Top 12 # Bài Thơ Đường Về Quê Mẹ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Về Quê Mẹ, Cảm Nhận Về “Quê Mẹ” / 2023

Hồi nhỏ, khi đang học tiểu học trường làng, một ngôi trường nhỏ vách đất mái tranh sát bờ sông Bồ, chỉ dạy học sinh từ lớp Năm đến lớp Tư (như lớp 1, 2 bây giờ), nỗi thắc mắc lớn nhất của mình là tên gọi của cái xóm nơi mình được mạ sinh ra, bà ngoại chôn nhau cắt rốn và nuôi dạy khôn lớn về sau. Khi thì nghe các cậu các dì gọi tên Xóm Nhì (lớn lên một chút thì biết thêm tên Lai Trung Nhì, tên đầy đủ là Xóm Nhì làng Lai Trung, dù chưa biết cái làng Lai Trung ấy ở đâu cả). Khi khác lại nghe gọi là Xóm Phù Lai Cà, còn nghe thêm có làng Phù Lai Chè, Phù Lai Ớt ở đâu đó. Rồi một hôm nghe được cái tên làng dài lòng thòng, đọc mỏi miệng: Tân Xuân Lai Thượng Thọ. Cái tên này được hình thành bởi tên của 5 xóm (được tách ra từ 5 làng gốc: Lai Thành, Xuân Tùy, Lai Trung, La Vân Thượng, và Cao Xá) hợp thành làng mới, gồm Tân Thành (một xóm của làng Lai Thành ở thị xã Hương Trà), Xuân Tùy (của làng Xuân Tùy ở xã Quảng Phú), Lai Trung Nhì (của làng Lai Trung ở xã Quảng Vinh), La Vân Thượng (của làng La Vân Thượng cùng xã Quảng Thọ) và Tân Thọ (còn gọi là Xóm Chuối, một xóm của làng gốc Cao Xá ở Phong Điền). Cái tên có ý nghĩa thật đẹp, ai biết sơ từ Việt gốc Hán đều đoán ra. Nhưng chẳng may, cái tên dài ngoằng ấy không “thượng thọ”, sau năm 1975 đã được gọi gọn là Tân Xuân Lai, hay và đẹp. Và mình luôn mơ “mùa xuân mới lại về” trên quê ngoại.

Làng Tân Xuân Lai Thượng Thọ tuy rộng dài vậy nhưng đôi bàn chân nhỏ bé của mình đã chạy khắp, từ xóm La Vân Thượng, Xuân Tùy, Tân Thành (còn gọi là Xóm Bàu vì có cái bàu nước) đến Xóm Chuối, đâu cũng có bạn học. Xóm Bàu có Dương Văn Trình, con ông De, về sau tham gia cách mạng, làm trợ lý quân lực Huyện đội Quảng Điền; Xuân Tùy có bạn Bửu, sau này làm Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Quảng Điền; Xóm Chuối có bạn Hồ Lai Hải, Hồ Lai Thủy, con của ông Hồ Trình, một tay chèo đua khét tiếng toàn huyện, hai bạn ấy sau này lên Huế học rồi trở thành giáo viên, có anh Hoàng Ngọc Vĩnh, lớn lên tham gia cách mạng, lần lượt làm Bí thư Chi bộ xã Quảng Ninh, sau năm 1975 làm Bí thư Huyện ủy Quảng Điền, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế rồi về hưu, cùng lứa với một bạn học khác là Nguyễn Đình Sắc (học rất giỏi, sau này vào Nam làm giáo viên) và Nguyễn Đình Sau cùng làng Phước Yên (khi tham gia cách mạng đổi tên là Nguyễn Thất Sáu, từng là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Quảng Điền, hiện là Chủ tịch Hội CCB huyện). Riêng Phe Nhì (một tên gọi khác của Xóm Nhì làng Lai Trung) thì toàn là bà con nội ngoại và hàng xóm cả nên bạn học cũng là anh em bạn cũ lưu tồn từ thuở “chia trộm sẻ quà” (chia nhau đồ ăn trộm như ổi, xoài, mía, dái mít…, san sẻ cho nhau những món quà vặt của người lớn từ Huế về cho mà bọn trẻ lau hau chúng tôi thích vô cùng như bánh quy, kẹo nu-ga, mè xửng). Đôi chân mình còn chạy khắp xã Quảng Thọ, không tránh làng nào vì làng nào cũng có bạn học. Và điều quan trọng nhất lôi kéo những bước chạy của tôi là nhà bạn nào cũng có… trái cây ngọt dịu ngọt thanh, không cần ăn cắp, tranh giành với ai. Mặc dù sau mỗi buổi chạy chơi nhà bạn, ăn no ổi xoài chuối, thế nào cũng bị mạ cho ăn no đòn roi mây gác bếp, đau quắn mông nhưng lạ thay, ngày mai quên hết. Nhớ bạn, thèm chơi, ta lại chạy. Chiều no xoài ổi, tối no đòn! Sau mỗi trận đòn, mạ lại đem rượu thuốc ra xoa bóp chỗ đau rồi ngồi ru cho mình ngủ, khi thì ca dao, lúc là những bài thơ nghe hay lạ lùng, nghe là thuộc… vài câu của “cậu Tố”. Cậu Tố, cậu Lành chỉ là một trong nhiều cách gọi về Nguyễn Kim Thành – nhà thơ Tố Hữu. Có người gọi là anh Tố, anh Lành hoặc chú Tố, chú Lành, tùy theo mối quan hệ của từng người với ông. Trong bài này, tôi xác lập mối quan hệ giữa nhà thơ với người yêu thơ nêu ra những đồng cảm với bài “Quê Mẹ”.

