Top 13 # Bài Thơ Bỏ Phố Về Quê / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Bỏ Phố Về Quê Lập Nghiệp / 2023

Song, phần lớn của những ý tưởng “bỏ phố về quê” hiện nay lại đến từ những người có tình yêu sâu đậm với quê hương, khát khao mang những tri thức được học, góp bàn tay xây dựng cuộc sống làng quê ngày càng khởi sắc hơn.

Đó là câu chuyện của những bạn trẻ 8X, 9X bao năm rời xa làng quê đến các thành phố lớn để học tập, tìm kiếm việc làm và gắn bó nhiều năm sau đó với cuộc sống nơi chốn đô thị phồn hoa. Với họ, những năm tháng tuổi trẻ này thật đáng quý vì họ đã kịp học hỏi được kiến thức, lối sống sinh hoạt ở đô thị, những tiến bộ khoa học – kỹ thuật được ứng dụng trong đời sống lao động và sản xuất. Từ đó, họ có cái nhìn tổng thể hơn về đời sống đô thị lẫn nông thôn, để rồi dần xác định được thế mạnh của địa phương nơi mình sinh ra và quyết tâm mang những điều học được để về áp dụng ngay tại quê nhà.

Sau vài năm gắn bó với TP. Long Xuyên bằng một số công việc và niềm vui đi đó đây chụp ảnh nghệ thuật, chị Dương Thị Cẩm Vân đã xác định tại sao mình không quay trở về quê nhà núi Cấm (Tịnh Biên) làm gì đó để có thu nhập ổn định hơn, mà vẫn thỏa mãn được niềm đam mê chụp ảnh của mình. Thế là, chị Vân quyết tâm trở về chính ngôi nhà ba mẹ đang sinh sống và mở dịch vụ homestay “Nhà của mây” nghỉ đêm trên núi Cấm.

Chị Vân chia sẻ: ” Mình đi đó đây rồi chợt nhận ra quê mình nên thơ nhất, có phong cảnh núi non hữu tình, có không khí mát mẻ, món ăn ngon thì tại sao không thể níu chân du khách. Ban đầu chỉ từ một cái chòi tre nứa mình cất để có chỗ chụp hình, có góc đẹp để chơi ảnh vậy mà bạn bè rất thích, từ đó mình nảy sinh ý tưởng làm dịch vụ homestay để phục vụ khách muốn tìm bình yên, khung ảnh đẹp giữa núi rừng đại ngàn “.

Đó còn là câu chuyện của bạn Hồ Thanh Nam (quê ấp Hòa Phú, xã Định Thành, Thoại Sơn), chàng trai thuộc thế hệ 9X đã mạnh dạn từ bỏ công việc ổn định tại trung tâm huyện và quyết định về quê phát triển gần 2ha đất ruộng thành vườn mãng cầu xiêm xen canh cóc Thái.

Nam chia sẻ: ” Qua nhiều nghề, tôi mới học được nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là cách làm ăn, tinh thần dấn thân chuyên sâu vào các ngành nghề của những người đi trước. Xác định đã trở thành nông dân, tôi nhất định phải sống được trên quê hương mình, mang những tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm, mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn cho công việc của nhà nông. Bước đầu, tôi đang học tập và làm thử sản phẩm trà mảng cầu xiêm và cóc sấy dẻo. Dẫu còn nhiều khó khăn ở phía trước nhưng với niềm tin và sức trẻ tôi nghĩ mình có thể làm được “.

Cô gái trẻ Srey Lan Sine thuộc thế hệ 9X (quê ấp An Lợi, xã Châu Lăng, Tri Tôn) sau nhiều năm bôn ba ở Sài Gòn và Campuchia cũng chợt nhận ra mình cần phải mang những điều học được góp phần phục vụ quê hương. Thích thú với món đu đủ đâm từ những lần bạn bè rủ đi ăn trên nước bạn, Sine bắt đầu học hỏi và tập làm thử, đến khi có cơ hội trở về quê cô gái đã mở một hàng ăn chuyên phục vụ khách món đu đủ đâm và bánh dứa. Với cách bán hàng trực tiếp và trực tuyến (online), cô gái đã tạo dựng cho mình công việc ổn định với mức thu nhập kha khá tại quê nhà.

