Top #10 ❤️ Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Nói Về Ai Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Anhngucongdong.com

Đến Với Bài Thơ Hay: Dáng Đứng Việt Nam

Giáo Án Thơ “Em Yêu Nhà Em”

Tổng Hợp Chia Sẻ Hình Ảnh, Tranh Vẽ, Biểu Mẫu Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

Ai Cũng Biết Bài “Em Đi Chùa Hương”, Nhưng Không Phải Ai Cũng Biết Chuyện Tình Ngang Trái Của Thi Sĩ Trong Bài Hát Này

Nhà Thơ Của “đi Chùa Hương”

“Emily, Con…” – Một Bài Thơ Bất Diệt – Chúngta.com

Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để gì lại cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ơi Anh Giải phóng quân

Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Lê Anh Xuân 

Lê Anh Xuân thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong máu lửa đấu tranh ở miền Nam. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, anh đã để lại thi phẩm tiêu biểu “Dáng đứng Việt Nam” từng khắc tạc vào lòng bao thế hệ.

“Dáng đứng Việt Nam” đúng như tên gọi của bài thơ, tác giả đã chớp được, bắt được hình ảnh thật tuyệt vời của người chiến sỹ anh hùng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Chỉ mấy câu đầu thôi mà hình ảnh người chiến sỹ ấy đã hiện lên thật oai hùng:

Anh ngã xuống trên đường băng

Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng

trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Người chiến sĩ giải phóng đã trúng đạn khi đang ôm súng truy đuổi giặc trên sân bay. Trúng đạn, trong khoảnh khắc “anh ngã xuống”, anh biết mình không đủ sức nâng khẩu súng, anh đã dùng ngay xác trực thăng giặc làm chỗ dựa, làm bệ tỳ để bắn tiếp. Khí thế oai hùng quyết chiến đó khiến bao tên giặc hoảng hốt tột cùng:

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công.

Sự quả cảm của anh khiến bao người nể phục. Hành trang anh để lại trước lúc đi xa chỉ có đôi dép vẫn “một màu bình dị sáng trong”. Nét phi thường hòa trong những gì bình thường nhất. Đôi dép anh mang trong ngày tử trận cũng đơn sơ, giản dị như chính cuộc đời anh vậy:

Không một tấm hình, không một dòng

địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng anh

trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam

tạc vào thế kỷ

Điệp từ “không” nhấn mạnh phẩm chất cao cả của một người lính dũng cảm. Một sự xả thân không hề tính toán vụ lợi, vì vậy “tên anh đã thành tên đất nước”, máu anh đã hoà trong máu của đồng đội tô thắm màu cờ Tổ quốc Việt, để cho hôm nay “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Dáng đứng của anh và cuộc đấu tranh sôi sục của nhân dân miền Nam đã “tạc” vào lịch sử một dấu son chói lọi. Sự ra đi của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm nào là bệ phóng đưa đất nước lên tầm cao mới.

Tổ quốc hôm nay đang bay lên trong mùa xuân mới: Mùa xuân của hoà bình, hợp tác và hữu nghị. Thắng lợi của ngày nay được vun trồng bởi máu xương của biết bao thế hệ cha anh hôm qua. Trong những ngày tháng Tư lịch sử này, bài thơ như lời nhắc nhở thế hệ trẻ phải luôn nỗ lực học tập, làm việc, cống hiến cho đất nước, đáp đền công ơn những người đã ngã xuống cho bầu trời Tổ quốc thêm xanh.

Tôi Viết Bài Thơ “Dặn Con”

Qua Hai Bài Thơ Cảnh Khuya Và Rằm T…

Bài Thơ Cây Đào

Chùm Bài Thơ Về Chú Bộ Đội

Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi

Nhân Vật Trong Thơ: Dáng Đứng Việt Nam

Vợ Của Nhà Thơ (Nhà Khoa Học, Nhà Dân Chủ, Nhà Dấn Thân, Nhà Nhà…)

Nguyen Huy Thiep: Tuoi Hai Muoi Yeu Dau

Phân Tích Bài Thơ “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Câu Thơ: Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy/ta Có Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương Của Ai?