Lên Trung học đệ nhất cấp (THĐNC, tương đương THCS bây giờ), mình lên Huế học trường Hàm Nghi, lên lớp Đệ Ngũ được chuyển qua trường Gia Hội mới thành lập nên tụi mình là lứa học sinh đầu tiên của trường này. Hồi ấy, học sinh THĐNC được học ngày hai buổi từ thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ sáu, riêng thứ năm chỉ học một buổi. Thứ bảy và chủ nhật nghỉ học, về nhà. Đường về nhà có khi được đi xe đò Huế – Hương Cần, thường gặp và đi xe chú Phò. Từ chợ Hương Cần về nhà dài chừng 3km toàn đi bộ, qua hai bãi tha ma, sợ chết khiếp! Chân chạy tít mù, tay nắm quyết định tâm ấn, miệng niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cứ thế về nhà mỗi tuần. Có một hôm về sớm, qua khỏi cầu Hương Cần, gặp ngay ông Cai Bân, một chức việc của xã Quảng Thọ. Ông này dữ dằn khét tiếng, dân làng xã rất sợ, còn mình mỗi lần gặp lại bị ông xách vành tai!” Lần này, biết khó thoát, ráng giữ bình tĩnh, mình đi tới trước mặt ông ta, vòng tay thưa chú. Không như mọi khi, lần này ông cười rất tươi, đưa cho mình trái quýt Hương Cần, một thứ trái cây mà trẻ già quê mình đều thích vì vị ngọt thanh. Mình cám ơn rồi chạy vù đi, qua khỏi bãi tha ma nối giữa Phe Kiền và làng La Vân Thượng khi nào chẳng hay, không cần bắt ấn, niệm Phật. Thở phào hết sợ, bèn bóc trái quýt ra ăn. Vị ngọt dịu thanh của nó làm mát tận ruột gan. Bỗng dưng trong đầu mình vang lên câu thơ “Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt”. Bây giờ có nhiều loại quýt khắp trong nước, quýt ngoại tràn lan thị trường trái cây bán dịp ngày rằm, mồng một âm lịch. Có loại ngọt như đường, loại ngọt ngọt chua chua, nhưng không có vị ngọt dịu thanh nào bằng quýt Hương Cần mình được ăn từ thuở nhỏ. Chắc chắn nhà thơ cũng từng, như hàng vạn người ở Thừa Thiên Huế từng thưởng thức hương vị tuyệt vời của trái quýt Hương Cần trồng ở Phe/ Giáp Kiền ngày xưa, nhưng chỉ có ông mới rung cảm viết nên câu thơ Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt. Còn nữa, trên câu ấy là câu Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà.