Đó còn là câu chuyện của rất nhiều bạn bè hiện nay, với bao tâm tư trở về quê nhà gắn bó với công việc nhà nông như: trồng rau sạch, lúa sạch, trồng vườn với nhiều loại rau củ, cây trái với giá trị kinh tế cao, áp dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất để giảm chi phí, tăng chất lượng sản phẩm, tham gia vào các chuỗi phân phối nông sản, kinh doanh sản phẩm phục vụ làng nghề, như: nghề mộc, cung cấp thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng, làm dịch vụ giải trí, hồ bơi cho trẻ em…

Trở về nghĩa là họ phải từ bỏ cuộc sống ổn định và bắt đầu dấn thân lập nghiệp, cũng đồng nghĩa phải đối mặt với nhiều khó khăn về nguồn vốn khởi nghiệp, lời dèm pha của dư luận, sự thiếu niềm tin từ gia đình, tốn nhiều thời gian hơn để xây dựng mô hình và các mối quan hệ, đối tác trong công việc nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẽ ngán ngại và chùn bước. Trong mọi gian khó, điều làm nên sức mạnh tự thân của người trẻ là họ luôn mang trong mình ý thức trưởng thành từ gian khó, họ sinh ra từ làng thì cần phải làm gì đó giúp ích cho làng quê mình càng trở nên tốt đẹp hơn.

Chùm Thơ Phố Núi Pleiku (1) / 2023

Chùm thơ Phố núi (1)

Vẫn ngày rất phố

Vẫn Pleiku vẫn phố mù sương Vẫn biển Hồ xanh trongVẫn trầm mặc Hàm RồngRêu con đường những mưa bayDã quỳ vàng layVẫn em là sương lãng đãng tình nhânPhố núi cao phố núi tình thân (*)Tôi tìm em trận đồ người đâu đóDuyên nợ thôi kiếp nào em tôiPleiku vẫn ngày rất phốHương cà phê bóng chiều đê mêSê San sông chảy xuôi vềPleikuNhững ngày như gió những ngày mâyMuốn về bên phố ngã lưng ngủ sayViết câu thơ tình, hình phố núiBấm đốt tay phong trần hỏi tuổiTuổi tôi tóc bạc nhen rồiPleikuTìm em là sươngPhố mờ trong sươngSương lấpEm chìm đâu mấtNụ cười sóng sánh Biển Hồ đầy

Thái Uyên 02/11/2009

———————————–

(*): Nhớ -Vũ Hữu Định

PHỐ & NGÀY TÌM TÔI KÍ ỨC

(Cho Phố núi cao và ngày về)

Thả trôi phố chiều, tôi vo kí ức ngày thơ ngọ ngậylộ thiên đời áo gạo lớ ngớ tôiGập mặt nỗi đờikhát mùa quỳ vàng quay quắt nhớngăn tim & bài thơ dang dỡđêm chân trần quờ quạng badanPhố gói ngày mùa đan lãng đãngsương mờ đường kháchmặc trầm Hàm Rồngngân ngấn Biển Hồlơ ngơ bàn cờlên xuốngĐau đáu chờcất mười lăm năm(*) nhắc nhởthiên di núi sau lưng mõi cổu mê tôi nợ nầntrận đồ người đuổi bắt: phố – tôiKệ bữa chợ ngườimặc sóng đời loay hoay chìm nỗitôi gấp phố, chiều naythuyền giấy xoaymưa cỡi trầnmột tôi tắm giữa một đời

SêSan 4- đêm 06/11/2009           Thái Uyên

—————————————

(*)Nhật ký phố núi cao 

Phố Nợ

Là Hàm Rồng che hoàng hôn xõa phố Biển Hồ sâu xanh thẳm một hồn thơ Pleiku, hương đất ba-dan rặng dã quỳ vàng mờ sương sớm dưới chân ngờm ngợp trăng lên ngàn

Một đời phố ôm tôi, duyên nợ con đường dài lộ thiên ký ức cười khóc ngày mưa bụi mào gà, rào dâm bụt, súng tre hái kò ke làm đạn chơi giữa phố, phố đuổi bắt tôi.