Cảm Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy

“Anh tên gì hỡi anh yêu quý!”

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Lê Anh Xuân. Trong di sản của mình, có lẽ đây là tác phẩm đã làm nên tên tuổi Lê Anh Xuân trở thành một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Nam cận hiện đại. “Dáng đứng Việt Nam” cũng đã trở thành hình tượng người anh hùng, đại diện cho chí khí chiến đấu bất khuất của bộ đội cụ Hồ cho đến ngày hôm nay.

Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, rất nhiều thế hệ đã yêu và say mê những câu từ chân chất mà đầy hình tượng bi tráng của bài thơ, đặc biệt là với người lính. Thế nhưng, ít ai biết hình tượng ấy có nguyên mẫu từ đâu, đến chính nhà thơ Lê Anh Xuân khi viết bài thơ này cũng không biết người chiến sĩ bất khuất, kiên cường ấy là ai. Bởi thế, nhà thơ mới viết:

“Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ”

(trích bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân)

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành – nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên – Tiểu đoàn 16, tiết lộ: “Nguyên mẫu của người chiến sĩ trong bài thơ này là anh Nguyễn Công Mẹo, nguyên quán ở thôn Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và 1 chiến sĩ nữa mà anh em chứng kiến không biết tên”.

Theo ông Thành, sau trận đánh vào Tân Sơn Nhất, 2 đại đội đánh sâu vào sân bay chỉ còn vài người còn sống và bị thương nặng. Sau khi về đến bộ chỉ huy có kể lại tình hình chiến đấu cho chỉ huy, trong đó có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ đang theo đoàn quân chiến dịch.

Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như 1 trong những trận đánh ác liệt nhất

Dựa vào lời kể của các chiến sĩ vừa về từ chiến địa, nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ viết bài ký “Thư Tân Sơn Nhứt” vào ngày 2/2/1968 với nhiều câu chuyện chiến đấu quả cảm của các đơn vị tham chiến như Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 12 đặc công, Biệt động thành Gò Môn…

Trong bài ký này có đoạn miêu tả về 2 người chiến sĩ kiên cường, đã chết nhưng vẫn tì thân trên xác xe thiết giáp M41 đã bị bắn cháy. 2 anh đã chết nhưng tay vẫn ôm chặt súng, thân tì trên xác xe nên không ngã xuống.

Sau đó, từ cảm hứng này, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết thành bài thơ về hình tượng 2 người chiến sĩ trên vào tháng 3/1968. Ban đầu, bài thơ có tên là “Anh giải phóng quân” được lưu truyền rộng rãi trong anh em bộ đội và nhân dân Long An, sau đó mới được đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam” khi in thành sách. Chỉ chưa đầy 2 tháng sau khi viết bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, ngày 5/6/1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại chiến trường Cần Đước, Long An.

Còn sống còn hy vọng đi tìm đồng đội…

Ông Vũ Chí Thành chia sẻ: “Trận chiến đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất dịp Tết Mậu Thân quá ác liệt, 2 đại đội của Tiểu đoàn 16 đánh sâu vào sân bay chỉ còn 6, 7 người còn sống nên thông tin rất ít. Các đồng chí còn sống kể có thấy hình ảnh 2 đồng đội mình hy sinh như thế nhưng không biết là ai vì tình hình chiến đấu quá ác liệt, không còn thời gian để quan sát người nào còn sống, người nào đã chết nữa. Mãi sau này, một số đồng chí bị thương nên không rút lui được, bắn hết đạn nên không thể chống trả và bị địch bắt, đày đi Côn Đảo được giao trả về mới biết được lai lịch 2 đồng đội là nguyên mẫu trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.

