Top 3 # Bài Thơ Du Xuân Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Du Xuân Qua Những Vần Thơ

Vẻ đẹp và sức sống mùa xuân luôn tạo cảm hứng cho các văn nghệ sĩ.

Tác giả Nguyễn Bình, hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh được biết đến với những áng thơ đi vào lòng người bởi chất giọng nhẹ nhàng, tình cảm. Với ông, xuân đến mang nét đẹp dịu dàng với những lời thầm thì chất ngất yêu thương: “Mùa xuân nói lời thương nhớ/Hạt mưa bụi vương tóc mềm/Chồi non xanh bên khung cửa/Mộng mơ lúng liếng mắt em” (Lời mùa xuân).

Trong thời khắc đầy sức sống của đất trời, bên khung cửa xuất hiện  hình ảnh của cô gái đang thả hồn với thiên nhiên. Những hạt mưa nhẹ nhàng vương trên mái tóc, những chồi non căng tràn sức xuân. Thiên nhiên như hòa cùng cảm xúc với con người. Ánh mắt cô gái mộng mơ, háo hức muốn nói lên lời tương tư ngọt ngào. Mùa xuân là mùa của ước hẹn, đôi lứa thường tìm đến nhau gửi trao men tình dịu ngọt.

Trong bài thơ “Đêm lá hát” nhà thơ Cao Xuân Thái vẽ nên khung cảnh mùa xuân thật đẹp và lãng mạn. Khi lửa tắt chỉ còn than hồng âm ỉ, trai gái xích lại gần nhau và thổn thức cùng tiếng kèn lá. Trong những âm thanh du dương, bay bổng, em tựa vào anh để rồi chất ngất trong niềm hạnh phúc: “Mỗi mùa xuân búp lộc lại trùng trùng/Hát mãi chiếc lá không còn héo rũ/Em tựa và anh ngắm ngôi sao mất ngủ/Đang lịm đi trong thăm thẳm lòng trời…” (Đêm lá hát – Cao Xuân Thái).

Xuân đến! mỗi nhà thơ dành cho xuân những lời giới thiệu riêng. Thi ca là cả một trời ngôn ngữ yêu thương, mong ước để thi nhân cảm tác, dâng hiến cho đời những thanh âm tuyệt diệu. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, Ngọc Hiệp (hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh) khẽ hỏi người con gái và dường như đó là cái cớ để tác giả ngỏ lời yêu đương: “Em có nghe mùa xuân/… Em có nghe rừng cây/Mở lá mầm đón gió/Chim bay về làm tổ/Ríu rít đôi, từng đôi” (Thầm thì mùa xuân).

Còn Nguyễn Tuấn miêu tả mùa xuân thật tỉ mỉ, tinh tế: “Xuân đã tới như cây đầy nhựa ứa/Lành vết đau rạn nứt cuối đông tàn” (Xuân). Mùa xuân trong thơ Nguyễn Tuấn là liều thuốc diệu kỳ chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn, mang theo nguồn sinh khí mới, tràn đầy sức sống.

Xuân đến đồng nghĩa với mùa của những lễ hội. Hòa vào không gian tuyệt đẹp ấy, các cô gái xúng xính trong bộ váy mới, đôi má ửng hồng ngượng ngùng, bẽn lẽn: “Thêm một chút má hồng/Một đôi môi thắm đỏ/Xấu hổ gì đẹp quá/Xuân đang về bên ta”  (Hội làng – Nguyễn Hữu Dực).

Dòng người nô nức chen chân bước vào đêm hội, lời ca, tiếng nhạc, điệu múa làm bừng thêm sức xuân. Không gian mùa xuân rộn ràng xua đi cái tĩnh mịch thường ngày của màn đêm núi rừng: “Trai làng trên chân xòe trái núi/Gái bản dưới ngực nở trái đồi/Tìm nhau qua ánh mắt/Mời nhau uống câu hát người Tày” (Đêm hội – Tạ Bá Hương).

Thi sĩ thật đa tình và dường như mùa xuân cũng làm cho những nỗi lòng ấy thêm nhiều xúc cảm. Ngắm nhìn một dáng hình bước đi trong làn mưa xuân, Ngọc Hiệp chợt thổn thức và ước ao: “Tôi muốn hồn tôi thành mưa bụi/ Vương trên gò má đỏ hây hây/Mưa xuân của trời dành cho đất/Như tình em đến để tôi say?” (Mưa xuân).

