Bùi Việt Phong

Bùi Việt Phong sinh năm 1950 tại Thái Bình, hiện sống tại Hà Nội. Các bài thơ của Bùi Việt Phong

64. Bùi Xương Trạch – Bùi Xuân Trạch

Bùi Xương Trạch (1451-1529) là con trai lớn của Diễn Phúc bá Tả Dụ (hay Trung Thức). Ông làm quan trong triều nhà Hậu Lê, giữ các chức vụ như Đông các Học sĩ, Thượng thư bộ Binh, Tế tửu Quốc Tử Giám… cũng như Thượng thư Trưởng Lục bộ Đêm trung thu không trăng

65. Bùi Xương Tự

Bùi Xương Tự(1656-1728) hiệu Túc Trai, người làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội, là ông nội của nhà văn Bùi Huy Bích (tác giả Hoàng Việt thi văn tuyển). Các bài thơ của Bùi Xương Tự

75. Bửu Kế

Bửu Kế (1913-1989) là nhà văn, dịch giả, tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Kế, bút hiệu Tiêu Sử, Lương Nhân, quê ở Phủ Lạc Biên đường Trung Bộ (nay là đường Tô Hiến Thành, Gia Hội, Huế). Các bài thơ của Bửu Kế C

66. Cao Bá Nhạ

Cao Bá Nhạ chưa rõ năm sinh năm mất người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông là con Cao Bá Đạt và là cháu Cao Bá Quát. Tập thơ Tự tình khúc

67. Cao Bá Quát

Cao Bá Quát (1809?-1855) tự Chu Thần, sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức… Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu huỷ văn chương ông. Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 1 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 2 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 3 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 4 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 5 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 6 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần 7 Tuyển tập thơ chữ Hán của Cao Bá Quát phần cuối Tuyển tập thơ chữ Nôm của Cao Bá Quát

68. Cao Ngọc Lễ

Cao Ngọc Lễ chưa rõ năm sinh năm mất là quan nhà Nguyễn và là cộng sự của thực dân Pháp trong lịch sử Việt Nam. Ông là người xã Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Ông vừa là cháu gọi Tống Duy Tân bằng cậu, vừa là học trò của vị tiến sĩ này. Thành Thái Quý Tỵ Xuân

69. Cao Quảng Văn

Cao Quảng Văn sinh năm 1947 tại Thừa Thiên Huế, cựu phó chủ tịch tổng hội sinh viên thành phố Hồ Chí Minh (1966-1967), hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Tập thơ Sớm mai chim hót – Thầm lặng mùa xanh (1995) Tập thơ Đêm lặng trước mùa xuân – Thầm lặng mùa xanh (1995) Tập thơ Về đâu mây trăng (2001)

70. Cao Thị Ngọc Anh

Cao Thị Ngọc Anh (1878-1970) tên thật là Cao Thị Hoà, còn gọi Cao Ngọc Anh, sinh ngày 22 tháng 12 năm Tự Đức thứ 31 (1878), quê làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ bà đã uyên thâm cả Hán học và tao nhã cả văn chương Các bài thơ của Cao Thị Ngọc Anh

71. Cao Thị Vạn Giả

Cao Thị Vạn Giả tên thật là Cao Thị Ngọc Ân, sinh ngày 15-2-1941 tại Tân Khánh, Bình Dương, đã theo học các trường Đông Tây, Trường Sơn, Cửu Long. Các bào thơ của Cao Thị Vạn Giả

72. Cao Thoại Châu

Cao Thoại Châu tên thật là Cao Đình Vưu, sinh năm 1939 tại Giao Thuỷ, Nam Định, di cư vào Nam năm 1954. Bút hiệu của ông được ghép từ chữ Thoại là chữ lót trong tên của người bạn gái gốc Hoa và chữ Châu trong tên tỉnh Châu Đốc mà thành. Ông còn có các bút danh khác là Tiểu Nhã, Hư Trúc. Các bài thơ của Cao Thoại Châu