Ơ mà ngon thật món mắm cà quê ta! Cà ở làng Phù Lai có hai loại: loại to như cái chén (bát) ăn cơm là cà bát, loại này mạ không dùng làm mắm, chỉ dùng để hấp chín rồi dằm với nước mắm chanh tỏi pha chút đường, ăn nhức răng. Thầy Phú, thầy Quý dạy ở trường tiểu học, buổi trưa ở lại ăn cơm tháng tại nhà mình, trưa nào cũng đòi ăn món cà bát chấm nước mắm chanh tỏi ớt đường của mạ làm. Riêng món mắm cà được làm từ loại cà nhỏ cỡ hột mít, tròn thúc lúc. Hái cà về, mạ chăm chút cắt bỏ cuống cà rồi đem phơi nắng, độ vài hôm cà khô dần. Khi cà khô vừa độ, mạ đem bỏ vô rổ, đậy vải lên cho cà dịu nắng. Mắm cá nục mạ đã làm sẵn từ mấy tháng trước, loại cá nhỏ chỉ bằng ngón tay người lớn ăn mới ngon. Mình rất thích hít mùi mắm cá nục mỗi khi mạ mở hũ mắm ra để chuẩn bị làm mắm cà. Mắm cà mạ làm ngon nức tiếng không chỉ trong huyện mà còn lan lên Dinh (hồi đó dân quê gọi vùng Huế là Dinh, dấu vết còn sót lại đến chừ là Chợ Dinh), ông tỉnh rất thích món mắm cà o Tư, lan tới tận Sài Gòn do cậu ruột em mạ là cậu Trình về quê mang vô thết đãi mấy vị quan chức, sĩ quan chính quyền Sài Gòn hồi ấy. Nghe nói là đến cả mấy ông cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng thích ăn mắm cà do mạ làm, mỗi năm mạ phải làm vài ba bốn hũ gửi vô cho họ. Có lẽ vì thế nên mạ mới hoàn thành trót lọt những chuyến lên Huế nhận hàng về cho Cách mạng. Và có lẽ cũng vì thế nên năm 1967, mạ bị vu cáo tội làm gián điệp cho địch, suýt chút nữa bị cách mạng xử tử hình nếu không có chú Côi du kích kịp báo tin cho mạ thoát thân lên Huế, sau này một cán bộ lãnh đạo của huyện hồi đó xác nhận mạ bị vu oan… thì có lẽ đời mình sẽ mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ (!). Thôi, không nói chuyện suýt buồn nữa, nói chuyện vui thôi!

Nhớ món mắm cà mạ làm, lại càng thấm hương vị đồng quê, niềm tự hào muốn khoe đặc sản quê nhà và hơn hết muốn khẳng định sức sống bền vững của Đất và Người quê mình, cho dù bom đạn giặc đã bao lần cày xới. Chỉ những người ở quê, thụ hưởng đặc sản quê nhà, máu thắm hồn quê mới cảm được tận tim gan những câu thơ này: Làng ta giặc đốt mấy lần qua. Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà. Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt…

Bom đạn cày xới quê mình dữ dội nhất là sau trận Xuân Mậu Thân 1968. Địch tung toàn bộ hỏa lực dội xuống toàn xã, ác liệt nhất là 3 thôn Niêm Phò, Phò Nam và Tân Xuân Lai. Chưa hết, chúng còn đem xe ủi xe cày về ủi hất nhà cửa, tre pheo của các hộ dân 3 làng sống sát bờ sông Bồ, trong đó có nhà mình xuống sông hết. Mục đích chúng làm là tìm cho được các căn hầm bí mật thường được người dân cơ sở của Cách mạng đào ở dưới hoặc sát các bụi tre sau nhà, sát bờ sông, nhà mình cũng có hai cái. Năm 1975, sau ngày 30 tháng 4, mình dẫn cô vợ mới cưới trên rừng về quê chồng. Trời ơi! Một vùng quê xanh tươi trù phú ngày nào, nay chỉ còn đất đá, cỏ dại ngổn ngang, rắn bò lúc nhúc. Lại nhớ đến bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao:

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút dày Sân biến thành ao, nhà đổ chái Ngổn ngang bờ bụi, cánh dơi bay