“Nàng xuân” mênh mông trong vô vàn cung bậc xúc cảm của thi nhân. Mỗi tác giả nhìn nhận, cảm tác về xuân, gửi gắm tâm hồn vào xuân với một nét riêng, hết sức phong phú: “Đông giấu heo may vào núi/Xuân bừng lộc biếc chồi non/… Mưa xuân giăng vào nỗi nhớ/Dáng hoa như nét ai cười” (Nét xuân – Phạm Ngọc Khuê).

Mùa xuân luôn đồng điệu với thi ca và hương sắc mùa xuân là xúc cảm để các thi sĩ mặc sức say sưa, trải lòng. Thiên nhiên trong mùa xuân giống như tấm gương soi chiếu tâm hồn, để từ đó làm lên một cuộc du xuân trong thơ vốn nhiều sắc màu, thanh âm, ý vị.

Phân Tích Bài Thơ Cảnh Ngày Xuân Của Nguyễn Du

Được coi là một trong 4 bức tranh tứ bình trong kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” có thể nói là một trong những đoạn thơ tả cảnh xuất sắc nhất của tập truyện này, cũng là một trong những đoạn thơ tiêu biểu, đặc trưng của cảnh mùa xuân trong thơ ca Việt Nam. Mở đầu đoạn thơ là cảnh báo xuân tươi đẹp:

Hình ảnh chim én bao giờ cũng là biểu tượng của mùa xuân. “Én báo xuân sang” đàn én bay về bao giờ cũng báo hiệu cho mùa xuân đã tới. Ở đây đàn én đã chao liệng qua lại giống như con thoi đưa trên khung cửi chứng tỏ rằng mùa xuân đang vào những ngày giữa tiết. Để minh chứng thêm cho điều đó, tác giả đã sử dụng số từ để chỉ thời gian “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Như vậy, đã qua 60 ngày kể từ ngày lập xuân, cũng có nghĩa là đã đến tiết thanh minh. Hai câu thơ sử dụng bút pháp tượng trưng để giới thiệu về tiết thanh minh.

Trong cảnh xuân tươi đẹp ấy, cỏ non mượt mà nhưng những chiếc thảm xanh ngắt trải đến tận chân trời. Mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, hình ảnh cỏ xanh vốn luôn khiến cho con người có một cảm giác đầy sức sống, ở đây cỏ lại trải hút tầm mắt đến tận chân trời, khiến cho người đọc cảm giác mùa xuân mênh mang, bất tận về trong đất trời.

Dưới đất là cỏ non xanh mượt, bên trên lại là những bông hoa lê điểm trắng trên cành. Hoa lê trắng tinh gợi lên cảm giác tinh khôi, thanh khiết, ngọc ngà; đồng thời hoa lê cũng gợi lên vẻ cao sang, quý phái cho bốn bề vây quanh. Hoa lê điểm xuyết trên cành như e ấp chào đón trời xuân. Nếu ở hai câu thơ trên, tác giả sử dụng bút pháp tượng trưng thì hai câu thơ dưới, bút pháp chấm phá, một nghệ thuật đặc trưng của phương Đông đã được tác giả vận dụng triệt để để phác họa nên một bức tranh mùa xuân với những nét nhấn nhá hài hòa mà màu sắc.

Đây có thể nói là hai câu thơ xuất sắc nhất để tả về cảnh sắc ngày xuân trong truyện Kiều. Giống như khi tả về mùa hè, tác giả viết “Dưới trăng quyên đã gọi hè – Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”. Hay khi viết về mùa thu, tác giả lại tả “Long lanh đáy nước in trời – Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Còn khi tả về mùa đông, tác giả viết “Sen tàn cúc lại nở hoa – Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”.

