Top 8 # Anh Chị Hãy Cảm Nhận Bài Thơ Thương Vợ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Anh Chị Hãy Bình Giảng Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Nhắc tới Tú Xương, người đọc nhớ tới hơn là tấm lòng yêu thương vợ, biết trọng nhân cách và mang nỗi đau không nguôi của một trí thức trước thời cuộc. Với bài thơ Thương vợ, mang đặc trưng của mảng thơ trữ tình thể hiện tấm lòng của nhà thơ với người vợ đầu gối tay ấp thương yêu chồng con. Thương vợ là sự ngợi ca đức hy sinh của người phụ nữ và sự thấu hiểu của người chồng. Bài thơ phần nào cho ta thấy nhân cách của một nhà thơ, một người đàn ông nhưng cũng chính là tâm sự chua chát của người chồng, người cha trong xã hội đảo điên biến họ thành người vô tích sự với gia đình, mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Xưa kia, vì quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, người đàn ông, người chồng thường ngại bộc lộ tình cảm của mình nhất là qua văn chương. Thế kỷ XIX có Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã trực tiếp bày tỏ tình yêu thương đối với vợ ngay khi vợ mình còn sống cũng vì thế Thương vợ của Tú Xương là bài thơ nổi tiếng hơn cả:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lận lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên ai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh người vợ tảo tần, biết hy sinh cho chồng con và một người chồng biết trân trọng vợ hết mực. Người vợ trong bài thơ kinh doanh ở mom sông, hình ảnh mom sông nơi mà người vợ kiếm sống mưu sinh cho cả gia đình lèo tèo đôi ba gánh hàng, thu nhập chả đáng là bao. Công việc vất vả, thu thập ít ỏi.

Trong thơ Tú Xương ông không dùng hình ảnh con cò mà là thân cò để nói lên thân phận mỏng manh, nhỏ bé trước bao vần vũ cuộc đời của người phụ nữ phải lăn lộn, bươn chải với cuộc sống nuôi chồng, nuôi con. Gặp quãng vắng phải lặn lội, khi đò đông chịu cảnh eo sèo, những hình ảnh giàu tính biểu cảm gợi liên tưởng hình ảnh người phụ nữ gầy yếu như thân cò, với gánh nặng trên vai bước trên con đường lầy lội. Đó là hình ảnh người vợ trong mắt Tú xương, vợ ông không hề kêu ca một lời mà chịu đựng những khó khăn của cuộc sống. Đây cũng là đức tính thường thấy của người phụ nữ phương Đông.

Người phụ nữ lấy chồng mong muốn được bờ vai chia sẻ để hưởng niềm hạnh phúc sung sướng nhưng với bà Tú thì chỉ thêm một món nợ trong đời, Tú Xương nói lên những thiệt thòi của người vợ, nói lên đức hy sinh của người vợ, người mẹ của các con mình. Ngẫm vợ mình lấy phải người chồng bạc bẽo, chỉ ăn không ngồi rồi, không giúp gì được cho vợ con, có chồng mà như không.

Trong người đàn ông ấy, thấy rõ mọi sự đắng cay cực nhọc và thấu hiểu mọi nỗi cô đơn mà vợ mình âm thầm chịu đựng. Bài thơ là bản tự kiểm điểm nghiêm khắc của nhà thơ với chính mình vì thế mỗi lời thơ như tiếng thở dài xót xa của một con người đầy trách nhiệm, là tấm lòng thương yêu và biết ơn của người chồng dành cho người vợ thảo hiền, vì mình mà phải chịu nhiều đắng cay khổ cực.

Sinh ra trong thời kỳ đất nước nhiều biến động, Hán học thất thế, Tú Xương không giúp gì được cho vợ con, vì thế ông đã gửi gắm vào trong thơ. Bài thơ Thương vợ cho thấy sự thấu hiểu và trân trọng tình cảm của người vợ. Tú Xương đã để lại cho nền văn học Việt Nam hình tượng đẹp về người phụ nữ phương Đông bằng ngôn ngữ dung dị, mang màu sắc dân gian chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc. Chất trữ tình và chất trào phúng được đan cài vào nhau với một cảm xúc mới lạ cho người đọc, và Thương vợ cho đến ngày nay vẫn được xem là bài thơ hay nhất viết về người vợ trong văn học Việt Nam.

Cảm Nhận Của Anh (Chị) Về Âm Điệu Dân Gian Trong Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương

Cảm nhận của anh (chị) về âm điệu dân gian trong bài thơ thương vợ của Tú Xương

1. Khái niệm “âm điệu dân gian”: là một khái niệm để chỉ tính chất gần gũi về mặt giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm văn học với giọng điệu, ngôn ngữ của nhân dân lao động (được thể hiện tập trung trong các sáng tác văn nghệ dân gian – trong đó có văn học dân gian – và cả trong lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động).