Nhà thơ tả thực, không thêm bớt chút nào cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh do bom đạn giặc Pháp cày phá. Tiếc là mình không có tài thơ như Vũ Cao để tả lại cảnh bom đạn giặc Mỹ hủy hoại đất quê mình. Bây giờ nhiều nhà phê bình và cả những bạn thơ trẻ, bạn trẻ yêu thơ cũng phê phán trào lưu sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lắm. Nhưng chắc họ chưa tận thấy cảnh bom đạn giặc ngoại xâm tàn phá làng quê, cày nát chính ngôi nhà của mình… nên họ không thể rung cảm thật lòng khi đọc những dòng thơ tả thực của Tố Hữu và Vũ Cao chăng? Thế thật thì nên cảm thông cho họ, những người may mắn sinh ra khi đất nước đã thanh bình, quê hương không còn bóng giặc ngoại xâm. Nếu họ phải sinh ra sớm hơn, vào thời kháng chiến thì sao nhỉ? Thì mình đã trải qua rồi cái cảnh:

Ôi những đêm xưa tối mịt mùng Con nằm bên mẹ, ấm tròn lưng. Ngoài hiên nghe tiếng giày đi rỏn. Mẹ bấm con: Im! Chúng nó lùng. Con hỏi: Vì sao chúng nó tìm? Tìm ai? Con hỏi. Mẹ rằng: Im! Mẹ ơi! Đời mẹ buồn lo mãi! Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim!

Với Tố Hữu, cảnh đó diễn ra vào thời điểm trước sau 1930, khi nhà thơ còn ở độ tuổi chín, mười: Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi! Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười. Khi những toán lính của địch đêm đêm đi lùng sục khắp các làng quê ở xã Quảng Thọ, khắp làng Phù Lai vào những năm chống Mỹ, mình cũng ở độ tuổi đó, lớn hơn tí nhưng bé choắt bé teo như một con mèo đói, nằm gọn trong lòng mạ, nghe rõ tiếng tim mạ đập thình thịch mỗi khi có tiếng giày đinh đạp trên lá khô sau vườn. Mạ đã bao lần Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim! Như mẹ của nhà thơ và bao bà mẹ khác cô đơn bảo vệ con mình, khi chồng đi xa, lính áp sát nhà!

Mình nhớ cậu Dọc, cậu Nhơn người làng, dượng Mo chồng dì Gái, dượng Lỗ chồng dì Hòa… toàn những người nông dân thật thà như đất. Nhớ anh Toàn thiếu úy quê “Quảng Nôm” mỗi lần về làng lại cho mình và lũ bạn ăn kẹo nu-ga, vuốt đầu khen học giỏi, lại còn kỳ công bày cho mình cách làm diều, làm đèn ông sao 5 cánh. Ban đêm, khi không gian yên ắng, mấy o mấy chú du kích mặc áo đen, trong đó có o Thuấn Em, về vai vế bà con phải gọi mình bằng anh, khoác súng cạc-bin vô nhà nói chuyện chi thì thầm với mạ, xong rồi quay sang mình vỗ vai, bảo “Lớn mau lên!” Có một chú có vẻ làm to, vai đeo xắc-cốt đen khi nào vô nhà nói chuyện với mạ xong lại vuốt đầu dặn “Ráng học giỏi cháu hí!” Lại nhớ nhà thơ Hoàng Cát hồi ấy vào miền Nam chiến đấu, trú trong hầm bí mật làng mình, đã chép cho mình mấy bài thơ tình của Xuân Diệu! Ôi, nhớ quá, nhớ biết bao người! Nhìn cảnh nhớ người, gặp người nhớ chuyện… những người những chuyện xảy ra trong hoàn cảnh ôi những đêm xưa tối mịt mùng nhưng lòng người lại sáng trong, đậm đà tình nghĩa!

Ngày ấy, Tố Hữu không còn mẹ, nhưng còn quê hương, đất nước: Mẹ không còn nữa, còn đây Huế. Mình vẫn còn mạ ở nhà ngóng trông mỗi ngày thứ bảy con về. Nhưng mình cũng thế: Con lớn lên con biết lẽ rồi. Nước mất nhà tan, đời khổ thế! Không làm nô lệ, đứng lên thôi! Ông nhà thơ thì: Con lớn lên, con làm cách mạng. Còn mình chỉ đi theo cách mạng thôi, khác chút đó. Ông ấy có anh Lưu, anh Diểu dạy con đi, mình cũng có anh Hoàng Cát, anh Thắng, anh Hồng bày đường chỉ lối, cũng là người trước bảo người sau, khác chi đâu. À! Có khác, ông ấy mất mẹ khi chưa làm cách mạng, mình vẫn còn mạ và chính mạ là người đầu tiên báo tin vui cho mình được kết nạp vào Đảng.