Ở khổ thơ tiếp theo, tác giả tập trung đặc tả quang cảnh con người và không khí ngày thanh minh. Thanh minh là một trong những ngày lễ lớn của năm. Vào ngày này, con cháu dù ở đâu cũng về đi tảo mộ, thăm mộ ông bà, tổ tiên, dọn cỏ thắp hương. Trong một ngày lễ lớn bao giờ cũng có hai phần là phần lễ và phần hội. Lễ ở đây là con người đã tiến hành tảo mộ, hương khói cho các cụ; còn hội là phần cho tác nam thanh nữ tú giao lưu hò hẹn. Trong ngày thanh minh này, trai anh hùng, gái thuyền quyên đều hội tụ, xa gần yến anh tề tựu và đi chơi xuân. Trong số yến anh sắm sửa du xuân ấy, có cả bóng dáng xinh đẹp của các chị em nhà Kiều.

Trong không khí trời quang đãng của ngày thanh minh, trai gái thanh lịch đi lại dập dìu ngựa xe. Người người từ muôn phương đổ về tạo thành một cảnh tượng vô cùng tấp nập. Thêm vào đó là cảnh hương khói nghi ngút, tro tiền bay phất phơ trên bầu trời, tất cả tạo nên một không gian vô cùng huyên náo, nhộn nhịp. Một bức tranh sống động mà trong đó từ cảnh vật đến con người đều không ngừng chuyển động, dịch chuyển.

Ở khổ thơ cuối cùng cũng là lúc kết thúc một ngày hội, ấy là khi mặt trời đã dần lặn về phương Tây, hội cũng đã kết thúc, chị em cùng dắt tay nhau ra về. Cảnh tượng thẩn thơ bước về gợi lên sự tiếc nuối buồn bã của con người sau khi trải qua một ngày vui mà không nỡ phải chia tay ra về.

Lúc này, chị em Kiều cũng thong dong thả bước về nhà vừa ngắm xem khung cảnh hai bên đường. Có lẽ vào lúc thả bộ về thế này, nàng Kiều mới có tâm trạng để quan sát và ngắm nhìn cảnh vật xung quanh từ con suối, cây cầu đến phong cảnh hai bên đường. Một loạt các từ láy được sử dụng xen kẽ: “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” vừa gợi một nhịp điệu nhẹ nhàng, chầm chậm lại vừa gợi nên nét gì đó trầm mặc, buồn bã, sầu tư. Cảnh vật như vậy hay có lẽ đó là do tâm trạng của con người đang chùng xuống “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Cách nhìn nhận của Kiều như báo hiệu trước một điềm không vui nào đó có thể xảy đến, và sự thực đúng là như vậy, đây cũng là tiền đề cho những giọt nước mắt khóc cho Đạm Tiên, cho cuộc gặp gỡ định mệnh với chàng Kim Trọng và cho cả một cuộc đời đầy biến cố của Thúy Kiều về sau.

Đoạn thơ khép lại trong sự tiếc nuối của chị em Kiều cũng là lúc cảnh chiều buông xuống kết thúc ngày lễ thanh minh. Bằng 18 câu thơ với những bút pháp nghệ thuật đậm chất phương Đông, Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh ngày xuân vừa mộng mơ, lãng mạn lại có những cảm xúc vui buồn lẫn lộn, làm người đọc đi theo từng mạch cảm xúc của bài thơ không thể dứt ra. Đúng là tả cảnh 4 mùa, không ai có thể qua được đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Cảm Nhận Về Bài Thơ Khúc Thụy Du Của Nhà Thơ Du Tử Lê

(iini.net) Vì yêu thích KHÚC THUỴ DU mà tôi đã đi tìm tác giả. Biết bao công sức, lúc đầu tưởng như vô vọng. Nhạc sĩ nào đã phổ nhạc ca khúc này, không thấy ai nhắc tới. Chỉ biết lời là của nhà thơ Du Tử Lê. Tên thật của ông là Lê Cự Phách sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Sau năm 1954 ông cùng gia đình di cư vào Nam sống ở Hội An, sau về Đà Nẵng.

: Cảm nhận về bài thơ Người Con Gái Việt Nam của nhà thơ Tố Hữu

Lớn lên tốt nghiệp đại học văn khoa Sài Gòn. Ông sáng tác thơ khá sớm từ khi 14 tuổi. Do thế thời – thời thế ông đã từng dạy học ở Sài Gòn. Rồi đăng lính là sĩ quan trong quân lực VNCH. Sau ngày 30/4/1975 theo chế độ VNCH di tản sang Mỹ. Khi còn trẻ Du Tử Lê yêu một cô sinh viên trường Dược tên Thụy Châu, sau này họ đã thành vợ chồng. Thụy Du là tên ghép của hai người. Mối tình của họ không lâu thì tan vỡ. Tháng 3 năm 1968 bài thơ ra đời rất dài có tới hàng trăm câu, viết trong sự ám ảnh của con người về chết chóc và chiến tranh. Những người không đầu, đôi chân lạnh giá, bàn tay quờ quạng… bài thơ đã bị cấm phát hành. Như một định mệnh không do con người quyết định được.

