Top 6 # Bài Thơ Đủ Nắng Hoa Sẽ Nở Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Đủ Nắng Hoa Sẽ Nở, Đủ Yêu Thương Hạnh Phúc Sẽ Đong Đầy

Bạn đã một lần tham gia thiện nguyện chưa? Thiện nguyện là hoạt động tự nguyện chia sẻ, giúp đỡ những cá nhân yếu thế xuất phát từ tấm lòng, tình yêu thương của con người. Bạn tặng một chiếc áo cho cậu bé đang phải chịu rét đánh giày ngoài đường, bạn đóng góp 1 cuốn sách cho một tổ chức để làm tủ sách cho các em học sinh, bạn tham gia tổ chức những trò chơi tại một trung tâm bảo trợ…Tất cả những điều đó là bạn đang làm từ thiện. 

Những lần đầu tiên tôi biết đến thiện nguyện là đi trao quà cho trẻ em nghèo ở các tỉnh vùng cao như Hà Giang… Khi đó gặp các em nhỏ miền núi, trong những manh áo đơn sơ, ngồi học dưới mái trường đổ nát nghèo nàn, quả thực thấy có cái gì đó quặn lại nơi lồng ngực. Lúc đó tôi mới đi làm với đồng lương ít ỏi nhưng chỉ muốn có thể mua gì thêm là mua hết cho các em.

Về rồi tôi vẫn còn bị ám ảnh rất nhiều bởi những đôi mắt bé thơ đen tròn, những đôi chân trần rét buốt, những gương mặt lấm lem bùn đất, những cơ thể run rẩy theo từng làn gió lạnh thổi vào. Phải đến khi đó, tôi mới nhận ra, mình thật là may mắn vì mình đang được sống một cuộc sống hạnh phúc hơn rất nhiều người. Hạnh phúc không phải vì mình giàu có hơn người, mà vì mình đủ đầy tình yêu thương đủ niềm vui của cuộc sống thường ngày. Khi mình đang trong chăn ấm nệm êm, thì có những mảnh đời vô gia cư còn đang khốn khổ tìm kiếm những chỗ trú mưa, dưới tán cây rậm rạp, hay dưới mái hiên của các cửa hàng đã tối đèn, hoặc trong từng con hẻm nhỏ. Khi mình đang ăn những bữa cơm có thịt thì nhiều em bé bên ngoài kia đang vật vã với cuộc sống mưu sinh chỉ mong một ngày được no.

Khác với những lần đầu tiên đó, vào một ngày tôi được chị Hằng – giám đốc HCNS Tập đoàn thông báo tham gia một hành trình thiện nguyện hoàn toàn mới, với sứ mệnh khảo sát thực tế các gia đình có học sinh nghèo vượt khó ngay trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Với sự hỗ trợ và giới thiệu của Hội chữ Thập đỏ địa phương cùng các cô chú thương bệnh binh đã về hưu làm công tác thiện nguyện, chúng tôi được đưa đến thăm từng nhà và gặp mặt từng em nhỏ để hiểu kỹ hơn về mỗi hoàn cảnh đang cần trợ giúp.

Xe đưa chúng tôi đi từ sáng sớm. Điểm đến đầu tiên, chúng tôi có mặt tại một căn nhà nhỏ chừng hơn chục m2, nằm xiêu vẹo trong một con hẻm sâu, giữa một khu vực danh tiếng và phát triển bậc nhất tại Hà Nội là khu Mỹ Đình. Căn nhà bé thế mà có tới 6 người ở, trong nhà không có tài sản gì giá trị ngoài góc học tập của 4 đứa nhỏ với thùng sách vở dày cộp của các em. Bốn em nhỏ sống cùng hai ông bà đã già cả ngoài tuổi 80 và chẳng còn khỏe mạnh. Người ông của các bé đang mang bệnh hiểm nghèo – ung thư, người bà thì bị mù cả 2 mắt, đôi chân bại liệt không còn khả năng đi lại. Tôi tự nhủ thầm không hiểu 4 đứa trẻ sống thế nào? Chúng học hành thế nào? Bố mẹ chúng đâu mà ra nỗi này. Ông cụ hơn 80 tuổi chậm rãi chia sẻ với chúng tôi: “Mẹ chúng đã đi biệt xứ rất nhiều năm rồi, bỏ lại 4 đứa cháu với ông bà. Bố nó thì ra tù vào tội tới nay cũng không thấy tung tích nữa. Điểm tựa lớn nhất của các cháu chính là ông bà, và ngược lại ở cái tuổi gần đất xa trời này thì ông bà cũng chỉ có niềm vui lớn nhất còn lại là những đứa cháu chăm ngoan, học giỏi này”. Sau một hồi nói chuyện cùng ông, chúng tôi đã phần nào nắm được gia cảnh và những khó khăn của gia đình.