 

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành là người dành nhiều công sức để sưu tầm sử liệu về Tiểu đoàn 16 vì tiểu đoàn đã xóa phiên chế nên không còn bộ phận làm truyền thống đơn vị

     

 Theo ông Thành, 2 chiến sĩ này tì trên xác chiếc thiết giáp M41 chứ không phải xác trực thăng như trong bài thơ. Lúc này, liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo ôm khẩu AK, còn 1 chiến sĩ thì tì khẩu 12 ly 7 lên xác chiến xa làm điểm tựa. Tên lính Mỹ theo đoàn xe tăng phản kích bị xác chiến xa che khuất nên không thấy, khi vượt qua chiến xa thì thấy bóng dáng 2 khẩu súng chỉa thẳng về phía mình nên giật mình ngã ngữa về sau, súng rơi khỏi tay nên tên Mỹ vội vàng ôm đầu để đầu hàng. Mãi không thấy động tĩnh, khi tên lính Mỹ đứng dậy đến gần mới phát hiện 2 anh giải phóng quân đã chết, chỉ là chưa ngã xuống và súng vẫn trên tay…

Những chiếc thiết giáp bị bắn cháy tại Tân Sơn Nhất trong trận Tết Mậu Thân (ảnh tư liệu)

 

Ông Thành cho biết: “Do người chứng kiến đứng gần liệt sĩ Mẹo hơn nên nhận ra anh, còn chiến sĩ còn lại bị khuất sau lưng liệt sĩ Mẹo nên người này không nhận ra. 1 phần vì ở xa, 1 phần anh Mẹo là Chính trị viên phó Đại đội 1 nên nhiều người quen thuộc với anh, nhận ra anh. Còn anh chiến sĩ còn lại thì hơi lạ mặt nên anh em không nhận ra. Đến nay tôi tìm hiểu khắp lượt vẫn chưa hỏi ra được anh tên gì”.

Trong những năm qua, ông Thành cũng đã cất công đi tìm hiểu, viết lại chiến tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, tìm về quê quán của liệt sĩ để xác minh lý lịch nhân thân gia đình, xin xác nhận của địa phương để làm hồ sơ xin truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo.

 

Quyển sách cũ có in “Thư Tân Sơn Nhứt” là tư liệu mà ông thường xem

Bản tài liệu thành tích của liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo mà ông dày công sưu tập, tìm hiểu, chấp bút để xin truy tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng đội mình

Cựu chiến binh Vũ Chí Thành nói: “Trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Công Mẹo là rất anh dũng, xứng đáng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng bản thân tôi và nhiều cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – Phân khu 2 còn sống ở cả 2 miền Nam – Bắc đều nhất trí đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét. Anh em chúng tôi đang cố gắng liên hệ với các cơ quan chức năng để làm việc này. Rất tiếc là chiến sĩ còn lại chưa rõ tên tuổi, quê quán nên chúng tôi chưa làm được gì cho anh!”.

Ước nguyện cả đời của người lính già này là được thấy các đồng đội được về bên nhau và truy tặng Anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng

Theo cựu chiến binh Vũ Chí Thành, việc đi các nơi để thu thập thông tin, giấy tờ, xác nhận để truy tặng danh hiệu cho các đồng đội đã ngã xuống cũng quan trọng như việc đi tìm kiếm di hài của các anh đưa về quê hương bản quán. Bởi đó là trách nhiệm, là nghĩa tình của người còn sống đối với người đã khuất. Bởi thế, ông hy vọng khi mình còn sống sẽ được thấy tất cả 380 anh em của Tiểu đoàn 16 đã mất trong trận đánh Tân Sơn Nhất được quy tập về 1 nơi, ít ra cũng có cái tên cùng nhau trên bia kỷ niệm. Ông cũng hy vọng mình đủ sức khỏe để đi làm thủ tục xin truy tặng danh hiệu anh hùng cho những đồng đội xứng đáng là anh hùng đã ngã xuống của ông…

Những ước nguyện đó của ông vẫn còn đầy trắc trở. Bởi các đồng đội của ông cũng như rất nhiều chiến sĩ anh hùng khác đã hy sinh mà “… chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ!”.