Năm 1985 nhạc sĩ Anh Bằng tìm gặp Du Tử Lê, sau khi trao đổi, bài thơ được gọt tỉa nỗi ám ảnh về sự sống, cái chết tiếng kêu đau thương nghẹn ngào được Anh Bằng (1926 – 2015) lược bỏ đi rất nhiều. Với kinh nghiệm rút ra từ 650 ca khúc Anh Bằng đã biến nỗi ám ảnh đó thành thế giới của tình yêu. Thế giới của những giấc mơ hư mà thực… thực mà như mơ.

” Anh là chim bói cá Em là ánh trăng ngà”

Từng nét nhạc óng lên như vệt nắng lấp lánh thả xuống mặt hồ trong vắt làm bật lên những âm thanh dịu ngọt, diệu kỳ rót thẳng vào trái tim chúng ta. Lời thơ chứa chất đầy tâm sự của một con người đang chuẩn bị sang bên kia thế giới. Một thế giới rỗng không, trống vắng. Đó chính là KHÚC THUỴ DU (khúc ru cho Thụy) mà tôi đã nghe cả ngàn lần mà chưa bao giờ nhàm chán.

Nghe ca khúc tôi hình dung ra ngày ấy họ yêu nhau, Thụy vào trường đại học, còn anh lên đường ra mặt trận. Họ vẫn liên lạc tình cảm qua những lá thư khi đầy vơi hờn dỗi, lúc mãnh liệt cồn cào. Cô yêu anh và anh cũng yêu cô tha thiết. Cô rất yêu màu áo xanh của người lính. Những gian lao trên nắng gió thao trường. Có lần đơn vị anh hành quân qua gần nơi cô học. Anh bỏ ba lô xuống là chạy bộ một mạch hơn hai ki lô mét đến tìm cô, trong lúc trời mưa to gió lớn, chỉ để nhìn người yêu một lát thôi. Sau đó lại vội vã trở về đơn vị nhịn đói tiếp tục hành quân. Trong mắt cô hình ảnh người lính dầm mưa đến với cô, khiến nước mắt cô cứ trào ra không sao kìm nén được. Còn anh nắm tay truyền cho cô tất cả những khát khao cháy bỏng nơi con tim mình đang có. Ở cái tuổi mà họ chưa dám hôn, chưa một lần được hôn. Trong tim cô hình ảnh anh lính trẻ hồn nhiên mờ dần trong màn mưa với đôi giày bết bùn nặng trĩu. Anh ra mặt trận những lá thư thưa dần, thưa dần… bởi chiến tranh ngày càng khốc liệt.

Nơi chiến tuyến xa xôi, giữa điểm cao nơi hai bên giành nhau từng tất đất. Anh ngã xuống máu đẫm ướt một bên ngực. Trong hôn mê anh thấy cô ôm anh, lay gọi tên anh. Cô hôn anh, nụ hôn cháy bỏng nồng nàn. Anh bừng tỉnh, biết mình đang dần sang bên kia thế giới… Anh thầm tự bảo:

Cô nữ sinh vẫn ôm anh trong vòng tay trìu mến, vẫn lay gọi anh từng hồi… bởi khi anh ra đi cô đã thề sẽ yêu anh mãi mãi. Mặc dù trong thực tế họ chưa nói với nhau về yêu thương, gắn bó. Đó là mối tình đầu của anh. Với cô có lẽ cũng là lần đầu tiên cảm nhận một tình cảm. Trên mặt trận thỉnh thoảng thư cô vẫn đến. Cô nói cô yêu anh và chỉ một mình anh thôi. Còn giờ cô đang ở bên, anh muốn nói:

Sâu lắng, chìm rơi anh đã ra đi không bao giờ trở lại. Một bên là sự vô thường, còn bên kia là sự sống và tình yêu. Thời gian cứ trôi đi như những chiếc lá rơi xuống cuộc đời, để cho những nhành xuân được đâm chồi nảy lộc như một lẽ tự nhiên của đất trời. Nhưng lòng ta sao cứ nghẹn lại… nghẹn lại!