Pleiku xa đáy ba lô vương gai mắc cỡ,buồn thơ Bửu Nghiêm, chuông chùa lơi giật mình nước mắt trẻ con

Pleiku,18/10/2008      Thái Uyên

Cảm Xúc

                                      (Cho Thái Uyên)

Mơ ước một ngày nghe nhạc Trịnh Rừng núi hoang vuGiữa lòng đô thịSao đèn khuya ngọn đỏ ngọn xanhMà lòng anh lại thành phố núiMơ ước một ngày gánh trên vai hai chữ phiêu bồngBỏ những con đường thành đô ồn ào ta về với núiNúi mang gương mặt người đàn bà bình yên sau cơn yêu cháy bỏngĐứng buông tay chờ yêu dấu quay vềRừng mang trong trái tim mình ngọn đuốcSoi rõ con đường chuộc lỗi với mây xanhÔi, người đô thị thèm mơ về phố núiNgười núi rừng lại hoang hoải thành đôNhững ngón tay hôm nay có khi nào đánh tráoNhư quân bài xanh đỏ những yêu thươngTa ngồi ở một nẻo của căn phòng nhỏKhông biết mình đang ở đồng bằng hay ở núiChỉ câu thơ cứ lạnh lùng bước tiếpNhư dấu chấm câu này.

               Saigon.20/11/2009                  Lê Nguyệt Minh

Bầu trời và cơn mưa nhỏ

(Tặng Hoa Đắng và….)

tôi thả tôi vào Pleiku bầu trời cái váy màu mây ghi xámnhững cơn mưa nhỏ, mắt lệ long lanhnhững ngả dốc áy náy, ngực len ấmcà phê mở dưới vòm cây xanh nét mi*tôi thả tôi vào dàn dạt mưa, hạt nhỏnhư sương như mộng tình tôi thởphố khỏa thân mưa ướt đồi, em ướtngõ xộc xệch, đường lặng trắng, mưa em cười*tôi thả tôi tồng ngồng chạy giữa mưa đêmđiên một chút, với em, đen mắt xuân thìem hát lời tả tơi, lời lả lơiđừng xa em – đừng xa em đêm nay *nhưng mưa đã thôi và em đã xa tôinhư hoàng hôn cứ tấu lên nỗi buồn già cổikhông có bình minh nắng thơm môiPleikuđã quá xa em, bầu trời cơn mưa nhỏ

                    Pleiku .Hè 2009                         Vĩnh Phúc

Bài thơ phố

(Tặng Thái Uyên)

Ba ngày ở Pleiku Chỉ đi trên những con phố thấp Sương mờ khuất khói cafe Buổi sáng mưa Ban chiều mưa Đêm trong vòng tay người Nên chẳng nhớ Ba ngày ở Pleiku Chỉ quẩn quanh dăm ba con phố Ngắm phong lan rừng Nở hoa trong buổi vừa nắng vừa mưa Tay bấu vào ghế Tìm chỗ dựa Giờ có người nhắc tới Pleiku Lòng chợt ngả vàng như hoa dã quỳ triền dốc Mà chưa từng gặp. Xao xuyến Pleiku.

             Anna Phạm- 2008

Vô Thanh

                                               (Tặng T.L.T.)

Từ rất xa Ý nghĩ chỉ là một dấu chấm Một thoáng mờ Sương Từ rất xaGió đến bằng đôi cánh Cuốn hương đêm và ngày Vương Từ rất xa Giọng nói ấm nồng theo em trăn trở Mơ Cổ tích không dành cho tuổi Câu chuyện Mang hình hài hạt bụi Rơi Đến vô cùng Ta đã gặp Như một sắp đặt Từ nơi rất xa Một lần nào đó Tình cờ Em và anh đồng điệu Giới hạn diễn giải Vô thanh

     Đêm KonTum.16/05/2010          Hồng Thủy Tiên

Về Bài Thơ Quê Nghèo / 2023

Nghèo Đến Xót Xa Cõi Lòng

Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt

Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Thương cánh cò bấu bíu lời ru.