Bài: Tùng Nguyên – Quốc Anh

Ảnh & Clip: Phạm Nguyễn

Đề Bài: Đọc – Hiểu Về Chủ Đề Vẻ Đẹp Người Lính

Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh

Nhân Vật Trong Thơ : Dáng Đứng Việt Nam

Thơ Chọn Lời Bình: Dung Dăng Dung Dẻ

Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh

Phân Tích Bài Thơ Dáng Đứng Việt Nam Của Lê Anh Xuân

Thơ Triết Lý Về Dại Khôn

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dừa Ơi

Soạn Bài Dòng Sông Mặc Áo

Câu Chuyện Về Nhà Thơ Tố Hữu Và Emily

Chùm Thơ Vui, Hài Hước Về Những Người Đang Ế, Fa

Dáng đứng Việt Nam là thi phẩm cuối cùng của nhà thơ – chiến sĩ Lê Anh Xuân, được viết tháng 3/1968 trong những ngày khói lửa của cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân. Tác giả hi sinh hai tháng sau đó tại vùng phụ cận Sài Gòn vào lúc tuổi đời còn rất trẻ, để lại mùa xuân của cuộc đời cho mùa xuân đất nước.

Viết về sự hi sinh của người lính trong cuộc chiến đấu, nhưng bao trùm lên Dáng đứng Việt Nam không phải là âm hưởng bi thương của nỗi đau và sự mất mát mà vượt lên trên, bài thơ tôn vinh cái đẹp và sự cao cả, trở thành biểu tượng chiến thắng của lí tưởng cách mạng. Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất với tư thế hiên ngang, lẫm liệt trong Dáng đứng Việt Nam đã trở thành một bức tượng đài đầy tính biểu cảm:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Hình ảnh bi tráng về tư thế hi sinh của người chiến sĩ giải phóng quân đã làm cho quân giặc vô cùng khiếp sợ:

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đoàng hoàng nổ súng tiến công.

Việc kết hợp hai phạm trù thẩm mĩ tương phản trong cùng một khổ thơ đã tạo cho tác phẩm sức gợi tả đặc biệt, đó là sự đốì lập giữa tư thế hiên ngang của người chiến sĩ giải phóng quân và nỗi đớn hèn, khiếp sợ của giặc Mĩ. Những câu thơ được viết lên bằng một trường liên tưởng hết sức mãnh liệt của tác giả khiến hình ảnh người chiến sỹ giải phóng quân trở nên lớn lao và kì vỹ.

Anh tên gi hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức tường đồng

Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mĩ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ:

Anh là chiến sỹ giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Với những câu thơ mang đầy cảm xúc sử thi và chất trữ tình đậm đà, tư thế hi sinh của người chiến sĩ đã trở biểu tượng của cái đẹp và sự cao cả, hình ảnh của anh là hình ảnh của những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam rùng rùng ra trận với niềm tin lớn lao mãnh liệt về một ngày độc lập tự do của đất nước. Nhiều người đã ngã xuống, và cũng như người chiến sĩ giải phóng quân kia, họ không để lại tuổi tên, địa chỉ, nhưng họ không bao giờ vô danh trong trái tim dân tộc, bởi thân thể và máu xương của họ đã hòa vào đất mẹ, làm nên dáng hình của đất nước, tạo dựng một Dáng đứng Việt Nam sừng sững trong thế kỉ.

Lê Anh Xuân hi sinh trong chiến dịch Mậu Thân nãm 1968 khi chưa kịp chứng kiến mùa xuân thắng lợi, khi chưa kịp thấy những điều anh mong đợi – “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” – đã trở thành sự thực vào năm 1975. Nhưng những vần thơ của người chiến sĩ – nhà thơ ấy vẫn sông mãi, trở thành một khúc tráng ca vượt qua năm tháng để gửi tới muôn thế hệ những khoảnh khắc lịch sử về một mùa xuân bất diệt của dân tộc.

Nhớ Lê Anh Xuân Với Bài Thơ ‘dáng Đứng Việt Nam’

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Dặn Con

Phân Tích Bài Thơ Con Cò

Phân Tích Bài Thơ “con Cò” Của Nhà Thơ Chế Lan Viên

Người Việt Nam Nói Một Đằng Làm Một Nẻo

Truyện Cười Ngắn Việt Nam Vô Đối Phần 1

Truyện Cười Ngắn Việt Nam Vô Đối Phần 1!!!!!!!!!!!!