Tiếp tục lên xe di chuyển tới địa điểm thứ 2. Lần này, không còn hình ảnh căn nhà đơn sơ thể hiện sự nghèo khó, mà trước mặt chúng tôi hiện nên một ngôi nhà khá khang trang, trông có vẻ như nhà có điều kiện. Chúng tôi băn khoăn không hiểu sao Hội chữ thập đỏ lại tư vấn cho hoàn cảnh này. Rồi cả đoàn bấm bụng bảo nhau “Thôi! Cứ vào đã xem sao!”.

Chào đón chúng tôi là 2 ông bà tóc đã bạc phơ, tuổi gần 80. Người ông trông còn minh mẫn nhưng lại bị khiếm thính nên không nghe được những lời chúng tôi nói. Ông vốn là người chiến sỹ trong chiến trường cách mạng năm xưa, vì sức ép của bom mìn nên đôi tai bị hỏng. Người bà già yếu thì đôi chân cũng đã mỏi mệt vì suy tĩnh mạch chân. Mọi việc trong nhà dồn vào cô bé Phương Anh, học lớp 7, ngoại hình khá tốt, khuôn mặt xinh xắn nhưng có đôi mắt đượm buồn – tôi cứ ám ảnh mãi với đôi mắt ấy. Mẹ em mất sớm từ khi mới bắt đầu vào lớp 1, bố thì sa ngã con đường tù tội, gia đình bên nội không nhận, nên em phải ở cùng ông bà ngoại đến tận bây giờ. Hiểu được hoàn cảnh và như để đáp lại công ơn ông bà ngoại, Phương Anh luôn cố gắng học hành, từ lớp 1 đến lớp 7, năm nào cũng đạt học sinh giỏi và xuất sắc. Em còn được bầu làm chi đội phó ở trường. Toàn bộ đồng lương ít ỏi của người ông là thương binh cùng với đồng tiền kiếm được từ những gánh rau nhỏ của bà đi bán hàng ngày tập trung phục vụ cho việc học hành và sinh hoạt của em và ông bà. Ngoài ra, không còn nguồn thu nào khác.

Xe chúng tôi lại tiếp tục đi đến một vài địa điểm khác, mỗi nơi khảo sát để lại cho chúng tôi những cảm xúc đan xen nhiều suy ngẫm khác nhau. Gặp những cô bé cậu bé trong những ngôi nhà không giống nhau, nhưng đều có một điểm chung: nghèo mà vượt khó học giỏi, khiến tôi thấy cảm phục. Tôi tự nhủ với bản thân, mỗi sớm mai thức dậy, hãy nở một nụ cười thật tươi để cảm ơn cuộc đời đã cho ta sự may mắn vì được đủ đầy để ngắm nhìn và tận hưởng thế giới đầy tươi đẹp. Và không quên dặn mình phải luôn sống tử tế, thiện tâm, biết giúp đời giúp người, biết thực hành nhân ái, bởi trao yêu thương sẽ nhận lại rất nhiều yêu thương.

Tôi cũng thầm cảm ơn Quỹ Trăng Xanh, bởi những giá trị nhân văn cao đẹp, đã nâng bước cho rất nhiều học sinh nghèo vượt khó trên nhiều vùng miền của đất nước. Mỗi hành trình của nhà trăng không chỉ ý nghĩa với những người đang hoạn nạn, cần được trợ giúp mà còn gieo mầm yêu thương, lan tỏa đến khắp cộng đồng người Bách Việt. “Đủ nắng hoa sẽ nở, đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy”. Khi có tấm lòng vàng, chúng ta sẽ luôn là người hạnh phúc.

Hà Nội, 00:30 ngày 21/05/2020

Chiếc Ấm Sành Nở Hoa

Chiếc ấm sành nở hoa

Có một chiếc Ấm Sành sứt quai bị vứt lăn lóc bên vệ đường. Ấm Sành buồn lắm vì chẳng có ai làm bạn.

Một hôm, trời đang nắng bỗng đổ mưa to, đôi Bướm Vàng vội tìm chỗ trú. Ấm Sành rụt rè gọi:

– Các bạn ơi! Hãy vào trong lòng tôi này!