Chỉ có nỗi buồn cay đắng mới hiểu nổi sự khổ đau của những trái tim yêu. Như khi bạn đứng trước gương, một người rất mực thương yêu của bạn đứng sau mặt gương đó, mong manh, rất gần…rất gần. Nhưng bạn sẽ không sao đến được. Như một ánh trăng ngà ngước nhìn tình yêu mà đau đớn.

Cảm ơn nhạc sĩ Anh Bằng và nhà thơ Du Tử Lê đã để lại cho chúng ta một nhạc phẩm thật nhân văn và tràn đầy cảm xúc.

KHÚC THUỴ DU (Viết lại theo lời của ca khúc)

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Khúc Thụy Du

I. Tìm Hiểu Về Nhà Thơ Du Tử Lê

– Du Tử Lê (1942-) tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Sau Hiệp định Genève, 1954, ông di cư vào Nam cùng với gia đình.

– Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa.

– Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau.

– Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai.

– Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cựu phóng viên chiến trường, thư ký toà soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn.

– Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải Thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972.

– Ngày 17/4/1975, Du Tử Lê cùng với Mai Thảo và Phạm Duy bị kết án tử hình vắng mặt trên đài phát thanh của Mặt trận giải phóng Miền Nam.

– Sau sự kiện 30/4/1975, ông tị nạn tại Hoa Kỳ. Hiện ông đang sống ở miền Nam California, tiếp tục nghề viết, và là nhân viên khế ước của đài tiếng nói Hoa Kỳ từ năm 1996.

– Ông cũng từng là chủ nhiệm các báo Việt ngữ Nhân chứng, Tay phải, và Văn nghệ ở Mỹ.

+ Các tác phẩm:

– Thơ Du Tử Lê (1964)

– Năm sắc diện năm định mệnh (1965)

– Tình khúc tháng mười một (1966)

– Tay gõ cửa đời (1970)

– Chung cuộc (cùng viết với Mai Thảo, 1969)

– Mắt thù (1969)

– Ngửa mặt (tiểu thuyết, 1969)

– Vốn liếng một đời (1969)

– Qua hình bóng khác (tiểu thuyết, 1970)

– Mùa thu hoa cúc (sách thiếu nhi, 1971)

– Sân trường mắt biếc (sách thiếu nhi, 1971)

– Chú Cuội buồn (sách thiếu nhi, 1971)

– Hoa phượng vàng (sách thiếu nhi, 1971)

– Một đời riêng (1972)

– Khóc lẻ loi một mình (1972)

– Chấm dứt luân hồi em bước ra (1993)

– Thơ tình (1996)

– Chỉ như mặt khác tấm gương soi (thơ 1997)

– Trên ngọn tình sầu (tập tuỳ bút, 2011)

– Xương, thịt đời sau, máu rất buồn (tuỳ bút, 2012)

– Biệt khúc (thơ, 2013)

– Tuyển tập thơ Du Tử Lê (2013)

– Giỏ hoa thời mới lớn (2014)

như con chim bói cá

tôi thường ngừng cánh bay

ngước nhìn lên huyệt lộ

bầy quạ rỉa xác người

(của tươi đời nhượng lại)

bữa ăn nào ngon hơn

làm sao tôi nói được

như con chim bói cá

tôi lặn sâu trong bùn

hoài công tìm ý nghĩa

cho cảnh tình hôm nay

trên xác người chưa rữa

trên thịt người chưa tan

trên cánh tay chó gặm

trên chiếc đầu lợn tha

tôi sống như người mù

tôi sống như người điên

tôi làm chim bói cá

lặn tìm vuông đời mình

trên mặt đất nhiên lặng

không tăm nào sủi lên

đời sống như thân nấm

mỗi ngày một lùn đi

tâm hồn ta cọc lại

ai làm người như tôi?

tình yêu như ngọn dao

anh đâm mình, lút cán

thuỵ ơi và thuỵ ơi

không còn gì có nghĩa

ngoài tình anh tình em

đã ướt đầm thân thể

anh ru anh ngủ mùi

đợi một giờ linh hiển