Truyện Cười Vỡ Bụng Hay Nhất

4 Cuốn Sách Tiếng Anh Tuyệt Vời Bạn Nên Đọc

Giáo Xứ Lộc Thủy: Những Câu Khó Dịch Sang Tiếng Anh

Nếu chúng ta tin rằng Việt Nam có 4000 năm văn hiến, thì chắc không ai lý giải được tại sao vào năm 2012 mà Việt Nam lại ở cái vị trí tụt hậu quá xa so với các nước khác với lịch sử của họ chỉ vài trăm năm, hay thậm chí vài chục năm.

Đửng đổ lỗi cho chiến tranh. Có đất nước nào có lịch sử lâu đời lại không trải qua chiến tranh không? Trung Quấc, Nga, Đức, Anh, Nhật, thậm chí Mỹ, Úc cũng đã trải qua rất nhiều cuộc chiến, và họ không phải lúc nào cũng là kẻ chiến thắng. Nhưng cho dù là kẻ chiến bại và gánh chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh đi nữa, thì ngày nay những quấc gia chiến bại đó đều cúi gằm đầu và lẳng lặng vượt xa Việt Nam, bỏ chúng ta lại sau lưng một đoạn quá dài, quá xa và quá khó để sánh vai cho kịp người ta.

Đửng đổ lỗi cho chế độ. Cộng sản thì sao? Tư bản thì sao? Xã hội chủ nghĩa thì sao? Quân chủ lập hiến thì sao? Chế độ không phải là chướng ngại vật ngăn cản chúng ta hành xử chân thiện mỹ. Hơn nữa, ngày hôm nay nếu so sánh giữa Úc, Thụy Điển với Việt Nam thì ai dám nói nước nào là Cộng Sản, nước nào là Tư Bản, nếu quy về bài học lịch sử mà người Việt Nam được giáo dục rằng Tư bản là thối nát, là bóc lột, là xã hội không công bằng còn cộng sản là mọi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu?

Vậy vấn đề nằm chỗ nào?

Vấn đề lớn nhất của Việt Nam, hay vấn đề của Người Việt Nam ở Việt Nam, theo tui chính là làm không được lời mình nói.

Lời nói thể hiện tâm tư nguyện vọng của mình. Và lời nói nào của người Việt Nam nào, từ cha tới chú từ chính phủ cho tới bán vé số đều đẹp đẽ, đều sạch sẽ, và đều thể hiện được ước muốn tột cùng của họ. Nói về ước muốn, tất nhiên là con người ai cũng có mơ ước cao xa và đẹp đẽ, ai cũng thích nghĩ tới những điều tốt đẹp, những điều CHÂN – THIỆN – MỸ. Do đó lời nói của mình tự nhiên nói ra những mong ước đó, âu cũng là lẽ thường tình, mang đầy CHÂN – THIỆN – MỸ. Ví dụ thì khỏi cần ha, ai cũng biết hằng hà sa số những ví dụ về lời nói đẹp đẽ này rồi.

Nhưng khi nói ra xong, thì người Việt Nam lại không làm được lời mình nói, tức là không có năng lực thực hành. Hoặc đỡ hơn trường hợp đó một chút, thì làm cái gì đó tốt đẹp được một thời gian, sau đó lại chính mình đánh mất cái phẩm chất của mình, chất lượng của cái thứ tốt đẹp đó tự động giảm dần, giảm dần theo thời gian, và cho tới một ngày nào đó thì nó khác hẳn so với cái ban đầu mình cam kết.

Tui nói vậy không biết bạn đọc blog tui có hiểu ra được vấn đề không, hay vẫn còn trơ trơ ra: ủa nó nói ai vậy?