Đôi Bướm Vàng liền bay vào lòng Ấm Sành. Thật là một chỗ trú tuyệt vời, ấm áp và khô ráo. Mưa tạnh, đôi Bướm Vàng tạm biệt Ấm Sành và bay đi. Còn lại một mình, vừa buồn, vừa tủi thân, Ấm Sành khóc nức nở.

Mấy ngày sau, một cô bé đi qua, nhìn thấy Ấm Sành liền nhặt và đem về nhà. Cô bé đổ đầy đất vào lòng Ấm Sành rồi gieo xuống đó vài hạt giống.

Bỗng một hôm, Ấm Sành hốt hoảng kêu lên:

– Ối! Ối! Cái gì đang cựa quậy trong lòng tôi thế này?

Có tiếng đáp lại:

– Tôi đây! Tôi là hạt giống đang nảy mầm đây!

Thế rồi, ngày qua ngày, chiếc mầm cây lớn dần thành cây. Cây trổ lá xanh non mơn mởn và kết những nụ hoa màu hồng chúm chím. Chẳng bao lâu, nụ hoa xòe cánh thành bông hoa rực rỡ, tỏa hương thơm ngát. Các bạn ong rủ nhau bay đến để hút mật hoa. Các bạn bướm cũng bay đến, lượn quanh khóm hoa và reo lên:

Từ đó, Ấm Sành không còn buồn vì thiếu bạn nữa.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Hoa Tàn Hoa Nở Cũng Vô Tình

Vãn cảnh

Dịch nghĩa

Phân tích bài thơ Cảnh chiều hôm (Vãn cảnh) của Hồ Chí Minh

Theo thứ tự trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh “Cảnh chiều hôm” (Văn Cảnh) là một trong những bài thơ cuối tập, chỉ cách bài “Tân xuất ngục học đăng sơn” (Mới ra từ tập leo núi) chỉ có mười bài… Như vậy, lúc làm bài thơ này, nhà thơ bị giam cầm đã khá lâu, tâm trạng đã trải qua nhiều bức bối, phiền muộn. Tình hình thế giới và trong nước cũng đang có nhiều biến chuyển mau chóng, khiến cho chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy cảnh ngộ của mình trở nên không thể chịu đựng. Sau hơn nửa năm trời bị giam cầm và di chuyển “Quảng Tây giải khắp mười ba huyện, mười tám nhà giam đã ở qua”, cái khổ của cảnh lao tù có thể nói là đã tạm quen, nhưng nỗi khát khao được tự do, được hoạt động thì lại thêm cháy bỏng. Bài thơ này, và cả những bài thơ tiếp theo đều nói lên tâm trạng ấy

Theo đầu đề, đây là một bài thơ tả cảnh (Văn cảnh – Cảnh chiều hôm), nhưng thật ra, bài thơ lại không tả cảnh mà chỉ nhân cảnh để nói lên tâm trạng, đo là nổi bất bình trước cảnh ngộ và niềm khao khát tự do của người tù.

Thường thì trong những hoàn cảnh như thế này, bất cứ thời khắc nào trong ngày cũng khiến người ta suy nghĩ để cay đắng về cảnh ngộ của mình. Tuy nhiên, trong những thời khắc ấy, thì cái thời khắc khi chiều đỗ xuống vẫn tác động đến tâm trạng người ta nhiều và mạnh hơn cả. Lí do một phần có lẽ do thứ ánh sáng nhàn nhạt của đất trời trước khi sập tối, cái hơi lành lạnh của buổi chiều về dễ khiến người ta nhận ra: thế là một ngàu nữa đã trôi đi mất. Càng nhận ra cuộc đời mình là quý giá, là cần thiết, thì cảm nhận về sự uổng phí của một ngày bị mất đi ấy càng thêm rõ ràng và cay đắng.

Cho nên, nói đến cảnh chiều hôm ở đây chỉ là cái cớ, cái thời khắc, hơn là nội dung của bài thơ.