Phiên chợ còn èo ợt nghèo hơn

Í ới mời chào cao hơn mời cỗ

Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.

Gặm nhấm nỗi đau nghèo khó

Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc

Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình.

Nước mắt rơi từ thời chị Dậu

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp

Sừng sững bê tông cốt thép

Chiếc cổng làng thành tai hại

Hưng Yên, chiều 29 tháng 12 năm 2014

Hơn 60 năm trước, khi trọ học ở Hà Nội, tôi thường được ông chủ nhà cho cùng ông nghe buổi phát thanh ca nhạc của Đài phát thanh Pháp Á. Vì vậy, dần dà, tôi đã thuộc được lời và âm điệu của những bài ca mà tôi yêu thích, trong đó có bài ” Quê nghèo” của Phạm Duy mà tôi có cảm giác như cái quê nghèo trong bản nhạc ấy cũng chính là quê mình, cũng ” không xa kinh kỳ sáng chói“, cũng ” có lũy tre còm tả tơi”… Sau ngày giải phóng Thủ đô năm 1954, tôi vĩnh viễn không còn được nghe đài Pháp Á nữa, không phải vì không còn trọ học mà vì dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi. Những bản nhạc bấy lâu đã thuộc trôi dần vào lãng quên trước nỗi vất vả kiếm sống của một thời trai trẻ cùng sự cấm đoán hát những bản nhạc ấy. Lại thêm khắp các làng quê được khơi dậy phong trào hợp tác xã, lòng người phơi phới hát vang lời ca ” Dân có ruộng dập dìu hợp tác/ Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê...”. Vì thế hai tiếng ” Quê nghèo ” cũng lặn mất tăm trong tâm trí của tôi.

Ai hay, hôm nay hai tiếng “” lại hiện lên rõ nét trước mắt tôi. Không phải là nhạc phẩm “Quê nghèo” một thời vang bóng của nhạc sĩ Phạm Duy mà là bài thơ “” còn như mới tinh nét chữ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến!

Bài thơ Quê nghèo gồm 4 khổ chính, khổ nào cũng cất lên câu mở đầu: Quê tôi nghèo lắm nghe như một tiếng thở dài buồn thảm và dai dẳng không hòng tìm thấy điểm ngừng. 4 khổ thơ chính và 2 câu thơ kết đã phô ra 5 cái nghèo lắm:

Trước hết là cái nghèo lắm về cảnh vật đến cuộc sống của người dân quê tôi:

Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt

Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Ba tiếng vẫn ở ba đầu ba câu thơ liên tiếp biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của trạng thái nghèo nàn mà không gì có thể thay đổi được qua năm tháng. Tuy nhiên, vẫn lác đác nhà tranh thì phần nào còn hy vọng nhà tranh sẽ hết. Nhưng ” Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt/ Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát ” thì không dễ gì thoát được khi mà người dân quê đã lam lũ dốc kiệt sức vào việc kiếm ăn và đã phải một đời chắt chiu từ củ khoai nắm thóc, vậy mà hạt gạo không đủ nấu cơm. Bởi thế, từ Vẫn thứ tư phải tiếp nối:

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ

Và biết bao tuổi thơ lâm vào cảnh:

Thương cánh cò bấu bíu lời ru.

Rất dễ hiểu ra, không phải là cánh cò bay lả bay la/ bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng hay những cánh cò trắng phau phau/ ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm; mà phải là những cánh cò đi ăn đêm, những cánh cò lặn lội bờ sông…

Bài thơ Quê nghèo của Đặng Xuân Xuyến hôm nay nhắc tôi nhớ lại bản nhạc Quê nghèo từ năm 1948 của Phạm Duy với những cảnh mà từng ấy năm đã qua không một ai có thể vẽ lên hình ảnh môt quê nghèo tuyệt vời đến vậy: lũy tre còm tả tơi, những ông già rách vai cuốc đất bên đàn trẻ gầy... Rồi là một tiếng kêu thống thiết:

Chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoai

Nhưng trong tiếng kêu thống thiết ấy vẫn còn có niềm vui là nồi cơm độn đầy ngô. Người mẹ trẻ nghèo khó dẫu cũng thở dài nhưng trẻ thơ vẫn được đi vào giấc ngủ bằng sự vỗ về yêu thương của mẹ:

Sau hơn 60 năm đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội rồi lại thực hiện đường lối đổi mới, những tưởng quê tôi sẽ đổi thay và phát triển đầy ấm no, hạnh phúc. Ai ngờ Quê tôi của nhà thơ, một làng quê của một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ hơn sáu chục cây số, một vùng đất đã nổi danh từ 200 năm trước với Phố Hiến, một thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài trong câu: ” Thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến ” vẫn không thoát cảnh Quê nghèo, vẫn chỉ là nhà tranh, là tiếng thở dài, là bát cơm mặn chát mồ hôi, là khoai sắn len vào giấc ngủ của người lớn, là cánh cò bấu bíu lời ru trong giấc đói ngủ của con trẻ.

Quê tôi nghèo lắm còn được phơi bầy không giấu giếm trong cảnh chợ làng:

Hàng hóa chỉ có thế, không thấy con tôm, con cá, con gà, miếng thịt lợn…

Chợ quê không nhiều người và phong phú hàng hóa như chợ huyện, chợ tỉnh nhưng từ nghìn đời nay chợ quê không chỉ là nơi đổi chác mua bán mà đối với dân làng còn là một nơi gần gụi thân thương chung của mọi người đồng thời cũng là một sắc thái riêng của văn hóa làng trong văn hóa chung của dân tộc. Bởi thế từ nghìn đời nay, bao người ao ước:

Gần sông tắm mát, gần nơi đi về

Nhưng bây giờ cái chợ quê của nhà thơ chỉ còn là một cái chợ “èo ọt’ với vài dăm món hàng rẻ tiền như nải chuối, mớ rau, mẹt sắn mẹt ngô thì hiển nhiên cảnh họp chợ phải gần như vắng hoe:

Kẻ bán người mua, tất cả đều chung một tâm trạng buồn chán trước một phiên chợ đang tàn tạ không còn sự sống:

Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.

Quê tôi nghèo lắm, nghèo đến xót xa cõi lòng khi thấy hình hài lũ trẻ:

Nhìn lũ trẻ Quê nghèo trong thơ Đặng Xuân Xuyến, bỗng dưng tôi nghe vẳng tiếng hát trẻ trung trong câu ca dao:

Gió đưa gió đẩy… về rẫy ăn còng

Về sông ăn cá, về đồng ăn cua…

Rồi lại ùa về thêm trong tôi những lời kể của nhà văn Tô Hoài:

” cái thuở bé sao mà lâu thế, dài thế. Bắt châu chấu bán cho người chơi chim họa mi. Bán không hết thì vặt cánh, bóp bụng cứt, rang khan với muối, ăn vã. Rồi thì kéo bọn đi hun chuột đồng, chuột luộc, chuột rán đều ngon. Quả sấu, quả nhót dầm nước mắm ớt, bây giờ đến mùa vẫn nhớ thèm và nói đến vẫn còn tứa nước rãi. Hôm nắng hanh thì lùng các bụi tre bắt rắn ráo ra phơi mình, chúng nó là rắn, nhưng rắn ráo, rắn nước, rắn mỏng không có nọc độc, thịt mềm như thịt gà con luộc...” (trích Chiều chiều).

Bây giờ đâu còn dễ kiếm được con còng, con cá, con cua đồng, đâu còn bắt được châu chấu, chuột đồng, rắn ráo, rắn nước rắn mòng, đâu còn hái được quả sấu quả nhót nơi quê nhà…nên lũ trẻ mới ra cái hình hài, cá mắm mốc meo đáng thương kia.