73. Cao Tiêu

Cao Tiêu (1929-2012) tên thật là Hoàng Ngọc Tiêu, sinh tại xã Dưỡng Thông, huyện Kiến Xương, Thái Bình.Từ năm 1968 đến năm 1975 ông cũng là chủ nhiệm nguyệt san Tiền phong và bán nguyệt san Chiến sĩ Cộng hoà. Các bài thơ của Cao Tiêu

74. Cao Tự Thanh

Học giả Cao Tự Thanh tên thật là Cao Văn Dũng, sinh ngày 9-6-1955 tại Sài Gòn. Ông là con trai của một nhân vật nổi tiếng Nam Bộ thời chống Mỹ và thời trước đổi mới là ông Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần. Dân gian có câu “Bắc khoán hộ Kim Ngọc, Nam một giá Chín Cần”. Các bài thơ của Cao Tự Thanh

75. Cao Vũ Huy Miên

Nhà thơ, nhà báo Cao Vũ Huy Miên tên thật là Đinh Đoan Hùng, sinh năm 1955 tại Duy Xuyên (Quảng Nam). Ông thuộc thế hệ các văn nghệ sĩ trưởng thành từ lực lượng TNXP. Thơ ông đã tạo cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Các bài thơ của Cao Huy Miên

76. Cao Xuân Dục

Cao Xuân Dục (1843-1923) tự Tử Phát, hiệu Long Cương, Cổ Hoan, Đông Cao. Ông đã trải các chức quan Đông các Đại học sĩ, Quốc sử quán Tổng tài, Học bọ Thượng thư, Phụ chính Đại thần kiêm quả Quốc Tử Giám sự vụ, tước An Xuân tử. Các bài thơ của Cao Xuân Dục

77. Cao Xuân Huy

Cao Xuân Huy (1900-1983) là giáo sư, nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, từng được gọi là “nhà đạo học” ngay từ thuở mới khoảng 30 tuổi. Bản dịch tác giả khác: Trúc nô minh – Trần Nhân Tông

78. Cao Xuân Sơn

Cao Xuân Sơn sinh năm 1961, quê gốc xóm Phúc Thọ, thôn Vạn Thọ, xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông vốn là giáo viên văn, dạy học ở Đồng Nai. Từ 1991 ông về TP. Hồ Chí Minh làm báo rồi làm sách. Tập thơ Đêm giã biệt (1990) và một số bài thơ khác Tập thơ Mèo khóc chuột cười (2006)

79. Cao Xuân Tứ

Cao Xuân Tứ sinh năm 1943 tại Huế, học tại trường Quốc học, du học ở Mỹ từ 1960 đến 1965, sau làm việc ngành ngoại giao tại miền Nam và cũng là dịch giả, nhà thơ. Các bài thơ và bản dịch tác giả khác của Cao Xuân Tứ

80. Cầm Giang

Cầm Giang (1931-1989) tên khai sinh là Lê Gia Hợp, tên thường gọi là Lương Cầm Giang. Ông chịu ảnh hưởng của thơ văn thời Tự lực văn đoàn. Các bài thơ của Cầm Giang

81. Cẩm Lai

Nhà thơ Cẩm Lai tên thật là Lê Thị Cẩm Lai (1923-2006), sinh tại Thạch Hà, Hà Tĩnh. Bút danh: Cẩm Lai, Việt Hương. Tập thơ Gió biếc (1999) phần đầu Tập thơ Gió biếc (1999) phần cuối

82. Cẩm Thơ

Cẩm Thơ (1959-) tên khai sinh là Bùi Thị Huyền Cẩm, là nhà thơ Việt Nam, quê ở Bắc Giang. Đoạt giải các cuộc thi sáng tác thơ thiếu nhi do báo Thiếu niên tiền phong, báo Văn nghệ tổ chức. Tập thơ Tiếng chim đầu tiên (2017)