Thực ra, xét riêng câu thơ đầu, nếu gọi đó là câu thơ tả cảnh cũng được:

” Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ…”

(Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng)

Cảnh ấy là: Chiều đã xuống, hoa hồng đã rụng xuống. Coi đó là câu thơ tả cảnh thực, ta có thể hình dung ra bức tranh mà người tù đang nhìn thấy qua cửa sổ (hoặc khe hở nào đó) của phòng giam: trời đang sập tối, bóng tối càng xuống nhanh của một ngày đang độ mùa mưa, không gian cả trong và ngoài phòng giam đều âm u (ngay trước bài này là bài Thanh minh lất phất mưa phùn.. và sau đó là hai bài là bài Mưa lâu: Một ngày nắng hưởng, chín ngày mưa); trên mặt đất có mấy cây hồng ủ rũ với những bông hồng đang tàn pha…

Có thể trước mắt người tù thi sĩ và chiến sĩ này, đang diễn ra cảnh hoa hựu tạ (hoa lại rụng) ấy thật… Nhưng nếu thật như thế thì cảnh này cũng chỉ là nguyên cớ làm nảy sinh một cảnh trong tâm trạng, ấy là:

” Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng…”

Thấy hoa hồng rụng là nghĩ đến hoa nở, ấy là để cảm nhận một quá trình: thấm thoắt thời gian trôi qua, cái gì cũng có thể chuyển dời, cái gì cũng trôi mất, hết nở rồi tàn…

Trong câu thơ này, cần lưu ý từ hựu (nghĩa là lại, lại lần nữa). Việt nhìn thấy hoa hồng tàn ở đây không chỉ mới có trong buổi chiều hôm nay, cũng không phải chỉ có từ chiều hôm qua. Chính cái điều lại nở, lại tàn là gây ấn tượng mạnh cho nhà thơ lúc này.

Vì đó cũng là chỗ xuất phát cho cảm hững của bài thơ. Cũng vì thế mà, khác với nhiều bài thơ tả cảnh khác của Hồ Chính Minh, sang câu thơ thứ hai, tác giả không chỉ tả cảnh nữa mà là ngẫm nghĩ về cảnh.

” Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình…”

(Hoa tàn hoa nở cũng vô tình…)

Câu này có thể được hiểu theo mấy cách. Cách thứ nhất là: Hoa nở rồi hoa tàn, đó là chuyện tự nhiên, hoa nào có ý thức gì về việc tàn hay nở. Cách hiểu thứ hai có thể là: hoa nở rồi hoa tàn, hoa là vật vô tri, vô tình, hoa nào quan tâm gì đến ai, nào biết gì đến tâm trạng như ta. Lại có thể hiểu theo cách thứ ba: hoa nở rồi hoa tàn, đó là việc của hoa, việc của tự nhiên, ta đâu có quan tâm đến điều ấy.

Đọc hai câu thơ này, cứ tưởng là thở của vị ẩn sĩ nào thời xưa đã đến, lúc cuộc đời gác bỏ ngoài tai, mọi chuyện đời đều chỉ là chuyện nước chảy, mây trôi, hoa tàn, hoa nở. Nhưng thật là thú vị, tưởng là vô tình, nói là vô tình, mà lại hữu tình, rất hữu tình.

Hoa tưởng vô tình nhưng lại đưa hương đến tận nhà giam, đến tận người tù để kể với người tù nỗi bất bình của mình. Người tưởng vô tình lại đón được hương hoa từ bên ngoài vào ngục, lại lắng nghe được tâm sự của hoa. Như vậy, giữa hoa và người đã diễn ra một sự cảm thông chứ không có gì là vô tình nữa, Hoa có thể vô tình, vô giác về sự bất công của xã hội, về cảnh ngộ của người tù nữa.

Còn lỗi bất bình? Nỗi bất bình của ai? Theo ý tứ câu thơ thì đó là nỗi bất bình của hoa, nỗi bất bình mà hoa, nhờ hương của mình làm tiếng nói mang đến kể với người tù. Nhưng nỗi bất bình nào? Có phải đó là nỗi bất bình về chuyện hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng? Nhưng đã nói rồi kia mà: Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình!

Thế thì, ở đây chỉ còn lại là nỗi bất bình của hoa về người tù, về cảnh ngộ của người tù. Phải chăng nỗi bất bình của hoa là thế này: tại sao, giữa hoa và người, có kẻ ở ngoài trời, có kẻ ở nhà giam? Và con người ở trong ngục kia, có tội gì mà phải bị giam cầm?

Hoa ra, đây cũng lại chính là nỗi bất bình của nhà thơ.

Cả bài thơ bốn câu, nhẹ nhàng, gần như vu vơ, chỉ để dồn vào hai tiếng cuối cùng bất bình. Đọc cả bài thơ, ấn tượng sau cùng, mạnh nhất, vẫn là hai tiếng: bất bình. Hẳn nhà thơ, khi viết bài thơ này, cũng chỉ là nói lên hai tiếng: bất bình. Đó là nỗi phẩn uất nhất, bức xúc nhất của nhà thơ lúc này, điều nhà thơ muốn kêu lên giữa nhà giam, muốn nói to lên giữa cuộc đời lúc này. Lời của bài thơi dịu, mà ý nghĩa của bài thơ rất mạnh là thế.