Nhưng chúng ta không nên giới hạn nội dung khái niệm “âm điệu dân gian” trong khuôn khổ tính chất giọng điệu và ngôn ngữ tác phẩm (mặc dù đây sẽ là nội dung chính của vấn đề) mà nên mở rộng hơn, khái niệm “âm điệu dân gian” có thể được hiểu như “chất dân gian”, nghĩa là không chỉ có giọng điệu, ngôn ngữ mà còn là hình ảnh, cảm xúc, quan niệm thẩm mĩ…. của nhân dân, vì xét cho cùng, đó mới chính là những yếu tố quy định “âm điệu”, “giọng điệu”.

Do vậy, để phân tích “âm điệu dân gian” trong tác phẩm, ta cần chỉ ra nét đặc trưng dân gian trong: ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh… của tác phẩm; tình cảm, quan niệm đạo đức, cách hành xử….của nhân vật trữ tình.

2. Âm điệu dân gian trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương.

– Ngôn ngữ thơ

+ Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, thứ chữ ghi âm tiếng Việt. Mà các từ ngữ trong bài thơ đều là những từ ngữ hết sức giản dị, dễ hiểu, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp thường ngày của nhân dân.

+ Lời thơ giản dị, gần gũi với phong cách khẩu ngữ (một lời tự bạch chân thành, giản dị mà xúc động), thậm chí, còn sử dụng cả ngôn ngữ chửi (Cha mẹ thói đời…), rất thực, rất đời thường.

+ Sử dụng linh hoạt các thành ngữ để thể hiện nỗi vất vả của bà Tú trong cuộc sống mưu sinh: một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa. Tác giả còn sử dụng nhiều từ láy sinh động, gần gũi với khẩu ngữ: lặn lội, eo sèo, hờ hững; sử dụng các khái niệm quen thuộc trong quan niệm dân gian: duyên, nợ, phận. Các thành ngữ, khái niệm được vận dụng sáng tạo để thể hiện tình cảm của tác giả: “một duyên hai nợ” – duyên thì ít ỏi mà “nợ” thì nhiều, cách nói thể hiện sự chua xót, thương cảm của tác giả.

– Giọng điệu thơ

Giọng điệu bài thơ có sự kết hợp giữa giọng điệu trữ tình với giọng tự trào thâm thúy, trong đó, giọng điệu trữ tình là chủ âm, giọng điệu tự trào (cùng với nó là hình ảnh tác giả, ông Tú) ẩn ở phía sau, góp phần thể hiện nhiều cung bậc tình cảm của nhân vật trữ tình.

– Hình ảnh thơ

+ Các hình ảnh lấy chất liệu từ văn học dân gian: “thân cò lặn lội”. Trong ca dao, hình ảnh con cò, thân cò thường nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương, chịu khó. Nhà thơ có sự vận dụng hình ảnh rất sáng tạo: cấu trúc đảo “lặn lội thân cò” nhấn mạnh nỗi vất vả, lam lũ, dùng “thân cò” chứ không phải là “con cò”, “cái cò” còn thể hiện sự đồng cảm về thân phận.

+ Hình ảnh bà Tú là hình ảnh đẹp đẽ của biết bao người phụ nữ Việt Nam, bình dị, tần tảo, hy sinh cả cuộc đời cho gia đình, cho chồng con… Chính hình ảnh đẹp đẽ, gần gũi, ấy tạo được sự đồng cảm, xúc động sâu sắc của người đọc nhiều thế hệ

– Tình cảm, tâm trạng của nhân vật trữ tình

Từ toàn bộ bài thơ, thấy ngầm ẩn hình ảnh tác giả – một người ý thức sâu sắc và chua chát về sự bất lực của mình, đồng thời, dành cho người vợ tần tảo niềm yêu thương, trân trọng, cảm thông, cảm thương và sự tri ân sâu sắc. Còn bà Tú, ta không thầy bà “phát ngôn” trong bài thơ, nhưng chính sự “im lặng” ấy đã nói lên tất cả, về tình nghĩa, về sự thủy chung, về đức hy sinh thầm lặng…Tình cảm vợ chồng tình nghĩa, thủy chung gắn bó đó cũng rất gần gũi với điệu tình cảm, với quan niệm thẩm mĩ của dân gian.

Những ý trên chỉ là những luận điểm có tính chất gợi mở để các em tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi. Hãy sử dụng vốn kiến thức, khả năng liên tưởng và nhất là cảm xúc chân thành, đồng cảm với tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ. Mong các em tiếp tục đóng góp ý kiến để vấn đề được thêm rộng, thêm sâu.