83. Cẩm Vân

Cẩm Vân là một Việt kiều sống tại Na Uy. Trước chị học Đại học Khoa học Sài Gòn, sau chuyển tiếp sang học Đại học Oslo, Na Uy, rồi tốt nghiệp và định cư tại Na Uy. Và một số bài thơ của chị đã được phổ nhạc. Tập thơ Chim hót trên đầu ngọn lau

84. Chân Hội Nghiêm

Chân Hội Nghiêm (1974-) là tu sĩ, thi sĩ Việt Nam, quê Cam Ranh, Vũng Tàu. Xuất gia năm 1999 tại Làng Mai (Pháp) theo pháp môn thực tập Chánh Niệm của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tập thơ Đôi khi (2017)

85. Chân Không Thiền Sư

Chân Không thiền sư (1046–1100) tên thật là Vương Hải Thiềm, người làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, mồ côi sớm, nhưng ham học. Cảm hoài

86. Châu Hải Đường

Châu Hải Đường tên thật là Lê Tiến Đạt, sinh năm 1974 tại Hải Phòng.Anh hoạt động nhiều trong biểu diễn thư pháp, nghiên cứu, dịch thuật Hán và Trung văn, sưu tập sách cổ. Anh còn dùng các bút danh Minh Thành, Đông Hải Cù Sinh. Tuyển tập thơ dịch tác giả khác của Châu Hải Đường phần đầu Tuyển tập thơ dịch tác giả khác của Châu Hải Đường phần cuối

87. Châu Hồng Thủy

Châu Hồng Thuỷ (1955-) tên khai sinh là Trần Quý Phúc, các bút danh khác có Châu Đan Quế, Văn An, Lưu Phương Thuỷ, Đoàn Yên Ly, Đan Thanh. Là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga. Tổng biên tập tạp chí Người bạn đường. Tổng biên tập tạp chí Tao đàn. Thư ký Toà soạn Tạp chí Đoàn kết (tiếng nói của Hội người Việt Nam tại Liên bang Nga). Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2016. Các bài thơ và bản thơ dịch tác giả khác của Châu Hồng Thủy

88. Châu La Việt

Châu La Việt là con trai đầu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ NSƯT Trương Tân Nhân. Mặc dầu vốn sống của ông rất phong phú, đa dạng nhưng trong hầu hết sáng khắc hoạ sâu đậm nhất. Các bài thơ của Châu La Việt

89. Châu Nho

Châu Nho (1947-) tên thật là Nguyễn Minh Châu, sinh năm 1947 tại Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An. Thơ Châu Nho xuất hiện lần đầu trên văn đàn cùng thời với Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật v.v… Các bài thơ của Châu Nho

90. Châu Thượng Vân

Châu Thượng Vân là lãnh đạo của phong trào nông dân nổi dậy chống sưu thuế vào thời Pháp thuộc. Ngục trung thư

91. Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920 ở Cam Lộ, Quảng Trị. Bút danh Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. Năm 17 tuổi, nổi tiếng với tác phẩm Ðiêu tàn. Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, vào Sài Gòn làm báo, lại về Huế dạy học. Khoảng 1942, ra Vàng sao, viết tập truyện ngắn Gai lửa. Sau Cách mạng tháng 8, làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ. Tiểu sử Chế Lan Viên Tập thơ Điêu tàn (1937) phần đầu Tập thơ Điêu tàn (1937) phần cuối Tập thơ Sau Điêu tàn (1937 – 1947) phần đầu Tập thơ Sau Điêu tàn (1937 – 1947) phần cuối Tập thơ Gửi các anh (1954) phần đầu Tập thơ Gửi các anh (1954) phần cuối Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) phần 1 Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) phần 2 Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) phần 3 Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) phần cuối Tập thơ Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967) phần 1 Tập thơ Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967) phần 2 Tập thơ Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967) phần cuối Tập thơ Đối thoại mới (1973) phần 1 Tập thơ Đối thoại mới (1973) phần 2 Tập thơ Đối thoại mới (1973) phần cuối Tập Những bài thơ đánh giặc (1972) Tập thơ Hoa trước lăng Người (1976) Tập thơ Hái theo mùa (1977) phần 1 Tập thơ Hái theo mùa (1977) phần 2 Tập thơ Hái theo mùa (1977) phần cuối Tập thơ Hoa trên đá I (1984) Tập thơ Ta gửi cho mình (1986) Tập thơ Hoa trên đá (II) Tập Những bài thơ đã hoàn chỉnh (1992) – Di cảo thơ Tập Các bài mới ở dạng phác thảo (1993) – Di cảo thơ Tập – Nghĩ về thơ và nghĩ ngoài thơ (Phác thảo, 1996) – Di cảo thơ Tập Những bài công bố sau – Di cảo thơ Tập Thơ dịch tác giả khác – Di cảo thơ Các bài thơ khác