Từ dây, ta nhìn lại ý nghĩa của mấy từ này: tố bất bình (nói lên nỗi bất bình). Theo chữ nghĩa thì chủ ngữ của mấy tiếng này là hoa hương (hương của hoa nói lên nỗi bất bình).

Tuy nhiên, ở đây không chỉ là tiếng nói tố cáo của hoa hương mà chủ yếu, là tiếng nói của người tù. Người tù nói nên nỗi bất bình của mình. Ở đây, hương hoa chỉ là tác nhân làm bùng lên nỗi bất bình trong lòng người tù, khiến người phải thốt lên. Hay nói cách khác, hương hoa làm cho nỗi bất bình đã có sẵn trong lòng người từ phút chốc bùng lên, da diết, cháy bỏng hơn.

Trong bóng chiều hôm đang xuống, nhìn cảnh vật ngoài trời mà chỉ thấy hoa mai khôi, chỉ nhận ra hoa mai khôi đã tàn, ấy không phải chuyện ngẫu nhiên. Vì sao? Hẳn vì hoa hồng là loài hoa đẹp, tượng trung cho cái đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc.

Nhìn hoa hồng tàn mà liên tưởng đến hoa nở, hoa tàn, ấy cũng không phải ngẫu nhiên. Thời gian đang trôi qua ngày này qua ngày khác, phí uổng trong lao tù.

Nhìn hoa hồng mà nghĩ đến hương hoa hồng, ấy càng không phải là ngẫu nhiên. Thực tế thì có lẽ ngồi trong trại giam khó mà ngửi thấy hương hoa hồng từ ngoài bay vào. Nhưng đây thì là hương hoa bay thấu vào trong ngục. Noi thấu là để nhấn mạnh, xa xôi cách trở thế, nhà tù có thể ẩm thấp hôi hám thế, hương hoa vẫn cứ bay tới tận nơi. Có được cái thấu ấy là bởi vì không những hoa hồng vốn có hương thơm mà còn bởi lòng người sẵn mở ra để đón nhận hương thơm. Đến đây ta lại càng hiểu thêm tấm lòng của Bác đối với cuộc đời, hiểu thêm sự đồng cảm tri âm tri kỷ của tâm hồn nghệ sĩ Hồ Chí Minh với tất cả các sự vật thân thiết với con người. Một sự đồng cảm tuyệt vời!

Những đón nhận hương hoa rồi không chỉ để thưởng thức hương hoa, mà còn để nhận rõ thêm nỗi bất bình của mình. Vì sao? Vì hoa hồng là đẹp, là hạnh phúc, là tự do. Càng thấm thía hương thơm của hoa hồng, càng phẫn nộ trước cái xấu, cái ác đang có trong cuộc đời, càng nhận ra nỗi bất hạnh của mình. Bởi vậy, trong bao nhiêu điều mà hoa hồng có thể gợi lên cho mỗi người, nhà thơ đã bắt gặp điều tâm đắc nhất: khát vọng tự do.

Vãn Cảnh là một tác phẩm đặc sắc của Hồ Chí Minh. Ông mượn cảnh để bộc lộ tâm trạng cô đơn, buồn chán của mình khi bị giam cầm. Đồng thời qua bài thơ chúng ta cảm nhận được niềm mong nhớ nhân dân và một tâm hồn kháng chiến mãnh liệt của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi! Theo chúng tôi

1001 Bài Thơ Hoa Phù Dung Sớm Nở Tối Tàn Hay Nhất

(iini.net) Tổng hợp những bài thơ hoa phù dung hay nhất. Đó là những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của loài hoa Phù Dung (còn có tên gọi khác là Mộc Liên) nhưng sớm nở tối tàn..