Minh Nguyệt

Anh Chị Hãy Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Xuân Diệu là nhà thơ say đắm tình yêu, sống vội vàng, cuống quýt. Trong Vội Vàng, niềm say mê sống, say mê cuộc đời được nhà thơ thể hiện đầy đủ nhất, tinh tế nhất. Bài thơ cũng được coi là lẽ sống của nhà thơ Xuân Diệu.

Với Xuân Diệu, cuộc sống thật nồng nàn, tha thiết chính vì thế bài thơ Vội vàng cho ta thấy sự trải lòng của thi nhân với tất cả những lạc thú trong đời, và nhà thơ đã bày tỏ tất cả những chân thành đối với cuộc đời.

Lẽ sống Vội vàng của Xuân Diệu có lẽ bắt nguồn từ nhận thức về sự vô hạn về thời gian và sự hữu hạn của đời người. Đáng quý nhất của con người là cuộc sống, vì thế hãy tranh thủ từng giây từng phút, từng khoảnh khắc ý nghĩa của cuộc sống để tận hưởng. Nhà thơ muốn tận hưởng, muốn sống trọn từng thời khắc là vì yêu tha thiết, yêu say đắm nên sợ mất nó. Trong tình yêu ông cũng luôn hoảng hốt, lo sợ, buồn vui chợt đến chợt đi vì thế ngay cả trong cuộc sống lẫn tình yêu, Xuân Diệu đều vội vàng, cuống quýt.

Trong Vội vàng, ta thấy nhân vật trữ tình lúc yêu đời phơi phới, cuồng si lúc lại bâng khuâng, sâu lắng. Bài thơ mang triết lý sống rõ ràng với hai phần, phần đầu là những lý lẽ cho tuyên ngôn vội vàng, rằng vì sao phải sống vội vàng. Theo quan điểm của nhà thơ, trần gian như một thiên đường với những cảnh sắc thần tiên thì tại sao con người không tận hưởng khi hãy còn trẻ vì rằng thời gian có thể cướp đi tất cả. Vì thế con người phải chạy đua với thời gian, vội vàng cũng vì thế lại trở thành quan điểm tiến bộ, tích cực.

Phần tiếp theo của bài thơ là những hành động sống vội vàng, cuống quýt, cuồng si của nhân vật trữ tình khi tận hưởng bữa tiệc trần thế với những cảm xúc rõ ràng. Cái tôi chếnh choáng luôn muốn thật nhiều hương sắc trong địa đàng trần gian thể hiện cảm xúc tự nhiên như dòng chảy ào ào, liền mạch tạo nên sự thành công của bài thơ.

Với Vội vàng, ta dường như đã bén duyên và trót yêu cái hồn thơ của ông hoàng thơ tình, hồn thơ ấy cứ rộng mở chẳng bao giờ chịu khép kín. Chính hồn thơ ấy đã đưa Xuân Diệu trở thành tên tuổi tiêu biểu cho phong trào thơ mới với những cá tính độc đáo khó có thể trùng lặp với bất cứ ai cả trong nội dung lẫn hình thức. Một hồn thơ tạo được tiếng vang lớn có sự ảnh hưởng tới tâm tư tình cảm của không ít người đọc cũng như giới văn học nghệ thuật bấy giờ.

Khác với cõi tiên mơ mông của Thế Lữ, Xuân Diệu đưa mọi người về trần gian, cho mọi người thấy rằng không có gì hơn cuộc sống hiện thực, trần thế đầy xinh tươi đâu phải trốn tránh:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Những ước muốn ngông cuồng vì tha thiết với cuộc sống. Thi sĩ muốn ôm trọn sự sống, muốn say trong tình yêu, tuổi trẻ, muốn no nên, đã đầy cái thanh sắc thời tươi để cuối cùng không thể dồn nén cảm xúc muốn cả cắn vào xuân hồng, muốn bấu lấy cắn xé da thịt của mình xuân để tận hưởng được tất cả dư vị ngọt ngào của cuộc sống đang xanh tươi mơn mởn.

Xuân Diệu là thế, một cốt cách đáng trân trọng quyến rũ lòng ta. Ta đến với Xuân Diệu cũng chính từ những vần thơ rụng động lòng người khiến ta nâng niu qua bao năm tháng. Ấy là hồn thơ có sự giao thoa của hai nền văn hóa Đông Tây, tạo nên sự mới mẻ. Nhà thơ giúp ta hiểu thêm về cuộc đời muôn màu muôn vẻ mà không phải ai cũng để ý tới, hãy sống tha thiết với tất cả tâm hồn mình. Hãy như con ong hút mật, hãy sống như một tình nhân đang tràn trề hạnh phúc.