92. Chi Mai

Chi Mai là một tác giả gửi thơ lên báo Hoa học trò, số 254, ngày 22-10-1998. Không đề

93. Chim Trắng

Chim Trắng tên thật là Hồ Văn Ba (theo họ mẹ), sinh năm 1938, quê quán ở tỉnh Bến Tre. Tham gia hoạt động cách mạng từ phong trào “Bảo vệ hoà bình” của luật sư Nguyễn Hữu Thọ 1955 cho đến hôm nay. Tập thơ Nhân có chim sẻ về phần đầu Tập thơ Nhân có chim sẻ về phần cuối Tập thơ Hát lời cỏ hát phần đầu Tập thơ Hát lời cỏ hát phần cuối Tập thơ Cỏ gai Tập thơ Quán bạn Tập thơ Tượng của tôi phần đầu Tập thơ Tượng của tôi phần cuối Tập thơ Có một mùa thu trong (1990) Các bài thơ khác

94. Chính Hữu

Chính Hữu tên thật Trần Đình Đắc, sinh năm 1926 tại Vinh. Đề tài thơ hầu hết là đề tài đánh giặc, nhân vật trung tâm là anh bộ đội. Tình cảm quán xuyến trong toàn bộ thơ Chính Hữu là tình cảm người lính Tập thơ Đầu súng trăng treo (1972) và một số bài thơ khác

95. Chu Đường Anh

Chu Đường Anh còn có tên Chu Đường Thương, hiệu là Liêu Thuỷ, năm sinh, năm mất của ông cho đến nay vẫn chưa rõ. Các bài thơ của Chu Đường Anh

96. Chu Hoạch

Nhà thơ, hoạ sĩ Chu Hoạch (1940-2007). Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2002-2003 cho tập “Thơ Chu Hoạch”. Các bài thơ của Chu Hoạch

97. Chu Huân

Chu Huân người Ngọc Đôi, Vũ Ninh, nay thuộc Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ khoa Quý Sửu (1493) thời Hồng Đức, được tuyển vào Hàn lâm viện làm quan đến Thừa sử, thành viên Hội thơ Tao Đàn, một trong Nhị thập bát tú. Phụng họa ngự chế văn nhân

98. Chu Khắc Nhượng

Chu Khắc Nhượng hiệu Vân Trai, năm sinh, năm mất chưa rõ. Người làng Sài Trang, phủ Thượng Hồng, đỗ Tiến sĩ vào cuối đời Trần. Đề Sài Trang Vĩnh Hưng Tự

100. Chu Kỳ Thư

Các bài thơ của Chu Kỳ Thư tôi cũng đã cung cấp thông tin về thân thế sự nghiệp cũng như các tác phẩm thơ văn. Qua đó bạn sẽ có được sự hình dung bao quát nhất về bức tranh thơ văn của xã hội Việt Nam. Cũng như cảm nhận được những tác phẩm nổi tiếng nhất.

 Chúng tôi sẽ updata tiếp những nhà văn thơ nổi tiếng nhất Việt Nam …..

Bạn đang xem bài viết Top 10 Bài Hát Về Mẹ Nổi Tiếng Nhất Việt Nam 2022 trên website Anhngucongdong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!