Khi thoát ly lên rừng tham gia Giải phóng quân, mình cứ nhẩm hoài câu hát thể hiện lòng mong nhớ gia đình, nhớ mẹ và lời thề “Ra đi, ước hẹn ngày về thăm quê. Rằng chưa tan hết giặc, ta chưa về”. Ngày ấy, ở chiến trường nhớ mạ, mình cũng đã làm thơ lúc xuân về: Tết đến con cùng chốn chiến trường. Một cành mai nhỏ, nhớ quê hương. Mạ ơi! Thêm một ngày xa cách. Ray rứt lòng con đau nhớ thương. Nhưng chỉ đến khi trở về thăm quê ngoại sau ngày thống nhất đất nước, nhìn cảnh làng xã tan hoang, vườn nhà nát bét, ngôi nhà thân yêu không còn, chỉ trơ cái móng nhà nham nhở vì bom đạn giặc Mỹ, mình mới thấm được nỗi đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Thấm tận xương tủy, không thể nào quên! Đọc và ngấm thêm vậy: Từ ấy, xa quê mẹ đến rày. Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngày. Giặc về giặc chiếm, đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây!

Tố Hữu là nhà thơ, không phải nhà tiên tri. Nhưng trong Quê Mẹ, có một khổ thơ chứng tỏ tài tiên tri của ông: Chúng bay không thể có ngày mai. Chết dưới chân bay vạn bẫy gài. Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày. Bẫy gài, hầm chông đã có từ thời xưa, khi dân ta tiến hành chiến tranh chống giặc ngoại xâm thời quân Tần xâm lược, tiếp tục đến thời chống Mỹ, không nói làm gì. Nhưng Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày là chuyện có thật xảy ra trong thời chống Mỹ: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Tố Tâm và tiểu đoàn 14 công binh của quân chủ lực Quân khu Trị Thiên đã làm như vậy, khiến quân thù kinh hồn táng đởm. Trong khổ thơ này, nhà thơ dùng một từ rất “nặng ký”: Bay, chúng bay. Không phải là bây, chúng bây. Đọc thầm, đọc to lên, không thấy gì khác. Đọc gằn giọng giận dữ, thấy có chút khác. Đọc với giọng căm hờn và khinh miệt, thấy rõ sức nặng của bay, chúng bay. Ở khổ thơ cuối cùng, nhà thơ mong ước, hy vọng và xác định vững chắc niềm tin chứ không tiên tri:

Ơi Huế ngàn năm, Huế của ta Đường vào sẽ nối lại đường ra Như con của mẹ về quê mẹ Huế lại về vui giữa Cộng hòa.

Niềm mong ước, hy vọng và niềm tin ấy từ năm 1955 nhưng phải đến 20 năm sau – 1975 mới thành sự thật. Đó cũng là niềm ước mong, hy vọng của cả dân tộc Việt Nam và bao nhiêu cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, như Nguyễn Bính từng thổ lộ nỗi nhớ người vợ đang ở miền Nam: Trời còn có bữa sao quên mọc. Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em! Mình và bao người đồng đội khác thoát ly lên rừng tham gia cách mạng, làm người chiến sĩ Giải phóng quân cũng ước mong, hy vọng và tin tưởng như thế. Chỉ khác là mình đợi điều đó hơn 7 năm. Còn ông, nhà thơ Tố Hữu ấy, ông phải đợi ròng rã 20 năm mới được về thăm quê cha đất tổ, quê mẹ cắt rốn chôn nhau. Có niềm nhớ thương nào đau đáu hơn chăng?

*

Trong bài “Phía mẹ, phía quê nhà” được viết năm 1986, trước ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và được tác giả yêu cầu Nhà xuất bản Thuận Hóa đưa vào in cuối tập thơ Tố Hữu “Từ ấy… chào năm 2000” (Nxb. Thuận Hóa – Huế, 1991, tr 438 – 448 , cố thi sĩ Chế Lan Viên đã nhận xét về thơ Tố Hữu như sau:

“Nhà thơ này sử dụng đôi mắt tinh tường, nhà thơ khác sử dụng bộ óc kỳ ảo. Còn Tố Hữu, anh chỉ sử dụng những tình cảm của trái tim trần:

Trái tim ta đó Tiếng đập thình thình muốn vỡ làm đôi Ta biết em rất khỏe tim ơi Không khóc đấy. Nhưng sao mà nóng bỏng  

