Top 4 # Bài Thơ Ánh Trăng Ra Đời Trong Hoàn Cảnh Nào Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Trình Bày Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ Tây Tiến

Nhà thơ Quang Dũng là một nhà thơ tài hoa, ông tinh thông nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó nổi bật nhất là những tác phẩm về thơ ca. Đọc thơ ông ta sẽ thấy rõ một cái tôi hào hoa thanh lịch, mang đậm chất trữ tình và lãng mạn. Và trong số đó, ta sẽ không thể nào không nhắc đến tác phẩm thơ Tây Tiến là tác phẩm vô cùng độc đáo và nổi tiếng của Quang Dũng. Tác giả đã dựng lên một bức tượng đài bất tử về người lính yêu nước, sẵn sàng ngã xuống hi sinh vì sự nghiệp chống giặc xâm lược của dân tộc. Hình ảnh người lính như sống mãi với thời gian, với lịch sử.

Quang Dũng đã viết lên bài thơ này như tưởng nhớ lại những năm tháng hoạt động trong đội quân Tây Tiến. Cùng điểm lại hoàn cảnh sáng tác ra tác phẩm này để thấy điểm đặc biệt của nó. Sau khi cuộc cách mạng tháng tám thành công vang dội, Quang Dũng gia nhập vào bộ đội. Vào thời gian cuối mùa xuân năm 1947, lúc đó ông là một nguyên phái viên phòng quân sự Bắc Bộ và cũng là một học viên lớp quân sự ở Tông (nay thuộc Sơn Tây). Ông trở về Phùng để thăm mẹ già,vợ con để lên đường tham gia vào đội quân, Tây Tiến và giữ chức vụ Đại đội trưởng. Đội quân này được thành lập vào đầu năm 1947, đội quân có nhiệm vụ là sẽ phối hợp với bộ đội Lào để cùng nhau bảo vệ biên giới Việt- Lào, (đây là vùng núi Tây Bắc gồm từ Châu Mai, Châu Mộc đến Sầm Nứa tới miền Tây Thanh Hóa) cùng nhau chống lại, đánh lại hạm quân của Pháp đang ở Thượng Lào, quân ta ra sức giúp hỗ trợ cho những vùng khác trên đất Lào.

Nhìn những người người bộ đội Tây Tiến ta sẽ thấy họ vô cùng đáng trân trọng, họ bao gồm nhiều tầng lớp từ những người lao động bằng tay chân, tri thức và chủ yếu là những tri thức, những thanh niên chỉ mới là những học sinh bước ra từ những mái trường, từ phố phường ở Hà Nội. Vì đất nước, đồng bào họ không ngại khó khăn gian khổ, với điều kiện vô cùng thiếu thốn về vật chất, có thể chết vì sốt rét nhiều hơn là vì súng đạn, nhưng họ vẫn lạc quan, vui vẻ tiến sang biên giới chiến đấu cùng bảo vệ lãnh thổ. Với Đội quân Tây tiến sau khi trở về từ Lào, Tây tiến trở thành trung đoàn 52, và Quang Dũng- đại đội trưởng đã ở đó đến cuối năm 1948 sau đó ông được chuyển sang đơn vị khác. Dù xa rời đơn vị cũ, nhưng ông vẫn nhớ về những năm tháng hào hùng, anh em sát cánh bên nhau, ngồi tại Phù Lưu Chanh anh viết bài thơ Tây Tiến.

Bài thơ ra đời, mang nhiều dấu ấn lịch sử, an hem trong và ngoài quân đội cứ truyền tay, truyền miệng cho nhau để đọc, để nhớ… Bài thơ Tây Tiến được hai lần đổi tên, lần đầu tiên có tên là “Nhớ Tây Tiến” khi được in tại nhà xuất bản Vệ quốc quân liên khu III, được phát hành vào năm 1949. Rồi đến năm 1957, Quang Dũng đưa Tây Tiến để vào tập thơ “Rừng biển quê hương”. Lúc đó ông đã bỏ chữ “Nhớ” chỉ giữ nguyên hai từ “Tây Tiến”. Chỉ với hai từ này thôi đã nói lên được chủ đạo của toàn bài thơ, luôn tiến về phía trước không.