Cái việc NÓI MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO đó xuất phát từ đâu? Có lẽ, nó khởi nguồn từ đặc tính của dân tộc, đặc điểm giống nòi, đặc điểm của dân định canh định cư, quần canh quần cư, và đặc điểm của dân á đông. Đặc điểm đó là gì? Là linh hoạt, là nhiễu điều phủ lấy giá gương, là đồng cam cộng khổ, là lá lành đùm lá rách, là chín bỏ làm mười, là một câu nhịn chín câu lành, là dĩ hòa vi quý. (1)

Ở Việt Nam năm 2012, tui ít khi nào thấy được người nào ép mình sống theo ba chữ thôi, tui nhắc lại – BA CHỮ – thôi, đó là CHÂN – THIỆN – MỸ. Và, cái lời nói đẹp đẽ ngọt ngào bay bổng hào hoa phóng khoáng tràn đầy khí phách đó nó nằm ở chữ cuối cùng, chữ Mỹ. Chân không có, Thiện cũng không có, chỉ có Mỹ, tức là chỉ có ý chí muốn như vậy, nhưng tay chân và cơ thể không có cơ sở đạt được cái điều ý chí muốn đạt được, cái này hồi xưa có một chữ hay lắm, bây giờ thấy ít ai xài: bị Duy ý chí. (2)

Duy ý chí là gì? Là không thực tế, là thắng lợi trong tư tưởng có khả năng đạt được thỏa mãn cao trong tinh thần lẫn thực tế.

Từ (1) và (2) đó, nếu mà gán ghép lại thì nó sản sinh ra một dân tộc như thế nào, một đất nước như thế nào? Đưa ra một ví dụ điển hình quy nạp trước nha bà con:

Trần Văn A – giám đốc công ty ABC làm du lịch miệt vườn bán tour inbound (trong nước) cho khách nước ngoài. Anh Trần Văn A tuyên bố rằng tour du lịch miệt vườn của ảnh là dịch vụ tốt nhất khu vực. Ảnh cung cấp được khoảng chừng 10 tour đầu tiên là dịch vụ giống như lời ảnh nói. Tới tour thứ 11, lượng khách giảm lại chỉ còn khoảng 20 khách/xe, sở hụi chỉ vừa đủ chứ không có lời, anh Trần Văn A bèn nghĩ cách: thôi kệ, cắt bữa ăn mỗi bữa 5 món xuống còn 4 món thôi, hoặc một món 5 người ăn cắt xuống còn 4 người ăn thôi, khách sạn 4 sao giảm xuống còn 3 sao thôi, hành trình tour cắt bỏ một điểm cũng không sao đâu. Tất nhiên, thẳng thắn mà nói thì đúng là không sao thiệt. Và cắt được tour 20 khách, anh Trần Văn A sẽ cảm thấy mình đã dọn được đường cho việc cắt giảm các tour sau đó và sau đó nữa để tăng lợi nhuận. Vậy là sau một thời gian, ở điểm tour thứ 50 hay 100 gì đó, thì khách hàng của anh Trần Văn A đã bỏ đi hết, chuyển qua công ty anh Nguyễn Văn B. Cờ tới tay thì phải phất, anh B lại tiếp tục con đường của anh A, cứ thế cứ thế, cây cờ lần lượt chuyền tay qua anh C, anh D, anh E và cứ thế chuyền qua chuyền lại, khách thì thay vì tăng dần lại cứ giảm dần giảm dần.

Tui nghĩ, mở rộng anh Trần Văn A ra thì chắc xã hội này không thiếu những anh A phẩy, A hai phẩy, A ba phẩy, A bốn phẩy, A một trăm một ngàn phẩy cũng có chứ không thiếu.

Sản xuất cũng vậy, ai sản xuất một thời gian cũng nghĩ cách giảm chi phí bằng cách tìm nguyên liệu rẻ hơn bất chấp chất lượng của nguyên liệu đó là gì. Dịch vụ cũng vậy, làm dịch vụ một thời gian thấy kinh doanh tốt quá bèn giảm chất lượng dịch vụ, giảm nhân viên, giảm dịch vụ cộng thêm.

Và họ nghĩ rằng họ kiếm được tiền lời là được, còn khách hàng thì biết gì đâu, cứ thế mà mua thôi, vì chuẩn xã hội tới đó là hết rồi, làm gì có thằng nào vượt lên đựơc mà lo.

Nhưng tầm nhìn của những người đó, theo tui là hơi ngắn rồi. Nhìn ra thế giới coi cái công ty có lịch sử khoảng 30 năm của người ta là bao nhiêu công ty, còn công ty có lịch sử 30 năm của Việt Nam là bao nhiêu công ty?