Đọc thơ anh là nghe cho được trái tim này. Và trái tim ư, nó cũng có những cái tinh tường kỳ ảo của riêng nó”. Và nhất là đoạn kết bài viết “Thơ Tố Hữu là thơ trái tim (có biết chuyện này thì câu thơ cũng chả vì thế mà hay hơn, nếu nó đã hay; hoặc bớt dở đi, nếu nó vốn dở. Nhưng hiểu thơ trái tim, lại cần phải có bộ óc. Thế mới là hiểu cho tác giả. Do đó, tôi muốn các độc giả Thừa Thiên Huế chúng ta sẽ dần dần tìm đọc toàn tập Tố Hữu. Anh là nhà thơ của phía Mẹ, phía Quê hương. Và cũng là nhà thơ lớn của dân tộc”.

Với riêng tôi, chỉ mong trước hết các con, các cháu bên nội của nhà thơ Tố Hữu hiện ở trong nước, tại quê hãy tìm đọc và thuộc (hiểu và cảm được càng tốt) nhiều bài thơ nổi tiếng của ông, trong đó có Quê Mẹ.

P.X.P   (SHSDB36/03-2020)

Về Quê Mẹ, Cảm Nhận Về “Quê Mẹ” / 2023

Làng Tân Xuân Lai Thượng Thọ tuy rộng dài vậy nhưng đôi bàn chân nhỏ bé của mình đã chạy khắp, từ xóm La Vân Thượng, Xuân Tùy, Tân Thành (còn gọi là Xóm Bàu vì có cái bàu nước) đến Xóm Chuối, đâu cũng có bạn học. La Vân Thượng có Chế Văn Thông, con ông Chế Văn Quýnh, lớn lên đi lính VNCH rồi đi đâu không rõ; Xóm Bàu có Dương Văn Trình, con ông De, về sau tham gia cách mạng, làm trợ lý quân lực Huyện đội Quảng Điền; Xuân Tùy có bạn Bửu, sau này làm Trường Phòng Lao động- TB&XH huyện Quảng Điền; Xóm Chuối có bạn Hồ Lai Hải, Hồ Lai Thủy, con của ông Hồ Trình, một tay chèo đua khét tiếng toàn huyện, hai bạn ấy sau này lên Huế học rồi trở thành giáo viên, có anh Hoàng Ngọc Vĩnh, lớn lên tham gia cách mạng, lần lượt làm Bí thư chi bộ xã Quảng Ninh, sau năm 1975 làm Bí thư huyện ủy Quảng Điền, Trưởng Ban nội chính Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế rồi về hưu, cùng lứa với một bạn học khác là Nguyễn Đình Sắc (học rất giỏi, sau này vào Nam làm giáo viên) và Nguyễn Đình Sau cùng làng Phước Yên (khi tham gia cách mạng đổi tên là Nguyễn Thất Sáu, từng là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Quảng Điền, hiện là Chủ tịch Hội CCB huyện). Riêng Phe Nhì (một tên gọi khác của Xóm Nhì làng Lai Trung) thì toàn là bà con nội ngoại và hàng xóm cả nên bạn học cũng là anh em bạn cũ lưu tồn từ thuở “chia trộm sẻ quà” (chia nhau đồ ăn trộm như ổi, xoài, mía, dái mít…, san sẻ cho nhau những món quà vặt của người lớn từ Huế về cho mà bọn trẻ lau hau chúng tôi thích vô cùng… như bánh quy, kẹo nu- ga, mè xửng). Đôi chân mình còn chạy khắp xã Quảng Thọ, không tránh làng nào vì làng nào cũng có bạn học. Và điều quan trọng nhất lôi kéo những bước chạy của tôi là nhà bạn nào cũng có…trái cây ngọt dịu ngọt thanh, không cần ăn cắp, tranh giành với ai. Mặc dù sau mỗi buổi chạy chơi nhà bạn, ăn no ổi xoài chuối, thế nào cũng bị Mạ cho ăn no đòn roi mây gác bếp, đau quắn mông… nhưng lạ thay, ngày mai quên hết. Nhớ bạn, thèm chơi, ta lại chạy. Chiều no xoài ổi, tối no đòn! Sau mỗi trận đòn, Mạ lại đem rượu thuốc ra xoa bóp chỗ đau rồi ngồi ru cho mình ngủ, khi thì ca dao, lúc là những bài thơ nghe hay lạ lùng, nghe là thuộc…vài câu của “Cậu Tố”. Cậu Tố, cậu Lành chỉ là một trong nhiều cách gọi về Nguyễn Kim Thành- Nhà thơ Tố Hữu. Có người gọi là anh Tố, anh Lành hoặc chú Tố, chú Lành.v.v. tùy theo mối quan hệ của từng người với ông. Trong bài này, tôi xác lập mối quan hệ giữa nhà thơ với người yêu thơ nêu ra những đồng cảm với bài Quê Mẹ.