Trong vội vàng, Xuân Diệu sử dụng từ ngữ, hình ảnh rất táo bạo, tài tình để bày tỏ sự nồng nàn, say mê với tình yêu, mùa xuân và tuổi trẻ giục giã tuổi trẻ hãy say mê, mãnh liệt yêu thương. Ông yêu đời và gắn bó với cuộc sống. Sự sống trong thơ Xuân Diệu mãi mãi thuộc về những con người sống để yêu thương qua đó nhà thơ đã giúp cho chúng ta nhận ra giá trị của cuộc sống.

Anh Chị Hãy Trình Bày Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Trong Bài Tây Tiến

Hình tượng người lính trong thơ ca kháng chiến là đề tài quen thuộc với hình ảnh về những con người dũng cảm sẵn sàng hy sinh tính mạng cho Tổ quốc. Vì thế, không ít lần khi đến với thơ ca kháng chiến, ta bắt gặp hình tượng người lính trong Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Đồng chí của Chính Hữu, Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu…. và đặc biệt là hình tượng người lính hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng trong bài thơ Tây Tiến.

Tây Tiến là đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với quân Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và nhà thơ là đội trưởng của đơn vị Tây Tiến. Các chiến sĩ chủ yếu là thanh niên Hà thành, phần đông là sinh viên học sinh phải chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng vẫn luôn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời và chiến đấu dũng cảm vì quê hương đất nước. Vì thế, khi đặt bút viết về hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài về người lính với vẻ đẹp bi tráng và lãng mạn.

Trong bài thơ, Quang Dũng nhắc tới hàng loạt các địa danh như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mai Châu… theo dải nỗi nhớ vơi đầy và những ấn tượng thoát ẩn thoắt hiện trong tâm tưởng nhà thơ về những chặng đường hành quân gian khổ. Bài thơ được viết theo bút pháp lãng mạn, khuynh hướng tô đậm những cái khác thường, sử dụng bút pháp đối lặp nhằm tác động mạnh vào cảm quan người đọc để khêu gợi trí tưởng tượng của bạn đọc.

Được dừng chân bên xóm núi, được giao lưu văn nghệ với tình quân dân đầm ấm, bình yên khiến các chiến sĩ say sưa ngắm nhìn các cô thôn nữ rực rỡ trong xiêm áo đủ sắc màu. Tâm hồn họ như bốc men sau ngây ngất, và dư âm chiến tranh như lắng xuống nhường chỗ cho phút giây sống trong hòa bình, hạnh phúc với vũ điệu xứ lạ khiến chàng thi sĩ mộng mơ, bay bổng.

Nhà thơ đã cho ta thấy cuộc hành quân đầy gian khổ, hiểm nguy của binh đoàn Tây Tiến, các chiến sĩ của ta phải leo dốc núi hiểm ác dữ dội, chìm vào sương rừng mây núi dày đặc. Quang Dũng nhắc tới sự heo hút, hiểm trở của rừng núi để nói lên sự gian khổ của người lính. Những câu thơ viết về sự hiểm nguy gian khó sử dụng nhiều thanh trắc khiến người đọc cảm thấy nghe trúc trắc, ghồ ghề như nghe được thấy cả hơi thở gấp gáp, mệt nhọc của người lính đang hành quân, lúc lên lên lúc trượt xuống biết bao nguy hiểm. Những nét vẽ của Quang Dũng không để hình ảnh người lính Tây Tiến chìm trong bi lụy mà thật lạ và đầy sức tưởng tượng “súng ngửi trời”. Ấy là hình ảnh người lính đạt tới đỉnh cao của ngọn núi chót vót thì cả người và súng tưởng như chạm vào mây trời.

Khi họ đã đạt tới độ cao như mây ngàn thì tâm hồn nhẹ nhàng như trút hết được mọi mệt nhọc để phóng tầm mắt ra bốn hướng ngắm nhìn những nóc nhà, ngắm khói lam chiều. Một màn sương lãng mạn với những nốt nhạc được bao phủ lên, đẩy tâm hồn người lính vượt lên những cái khốc liệt của chiến tranh.

Sự tàn khốc của chiến tranh khiến người lính ngã xuống nhiều khi còn không có cả tấm áo lành lặn,chỉ có manh chiếu để khâm liệm tiễn đưa đồng đội về nơi an nghỉ. Và Quang Dũng đã khắc ghi cảnh tượng đau thương ấy qua hình ảnh áo bào sang trọng để các anh về với đất Mẹ thanh thản, bình yên.

Mỗi bước đường của người lính Tây Tiến nói chung và các chiến sĩ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh là mỗi bước hi sinh nhưng nhà thơ không nhìn vào sự mất mát ấy theo chiều bi lụy mà rất nhẹ nhàng. Các chiến sĩ chỉ chìm vào giấc ngủ ngàn thu bỏ lại phía sau bao sự mất còn bởi các anh đã dấn thân và chấp nhận, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đó chính là vẻ đẹp bi tráng của người lính Việt Nam nói chung trong chiến tranh.