Nhan đề Tây Tiến gợi cho chúng ta thấy được một thời kỳ chiến đấu gian khổ nhưng lúc đó lại mang cho mình một sự lạc quan, đậm chất thơ của đoàn quân. Đoàn quân đã chiến đấu với nhiệm vụ bảo vệ và đánh đuổi quân thù cùng bảo vệ bờ coi, đây là một nhiệm vụ quan trọng và thiêng liêng mà đội quân đã hoàn thành xuất sắc trong gần hai năm trời xa quê hương. Bài thơ chính là nỗi nhớ đồng đội, nhớ những người đã cùng chung gian khổ, vui buồn, cùng sinh hoạt và tình đồng đội, đồng chí như mang ý nghĩa quá thân thương, và lúc đó quân dân cũng một lòng. Một hình tượng chân dung người lính Tây Tiến, người lính của núi rừng với vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa.

Đây chính là hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, một bản trường ca của các anh hùng, của người lính, dù gian khổ, vất vả, có hi sinh nhưng vẫn yêu đời và lạc quan luôn đoàn kết chia sẻ bên nhau.

Nguồn: Văn mẫu chọn lọc

Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ Tức Cảnh Pác Pó

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta nhắc đến Người không phải chỉ với tư cách của một người đem đến ánh sáng độc lập, mà còn ngưỡng vọng Người trong vai trò là một nhà thơ, một người nghệ sĩ. Những tác phẩm của Bác tập trung vào lí tưởng cách mạng, toát lên phong thái đĩnh đạc, lạc quan yêu đời của mình. Bài thơ “Tức cảnh Pác Pó” là một bài thơ thể hiện rất rõ phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.

Đôi nét về tác giả

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam di sản văn học có giá trị, gắn liền với tiến trình phát triển của cách mạng và đời sống tinh thần của dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, với lòng yêu nước cháy bỏng, Bác đã quyết tâm tìm đường giải phóng dân tộc và trên con đường hoạt động cách mạng đầy gian khổ ấy, Người nhận ra rằng, văn chương cũng có thể là vũ khí đấu tranh cách mạng. Vì vậy, Người đã dùng văn chương như một vũ khí để phục vụ cách mạng và đã trở thành nhà văn, nhà thơ lớn ngoài ý muốn của mình.

Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trược diệt kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng qua những chặng đường lịch sử. Có thể kể đến những tác phẩm như “Tuyên ngôn độc lập” hay “ Toàn quốc kháng chiến”…

Khoảng từ năm 1922 đến 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết một số truyện ngắn và kí bằng tiếng Pháp rất đặc sắc sắng tạo và hiện đại. Tiêu biểu là các truyện ngắn: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (1925).

Thơ ca là lĩnh vực nổi bật nhất trong giai đoạn sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh. Với trên dưới 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập Nhật ký trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài), Chùm thơ chúc tết của Bác. Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong nền thơ hiện đại. Trong đó “Nhật kí trong tù” là tập thơ tiêu biểu nhất trong di sản thơ ca của Hồ Chí Minh.

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tức cảnh Pác Pó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1941. Trước năm 1941, Bác đã gặp rất nhiều khó khăn trong sự nghiệp hoạt động cách mạng khi bị Quốc tế thứ ba hiểu nhầm vì cho rằng Bác có tư tưởng cục bộ. Bác đã bị đóng băng hoạt động và chỉ ngồi nghiên cứu tài liệu. Cách mạng Việt Nam trong thời kì này cũng bị chững lại do sự đàn áp cũng như thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn, không có sự liên kết, chỉ có một vài cuộc khởi nghĩa nhỏ mang tính chất bạo động nhỏ lẻ, mang nặng tính giai cấp thay vì tập trung vào vấn đề giải phóng dân tộc.

Ngày 28-1-1941 (mồng 2 Tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc về nước. Mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng), nơi có địa thế hiểm trở, núi non hùng vĩ, quần chúng nhân dân đã được giác ngộ kiên cường tranh đấu, trung thành với Ðảng, với cách mạng, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng, vào thắng lợi của cách mạng được Người chọn làm nơi đặt cơ quan chỉ đạo phong trào cách mạng và tiếp tục tạo ra những nhân tố quan trọng, cần thiết để đưa cách mạng đến thành công. Bác cùng các đồng chí sinh hoạt trong một hang đá tai Pác Pó với sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng bào nơi đây. Hoàn cảnh éo le, điều kiện vô cùng khó khăn thiếu thốn nhưng được trở về với mảnh đất Việt Nam yêu dấu, được trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng đã thổi vào tâm hồn của Nguyễn Ái Quốc một sức mạnh vô cùng to lớn. 