Những thân hình đói khổ ấy làm sao chứa đựng được những tâm hồn lành mạnh mà trong họ chỉ có:

Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc

Với sự sống quẩn quanh chật hẹp tù hãm như những:

Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình

Quê tôi nghèo lắm. Vậy nguồn gốc của nông nỗi nghèo lắm ấy là từ đâu? Hãy nghe nhà thơ cắt nghĩa:

Trước hết là nỗi khổ đau truyền đời chưa dứt:

Nước mắt rơi từ thời chị Dậu

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp

Ô hay, sao lại là tội của chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp ấy?

Cổng làng có từ xa xưa ở làng quê Việt Nam. Ngoài ranh giới phân chia, cổng làng thể hiện rõ hồn cốt của làng. Nó được dựng lên để bảo vệ làng khi có giặc giã, trộm cướp và thường được dựng bằng tre, nối liền với những lũy tre bao bọc quanh làng. Bên cạnh cổng làng có điếm canh, ngày cổng mở để dân làng đi lại, đêm làng cử người canh ở điếm, kiểm tra người lạ vào làng. Những chiếc cổng làng xưa cũ ấy đã đi vào thơ ca với những nét đẹp giản đơn mà thơ mộng:

Nhưng khi về đến cây đa đầu làng

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng

Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre

Giờ cổng làng xưa không còn nữa. Quê thì nghèo rớt mồng tơi mà người ta lại xây cổng làng hoành tráng quá. Cổng làng không còn là nơi thông báo cho người khác biết về địa giới hành chính của làng nữa mà dường như chỉ để khoe mẽ:

Sừng sững bê tông cốt thép

Và chính vì thế, người ta đâu biết:

Chiếc cổng làng thành tai hại

Bài thơ kết thúc với hai câu nhưng câu thứ nhất cũng đai lại ba tiếng: Quê tôi nghèo. Và trong mọi cái nghèo đã nói, xót xa hơn cả là cái nghèo trong câu kết thứ hai:

Đến giấc mơ cũng nghèo thì nói gì đến hoài bão ước mơ lớn mà biết bao sự đổi thay tốt đẹp ở đời thì chỉ thuộc về những người có hoài bão, biết ước mơ!

Trong muôn vạn bài thơ của các kiểu người người làm thơ, nhà nhà làm thơ ngày nay với tràn ngập những bài thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, thậm chí có nhiều bài như cỏ dại và nấm độc, thì bài thơ Quê nghèo của Đặng Xuân Xuyến là một bài thơ xứng đáng được những người yêu thơ đích thực đón nhận. Trước sự nghèo khổ của Quê hương, nhà thơ đã không câm lặng mà đã cất lên những tiếng thơ chân thật và đầy xúc động thể hiện những nỗi xót lòng đối với làng quê, với người dân quê của mình. Những tiếng thơ chân thật đến xót lòng ấy cũng là tiếng nói chung cho nhiều người đang còn có những ” Quê tôi ” chưa thoát cảnh đói nghèo.

Tôi mong rằng, trên mọi miền đất nước, bà con dân quê chúng ta sẽ tự cứu mình để sớm hết cảnh “Quê nghèo“, nghèo đến xót xa cõi lòng như trong thơ Đặng Xuân Xuyến.

Góp ý riêng với tác giả về một câu thơ:

Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ

Tiểu thuyết “Sống mòn” đề cập đến một vấn đề nhức nhối của người trí thức trong thời đại cũ, những văn nghệ sĩ nhiều khao khát, giàu lý tưởng nhưng cuộc sống cứ mòn dần, lụi dần bởi mối lo cơm áo. Giáo Thứ trong tác phẩm “cũng mang tiếng ông giáo với bà giáo, quần áo là, sơ mi trắng, thắt ca vát, giầy tân thời, thứ Năm, Chủ Nhật diện ngất, tưởng mà mỡ lắm, thế mà kì thực bụng chứa đầy rau muống luộc”.

Chứ Giáo Thứ có oan khiên gì đâu?