Tại sao người ta càng làm càng phát triển càng vững mạnh, còn người Việt Nam chúng ta ít công ty nào có lịch sử đủ sức cạnh tranh với người khác như vậy?

Giải thích sao đây, và giải quyết sao đây?

Có lẽ, sẽ có người giải thích rằng, vì dân tộc này bị chiến tranh đe dọa liên miên nên không ai làm cái gì mà dám hay muốn nghĩ xa hơn hai ba đời. Làm cái gì cũng vậy, trước hết lo cho tháng này, năm này và đời này là đủ rồi. Ai nghĩ xa hơn chút, hay có gia đình có truyền thống, có điều kiện hơn chút thì nghĩ thêm được tới đời con mình là hết rồi. Tui chưa từng có dịp nào được nói chuyện với một nhà kinh doanh nào ở Việt Nam nói về tầm nhìn xa hơn 50 năm của chính công ty họ. Nhắc lại: chưa từng.

Ai cũng nói kiểu này: đối với nền kinh tế hiện nay, hoạch định chính sách kinh doanh xa hơn 5 năm là không thông minh. Thông minh nhất là hoạch định chính sách từng năm một, vậy mới dễ trở tay, chứ xa quá rồi biết thời cuộc nó đi tới đâu. Thấy giá vàng giá đô hông, nó biến động từng ngày, mình kinh doanh quấc tế mà không biến đổi kịp thời như nó là mình chết. Đửng ham chiến lược dài hạn em ơi. Hôm nay lo hôm nay đi, tháng này lo kiếm đủ tháng này đi được rồi, xa quá tính hổng tới đâu.

Chắc có lẽ tui hơi chậm tiến rồi, bởi vì tui thấy cái kiểu làm ăn “ngắn hạn” đó là làm ăn chụp giựt. Nhưng mà cũng không trách được những người kinh doanh ngắn hạn kiểu đó, vì ai mà biết cái đất nước này sẽ đi đâu về đâu? Ai mà biết tiền mình làm ra gởi trong ngân hàng hai ba năm sau sẽ có giá trị như thế nào? Và ai mà biết con cháu mình sau này sẽ mang quấc tịch gì?

Hình như tui nói hơi xa rồi. Quay lại, giải quyết cái vụ NÓI MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO như thế nào?

Giáo dục, hai chữ thôi, giáo dục. Thêm một chữ nữa: dạy làm người. Dạy ai? Dạy dân, dạy người Việt Nam, dạy thế hệ trẻ, nếu cần thiết thì đè mấy ông người lớn ra dạy luôn. Dạy cái gì? Dạy 5 chữ thôi: NHÂN – NGHĨA – LỄ – TRÍ – TÍN. Dạy như thế nào? À, khúc này chừng nào gặp đúng người đúng bịnh đi rồi tui nói cho nghe, giờ nói không không mất công người ta nói mình ăn ở không nói nhảm nữa.

Tóm lại, đất nước Việt Nam có phát triển hay không còn tùy thuộc vô cái vụ người Việt Nam có bỏ được cái tật NÓI MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO không. Có câu chuyện cười, viết lại cho bà con nghe: thế giới sợ nước Mỹ, vì nước Mỹ nói là làm. Nhưng nước Mỹ sợ nước Nhật, vì nước Nhật không nói mà làm. Nhưng nước Nhật là sợ Trung Quấc, vì Trung Quấc nói mà không làm. Còn Trung Quấc lại sợ nhứt Việt Nam, vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo.

Túm cái quần lại, đọc hết bài này ai hiểu thì hiểu, ai không hiểu thì thôi, đửng ráng tư duy coi ủa thằng này nó có chửi mình hông ta, hay là ủa thằng khùng này nó nói cái gì vậy nha, mệt não lắm à…

Related

Đọc Truyện Cười Chồng Ba

Truyện Cười Chế Giễu Quan Tham

Truyện Cười Bôi Bác Vn (Tổng Hợp)

Tuyển Tập Truyện Cười Về Việt Nam Với Thế Giới (Phần 1)

Nguoi Viet Nam La So 1

🌟 Home
🌟 Top