Tại mảnh đất Cao Bằng này, Bác luôn thể hiện sự lạc quan yêu đời, vững tin vào sự chiến thắng cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Ngày 5 tết thì Bác và các đồng chí dọn vào hang do Bác không muốn làm phiền người dân. Cùng ở hang với Bác có anh Phùng Chí Kiên, Hoàng Sâm, Thế An, anh Cáp, anh Lộc và đồng chí khác. Nhóm công tác do anh Phùng Chí Kiên phụ trách, còn các anh Quốc Vân, Đức Thanh (tức Đàm Minh Viễn) là đường dây liên lạc đồng thời phụ trách lực lượng vũ trang bảo vệ vòng ngoài. Ở hang được ít lâu, các đồng chí thấy trong người rất mệt. Sức khoẻ của Bác lúc đó cũng không được tốt lắm. Người gầy, nước da xấu, ăn uống kham khổ mà Bác lại làm việc căng thẳng. Vì vậy đã xin Bác được làm lán và được Bác đồng ý.

Một đồng chí làm trong nhóm công tác thời ấy đã kể lại như sau: “Lán làm xong, chúng tôi mời Bác ra xem. Bác rất ưng và ngay ngày hôm sau anh Kiên mời Bác xuống lán ở và làm việc. Bác đồng ý và chỉ ban ngày xuống lán làm việc, ăn nghỉ, còn ban đêm lại vào hang. Lương thực do đồng bào giúp đỡ thường là gạo ngô (bắp bẹ) xay nhỏ và muối. Có hôm thấy gạo gần hết, Bác bảo chúng tôi nấu cháo ngô (cháo bẹ) ăn thay bữa. Còn rau xanh chủ yếu là măng tự kiếm trong rừng. Có hôm câu được con cá hoặc hái được ít rau rớn (loại giống cây dương xỉ mọc ven bờ suối) thì bữa ăn được cải thiện và ngon miệng hơn. Một hôm Bác và chúng tôi đang ăn cháo ngô, có người nói đùa đây là bánh đúc, thì Bác ung dung đọc mấy câu thơ:

Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang…”

Như vậy bài thơ Tức cảnh Pác Pó ra đời trong hoàn cảnh như thế, hoàn toàn là tả thật hoàn cảnh làm việc lúc đó, thể hiện sự lạc quan yêu đời của Bác cũng như động viên các đồng chí kiên trì làm việc.

Những bài thơ của Bác tuy rất đơn giản nhưng thể hiện một tâm hồn sáng ngời vẻ đẹp bình dị của nhân cách, cũng như phẩm chất đạo đức cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Thảo Nguyên

Hoàn Cảnh Ra Đời ‘Khúc Thụy Du’ Của Thi Sĩ Du Tử Lê

Mặc dù Anh Bằng phổ nhạc bài Khúc Thụy Du dựa theo bài thơ cùng tên của thi sĩ Du Tử Lê nhưng có thể nhận thấy rằng chủ điểm của bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du là hoàn toàn khác nhau. Khúc Thụy Du của Anh Bằng thật day dứt mà nhẹ nhàng trong khi Khúc Thụy Du của Du Tử Lê lại là một trong những tiếng thét gào đau thương thời loạn. Và như vậy, bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du tuy hai mà một, tuy một mà hai…

*** Còn đây là lời trần tình của Du Tử Lê về tác phẩm Khúc Thụy Du:

Khi biến cố Tết 1968 xảy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu. Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự ở Ngã tư Bảy Hiền. Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục Tâm lý chiếc ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác ch.ết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết đâu là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội. Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ nhịn đói bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.

Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với thây người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục Tâm lý chiến, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản. Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu. Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người ra đi tức tưởi, oan khiên vì thời loạn ly. Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung! Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ. Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt). Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quạ rỉa xá.c người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xá.c người chưa rữa – trên thị.t người chưa tan – trên cánh tay ch.ó gậm – trên chiếc đầ.u lợn tha…” …

Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người? Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược. Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.

Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972). Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.

Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô… Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:

– “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”

Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”… Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…

KHÚC THỤY DU

1.Như con chim bói cá. Trên cọc nhọn trăm năm Tôi tìm đời đánh mất. Trong vũng nước cuộc đời

Như con chim bói cá. Tôi thường ngừng cánh bay Ngước nhìn lên huyệt lộ. Bầy quạ rỉa xá.c người (Của tươi đời nhượng lại) Bữa ăn nào ngon hơn. Làm sao tôi nói được

Như con chim bói cá. Tôi lặn sâu trong bùn Hoài công tìm ý nghĩa. Cho cảnh tình hôm nay

Trên xá.c người chưa rữa. Trên thị.t người chưa tan Trên cánh tay ch.ó gậm. Trên chiếc đ.ầu lợn tha

Tôi sống như người mù. Tôi sống như người điên Tôi làm chim bói cá. Lặn tìm vuông đời mình

Trên mặt đất nhiên lặng. Không tăm nào sủi lên Đời sống như thân nấm. Mỗi ngày một lùn đi Tâm hồn ta cọc lại. Ai làm người như tôi?

2. Mịn màng như nỗi chết. Hoang đường như tuổi thơ Chưa một lần hé mở. Trên ngọn cờ không bay

Đôi mắt nàng không khép. Bàn tay nàng không thưa Lọn tóc nàng đêm tối. Khư khư ôm tình dài

Ngực tôi đầy nắng lửa. Hãy nói về cuộc đời Tôi còn gì để sống. Hãy nói về cuộc đời Khi tôi không còn nữa. Sẽ mang được những gì Về bên kia thế giới. Thụy ơi và Thụy ơi

Tôi làm ma không đầu. Tôi làm ma không bụng Tôi chỉ còn đôi chân. Hay chỉ còn đôi tay Sờ soạng tìm thi thể. Quờ quạng tìm trái tim Lẫn tan cùng vỏ đạ.n. Dính văng cùng mảnh bo.m Thụy ơi và Thụy ơi

Đừng bao giờ em hỏi. Vì sao mình yêu nhau Vì sao môi anh nóng. Vì sao tay anh lạnh Vì sao thân anh run. Vì sao chân không vững Vì sao anh van em. Hãy cho anh được thở

Bằng ngự.c em rũ buồn. Hãy cho anh được ôm Em, ngang bằng sự ch.ết

Tình yêu như ngọn dao. Anh đ.âm mình, lút cán Thụy ơi và Thụy ơi. Không còn gì có nghĩa Ngoài tình em tình em. Đã ướt đầm thân thể

Anh ru anh ngủ mùi. Đợi một giờ linh hiển.

(Du Tử Lê, Tháng 03-68)

Hoàn Cảnh Ra Đời Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu

Nhà thơ Tố Hữu – cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Lý tưởng cách mạng chính là lẽ sống và là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của ông, bởi vậy thơ và cuộc đời của Tố Hữu luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng cùng những thăng trầm của đất nước.

Bài thơ “Từ ấy” ghi lại kỉ niệm đáng nhớ khi được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, có ý nghĩa đặc biệt đánh dấu bước ngoặt, bước chuyển mình lớn trong cuộc đời sự nghiệp của một chàng thanh niên trẻ. Việc đứng trong hàng ngũ của Đảng chính là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lý tưởng cách mạng.

1. Hoàn cảnh ra đời

Tháng 7/1938, sau thời gian hoạt động phong trào thanh niên ở Huế, Tố Hữu vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam. Niềm vui sướng hân hoan và tự hào khi được đứng dưới hàng ngũ của Đảng là cảm xúc chủ đạo của Tố Hữu để viết nên bài thơ này. Một ngày đẹp trời cuối mùa hè năm 1938. Trời cao xanh, nắng vàng tươi rực rỡ chảy tràn trên xứ Huế, mảnh đất cố đô xưa. Trong một khu vườn xum xuê cây lá, nghe rõ tiếng xào xạc của gió và âm thanh ríu rít của bầy chim nhỏ trên ngọn cây cao, có ba người ngồi xúm lại với nhau trên bãi cỏ, dường như họ đang bàn bạc với nhau chuyện gì rất hệ trọng. Hai người tầm thước, gương mặt cương nghị, rắn rỏi thay nhau giảng bài, lời lẽ mạch lạc, lôi cuốn,n gồi nghe chăm chú như nuốt lấy từng lời, là một chàng trai dáng vẻ thư sinh – đó chính là nhà thơ Tố Hữu. Bài thơ “từ ấy” ra đời trong hoàn cảnh như vậy, đánh dấu mốc son, bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của nhà thơ khi tìm được ánh sáng của chân lý mới.