Tôi nghĩ có lẽ nên là: ” Tiếng oan khiên từ thời anh Pha ”

Anh Pha trong “Bước đường cùng ” của Nguyễn Công Hoan, một nông dân nghèo khổ, sống thật thà, chân chất nhưng lại không tránh khỏi “tai bay vạ gió” từ những con người tưởng như cũng bần cùng như anh nhưng vẫn thiếu mất sự cảm thông và cái tình, cái nghĩa như Trương Thi rồi đến bọn thống trị hách dịch bạo tàn, ra sức cướp bóc tô thuế, không ngần ngại tra tấn những người nông dân cùng khổ như tên địa chủ Nghị Lại và bọn Quan huyện, lính lệ không ngừng tìm mọi cách vơ vét người nông dân đến khánh kiệt và đưa anh Pha đến bước đường cùng.

30 Bài Thơ Hay Về Ăn Nhậu Dành Cho Các Dân Nhậu Không Thể Bỏ Qua / 2023

30 bài thơ hay về tình yêu, duyên phận, yêu đương

2. NHẬU CHUỘT ĐỒNG NƯỚNG

Bài thơ nói về chuyện nhậu món chuột đồng nướng cùng với đám bạn. Kể về sự việc bắt chuột đồng và chế biến thành món nhậu để anh em cùng nhau chung vui. “Thôi thì ráng nhậu” để cho tình bạn càng thêm sâu đậm.

3. NHẬU VUI

“Nhậu” là một nét văn hóa có ở tất cả các nền văn hóa, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất kể giàu nghèo, sang hèn, tôn giáo, chủng tộc… Bài thơ nói về miền Tây của Việt Nam ta có rất nhiều mói ăn chơi, ăn nhậu mà tác giả đã liệt kê trong bài viết. Rượu đế Gò Đen là loại rượu đặc sản nơi đây.

4. NHẬU BÊ THUI

Bài thơ nói về món nhậu bê thui ở Nha Trang, Món này rất thích hợp với dân ăn nhậu. Tác giả miêu tả rất chi tiết các gia vị cũng như thị trong món ăn, tạo cho người đọc cảm giác chưa ăn nhưng đã thấy ngon và thèm thuồng.

5. NHẬU MỰC NƯỚNG

Mực nướng là món nhậu rất quen thuộc của các thanh niên. Mực nướng chấm với nước tương là “hết sảy con bà bảy”. Chắc rằng các bạn đã từng nhậu món này rồi đúng không nào. Nốc cạn cốc bia, nhấm miếng mực, cuộc đời đẹp tươi.

8. BIA RƯỢU LỢI HAY HẠI

Bài thơ viết về lợi ích của rượu bia sẽ giúp ta cảm giác khuẩy khỏa, vui vẻ, xã giao nhiều hơn, quan hệ rộng hơn, giải sầu, … Mặc dù vẫn biết là rượu, bia sẽ có hại cho sức khỏe nhưng vì cuộc sống mưu sinh mà phải bắt buộc có cốc bia, chén rượu, nhưng cũng biết điểm dừng.

9. THƠ LỤC BÁT NHẬU

Ông trời nghe tiếng cũng kiêng Thôi thì…kệ nó, lũ điên ấy mà..

Đây là bài thơ chế về ăn nhậu quanh năm. Liệt kê cả 12 tháng đều ăn nhậu, mục đích nói rằng ta đây là dân ăn nhậu, nhưng ý nghĩa thực của nó chốt ở 2 câu thơ cuối đó là “Ông trời nghe tiếng cũng kiêng, Thôi thì…kệ nó, lũ điên ấy mà..” đang châm biếm những người chỉ biết ăn nhậu mà không biết làm ăn.

10. HOANG MANG VÌ NHẬU

Bài thơ nói về tác hại của ăn nhậu đến say quá mà “đi xe hạ cánh vô lề”. Khuyên răn mỗi người chúng ta nên có điểm dừng khi uống bia, rượu đừng quá chén để dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng sau đó.

11. THƠ HÀI HƯỚC NÓI VỀ RƯỢU

“Việt Nam là một trong những nước tiêu thụ bia rượu nhiều nhất thế giới”. Ăn nhậu được xem như là văn hóa của người Việt chúng ta. Không biết có ai là người Việt Nam cảm thấy vui vẻ và tự hào khi nghe tin đó không???