THƠ LỤC BÁT: TỰA ĐÓA PHÙ DUNG

Thơ: Hoàng Cửu Long

Xa rồi còn nhớ không anh Lời xưa hẹn ước nỡ đành quên sao Ái ân một giấc chiêm bao Để rồi lạnh lẻo nghẹn ngào lệ rơi

Tôi như cánh mỏng bên trời Phất phơ trong gió tả tơi một chiều Còn đây thân xác cô liêu Bên men tình ái hắt hiu đợi chờ

Người đi rời khỏi cơn mơ Cho tôi ngóng đợi thẩn thờ mình ên Giờ đây một bóng chênh vênh Như hoa sớm nở vội quên ngày tàn

Mịt mù đêm tối dần sang Tỉ tê khép cánh ngỡ ngàn mà đau Tôi như hoa dại thắm màu Đón tia nắng ấm rồi vào đêm đông…

THƠ HOA PHÙ DUNG: LỖI PHẬN

Thơ: Hoa Cỏ May

Sống hoài niệm xa thì khắc mãi Nợ tang bồng chữ ái đã trao Người đi vội vã tiếng chào Phù dung một đóa tại sao nhói lòng

Ông vỡ tổ đùa trong cánh nhụy Rót mật đời thâm thúy lỡ say Niệm xưa lối cũ bao ngày Hoài vương niềm nhớ chẳng lay nỗi mình

Trước giông bão bình minh nào tỏ Tan mất rồi ở đó phải không Cánh hoa lịm sắc phai nồng Rụng rơi xuống cội tàn đông vỡ òa

Kỷ niệm ướt nụ hoa tím chảy Câu hứa nào mãi cháy trong tim Chốn xa lạc giấc mơ tìm Mùa yêu đã hẹn giờ im mất rồi

Về nơi ấy đành thôi lỡ hẹn Ta với người duyên bén lặng câm Bướm ong lỗi phận tơ tằm Nguyệt tơ đào mãi dạ thầm nhớ nhau.

ĐOÁ PHÙ DUNG

Thơ: Khúc Trăng Thơ

Xin anh hiểu quán tình chưa khép lại Dẫu đời em đầy rẫy những đau thương Đời kinh qua bao u uất dặm trường Trong sâu thẳm còn vấn vương tình ái

Xin anh hiểu đoá phù dung si dại Mang nặng tình ôm mãi bóng một người Môi héo tàn cố nở nụ cười tươi Nhưng một góc trái tim đang rướm máu

Xin anh hiểu ái tình trong vô vọng Là niềm đau chôn giấu tận đáy lòng Lê chân buồn lạc bước giữa rêu phong Em nào muốn khơi lòng tình lữ khách

Xin anh hiểu dòng đời dù tất bật Em co mình ôm trọn giấc đêm đêm Trong cơn mơ cứ ngỡ bàn tay êm Ru vỗ về đưa em vào cõi mộng.

KIẾP PHÙ DUNG

Thơ: Nguyễn Minh Nhật

Chiều buông xuống cánh phù Dung khép lại Chẳng kịp chờ ân ái thật đáng thương Một thoáng qua đã chồng chất buồn phiền Sáng khoe sắc,chiều tàn hương tình ái

Đời ai chẳng một đôi lần trót dại Vết thương tâm đã theo mãi kiếp nguời Cỏi dương trần vẫn cố gượng cười tươi Trong sâu thẳm con tim còn rỉ máu

Đời ai chẳng một đôi lần thất vọng Nỗi niềm đau chôn chặt tận đáy lòng Chỉ một mình chống chọi với cuồng phong Không phiền lụy ngời thân hay lữ khách

Cố mảnh bước theo vòng quay tất bật Lại khóc thầm ôm gối chiếc từng đêm Đã từng mơ một mái ấm êm đềm Khi tĩnh giấc chỉ là cơn ảo mộng.

Ngẩn ngơ trước con đò ngang lạc bến Nụ cười tươi thắm dệt nắng chiều thưa Mái chèo khua chấp chới dưới rặng dừa Xao xuyến quá có chồng chưa em hỡi!

Trăng huyền hạ mùa đông chưa kịp tới Vạc kêu sương chờ đợi kẻ sang đò Tiếng vọng buồn hiu hắt đóa hoa yêu Chiều lặng lẽ người xưa ơi có hiểu!

Bến sông cũ cung đàn ai lạc điệu Đóa phù dung nắng chiếu ngả phai màu Nở rồi tàn phận mỏng xót tim đau Nàng thiếu phụ lời ru nao nao nhớ

Thương cô lái chuyện tình yêu một thuở Gánh muộn phiền tan vỡ mộng phù du Tiếng gọi đò năm cũ sớm mịt mù Sao người bảo phù dung luôn tươi thắm

Kẻ phiêu lãng trên nẻo đường vạn dặm Có đợi chờ một sớm ngắm phù dung Chuyện tình yêu có mong lối tương phùng Phận thuyền quyên tình chung không lẻ bóng.

Còn cập nhật..