2. Ý nghĩa nhan đề

Đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của Tố Hữu

Những năm trước năm 1945, là khoảng thời gian rất nhiều nhà thơ đang loay hoay tìm kiếm cho mình lí tưởng thật sự của văn học. Họ đã hoàn toàn khám phá ra được bản ngã trong những tác phẩm, song đa số đều bối rối trước hiện thực. Sự ra đời của phong trào thơ mới đánh dấu bước ngoặt quan trong của văn học Việt Nam về mặt nghệ thuật và tư duy, song cũng thể hiện những khuyết điểm lớn khi mà các nhà văn nhà thơ đều có xu hướng thoát li khỏi hiện thực, cảm hứng buồn rầu làm chủ đạo. Một số nhà thơ thể hiện sự sai lệch trong tư tưởng và lãng mạn hóa hiện thực một cách không cần thiết. Chính nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng chán ghét cuộc sống hiện thực mà đã viết:

Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối

Mênh mang lên bát ngát tựa đêm sầu

Cho hồn phách say sưa trong giả dối

Về cõi âm chờ đợi đã bao lâu

Nguyên nhân là do hiện thực đau khổ tàn khốc, Đảng lại chưa có hướng đi rõ ràng cũng như chưa ăn sâu vào đời sống nhân dân. Trong khi các nhà văn vẫn đang cố gắng đi tìm ý nghĩa thực sự của văn học, Tố Hữu sớm được tiếp xúc với lí tưởng cách mạng và được đứng vào đội ngũ Đảng. Từ ấy là bản đàn dạo khúc vui đầu tiên của người cộng sản khi gặp lí tưởng Đảng. Đó là lúc tâm hồn được hồi sinh, trí tuệ bừng sáng, nhận thức trách nhiệm lớn lao với cuộc đời. Thơ Tố Hữu hay khi kết hợp sâu sắc lí tưởng cộng sản, tình thương yêu con người và niềm vui hướng về tương lai. Từ ẩy đã kết tinh cái hay ấy và tạo nên sức hút lớn đối với những con người chân chính đã và đang đi theo lí tưởng của mình. Nhà thơ khơi lên lòng nhiệt huyết, quyết tâm của biết bao thế hệ để họ hôm nay và mai sau thực hiện ước nguyện xây dựng cuộc sông tốt đẹp hơn.

Nhan đề “từ ấy” còn thể hiện tâm trang vui tươi, háo hức cũng như niềm mong muốn được phục vụ cho Đảng và cống hiến cho đất nước.

Vào thời kì này, văn học chia thành ba trường phái: văn học hiện thực, văn học lãng mạn và văn học cách mạng. Trong đó văn học cách mạng bị cấm hoàn toàn bởi thực dân Pháp. Thế nhưng Tố Hữu đã hoạt động rất sôi nổi trong lĩnh vực văn học, biến văn học của mình trở thành một vũ khí chống lại kẻ thù. Bài thơ “Từ ấy” thể hiện giây phút mê say của người cộng sản chân chính, trở thành bài thơ ngợi ca lí tưởng lí tưởng cách mạng; diễn tả niềm vui sướng của một chàng trai đang băn khoăn, bế tắc với cuộc đời bỗng có luồng ánh sáng mới, tươi đẹp, mạnh mẽ chiếu rọi khắp tâm hồn – ánh sáng của Đảng.

Nhan đề thể hiện sự lựa chọn của Tố Hữu

Chính nhà thơ từng viết:

Bâng khuâng đứng dữa hai dòng nước

Biết chọn một dòng hay để dòng nước trôi

Nhà thơ cũng như những người khác đã từng một thời kì loay hoay đi tìm lí tưởng sống cho mình. Nhà thơ chưa có đủ niềm tin vào cách mạng nhưng cũng không đành quay lưng bỏ mặc con dân đang thống khổ. Bài thơ “từ ấy” ra đời đã đánh dấu sự lựa chọn của nhà thơ là đứng hẳn về phía cách mạng, về phía Đảng để tiếp tục cống hiến, tiếp tục phục vụ đất nước, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng đân tộc.

“Từ ấy” là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu, có ý nghĩa đặc biệt đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp Tố Hữu. Đồng thời kêu gọi sự tham gia hơn nữa của những thanh niên yêu nước vào công cuộc giữ nước, cứu nước.

Thảo Nguyên

Anybooks.vn – Kênh thông tin giới thiệu sách, review sách, chia sẻ những cuốn sách hay nên đọc dành cho độc giả.