12. KHÔNG SAY KHÔNG VỀ

Văn hóa nhậu ở Việt Nam là “Cánh đàn ông đã ngồi vào bàn là phải uống, mà đã uống là phải cạn ly, phải 100%, phải theo bàn, phải ôm chai,.. Nói chung, người ta nhìn vào cách anh uống để phán rằng anh có hết mình hay không, có nhiệt tình hay không, có tình cảm hay không, có coi thường bạn bè hay không…”

14. Thơ uống bia rồi bỏ rượu

Khi ra trường là bỏ rượu Mà bỏ rượu là tợp bia Mình chỉ uống bia hơi Ai thảnh thơi mà tợp rượu Ta kĩ sư tiền triệu Phải bỏ rượu, tợp bia.

Bài thơ nói về những người sinh viên khi đi học thì khó khăn không có tiền chỉ nhậu rượu mà thôi. Còn khi ra trường thì đã là “kĩ sư tiền triệu” do vậy mà bỏ rượu uống bia.

15. Thơ vui về rượu bia

Người biết kiềm chế bản thân, biết vượt qua những sỉ nhục và cám dỗ nhất thời, mới có thể làm được việc lớn. Vậy thì nếu cạn ly là để “hết mình”, thì biết từ chối chén rượu lúc cần mới xứng là “văn hóa nhậu”.

16. Thơ vui về rượu bia

Làm trai cho đáng nên trai Đi đâu cũng phải có vài chai trong người

19. Thơ vui về rượu bia

Rượu làm ta say ta lại tỉnh Ta tỉnh rồi rượu chết với ta

20. Thơ vui về rượu bia 21. Thơ vui về rượu bia

Một xị là mở mang trí tuệ Hai xị là giải phá cơn sầu Ba xị có thấm tháp vào đâu Bốn xị mới chảy mép râu Năm xị nằm đâu ngủ đó Sáu xị cho chó ăn chè Bảy xị để đem về cạo gió

22. Thơ vui về rượu bia

Một ly, nói chuyện đàng hoàng Hai ly, nói đía, nói quàng, nói xiên Ba ly, nói ngả nói nghiêng Bốn ly, miệng lưỡi huyên thuyên nói xằng Năm ly, toàn nói lăng nhăng Sáu ly, khật khưỡng nói trăng nói trời Bảy ly, nói lẫn khóc cười Tám ly, nói lộn tiếng người, tiếng ma Chín ly, nói lại nôn ra Mười ly, chẳng biết là ta nói gì

26. Uống Rượu

1 xị để giải cơn sầu 2 xị biết giai nhân đâu? 3 xị thì sạch xì dầu 4 xị nằm đâu ngủ đó 5 xị cho chó ăn chè 6 xị đem về cạo gió

27. Thơ về ăn nhậu 28. Ăn nhậu 29. Bài thơ ăn nhậu

Lên cao mới biết núi cao Uống rồi mới biết rất hao túi tiền Chọn xoài đừng chọn xoài chua, Chọn bạn đừng để bạn dzô dùm mình Chơi hoa đừng để hoa tàn Chơi bạn đừng để bạn dành trai bia Tìm rượu khó lắm ai ơi Tiền bạt thì ít, Muốn say thì nhiều Dzô ba trai, ngục lừ đừ Biết dzậy, uống ít khỏi nhờ vợ đưa (đưa về nhà rồi biết tay bà)

30. Thơ chế ăn nhậu 31. Thơ chế uống rượu

Đầu hôm trăng hảy còn non Mấy tay ghiền rượu mồi ngon đâu cần Trăng non trăng đã lên dân` Mấy tay dân nhậu xà bần khoái ghê Trăng trên cao ,trăng còn mê Mấy tay dân nhậu có chê mồi nào Có tiên thi uống bia lon Lâu lâu được uông vài lon rồi về không tiền ta uống rượu đế Cốc ổi me chua cũng phê thấy trời Trăng khuya trăng ở giữa trời Đầu hôm đến giờ hết mười chay trong Giờ này rượu ai mà đong Mình về mình ngũ vợ trông từng giờ !!!!!

32. Thơ chế ăn nhậu

Tổng hợp