Lên Trung học đệ nhất cấp (THĐNC, tương đương THCS bây giờ), mình lên Huế học trường Hàm Nghi, lên lớp Đệ Ngũ được chuyển qua trưởng Gia Hội mới thành lập nên tụi mình là lứa học sinh đầu tiên của trường này. Hồi ấy, học sinh THĐNC được học ngày hai buổi từ thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư và Thứ Sáu, riêng Thứ năm chỉ học một buổi. Thứ Bảy và Chủ nhật nghỉ học, về nhà. Đường về nhà có khi được đi xe đò Huế- Hương Cần thường gặp và đi xe chú Phò, từ chợ Hương Cần về nhà dài chừng 3 km toàn đi bộ, qua hai bãi tha ma, sợ chết khiếp! Chân chạy tít mù, tay nắm quyết Định tâm ấn, miệng niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cứ thế về nhà mỗi tuần. Có một hôm về sớm, qua khỏi cầu Hương Cần, gặp ngay ông Cai Bân, một chức việc của xã Quảng Thọ, lính cũ của cha mình thời Việt Minh. Ông này dữ dằn khét tiếng, dân làng xã rất sợ ông này, còn mình mỗi lần gặp ông ta lại bị ông xách vành tai rồi cười gằn “Thằng Việt Cộng con!”. Lần này, biết khó thoát, ráng giữ bình tĩnh, mình đi tới trước mặt ông ta, vòng tay thưa chú. Không như mọi khi, lần này ông cười rất tươi, đưa cho mình trái quýt Hương Cần, một thứ trái cây mà trẻ già quê mình đều thích vì vị ngọt thanh. Mình cám ơn rồi chạy vù đi, qua khỏi bãi tha ma nối giữa Phe Kiền và làng La Vân Thượng khi nào chẳng hay, không cần bắt ấn, niệm Phật. Thở phào hết sợ, bèn bóc trái quýt ra ăn. Vị ngọt dịu thanh của nó làm mát tận ruột gan. Bỗng dưng trong đầu mình vang lên câu thơ “Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt“. Bây giờ có nhiều loại quýt khắp trong nước, quýt ngoại tràn lan thị trường trái cây bán dịp ngày rằm, mồng một âm lịch. Có loại ngọt như đường, loại ngọt ngọt chua chua, nhưng không có vị ngọt dịu thanh nào bằng quýt Hương Cần mình được ăn từ thuở nhỏ. Chắc chắn nhà thơ cũng từng, như hàng vạn người ở Thừa Thiên Huế từng thưởng thức hương vị tuyệt vời của trái quýt Hương Cần trồng ở Phe /Giáp Kiền ngày xưa, nhưng chỉ có ông mới rung cảm viết nên câu thơ Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt. Còn nữa, trên câu ấy là câu mà đất Phù Lai vẫn tốt cà.

Ơ mà ngon thật món mắm cà quê ta! Cà ở làng (gọi thế cho oai) Phù Lai có hai loại: loại to như cái chén (bát) ăn cơm là cà bát, loại này Mạ không dùng làm mắm, chỉ dùng để hấp chín rồi dằm với nước mắm chanh tỏi pha chút đường, ăn nhức răng. Thầy Phú, thầy Quý dạy ở trường tiểu học, buổi trưa ở lại ăn cơm tháng tại nhà mình, trưa nào cũng đòi ăn món cà bát chấm nước mắm chanh tỏi ớt đường của Mạ làm. Riêng món mắm cà được làm từ loại cà nhỏ cỡ hột mít, tròn thúc lúc. Hái cà về, Mạ chăm chút cắt bỏ cuống cà rồi đem phơi nắng, độ vài hôm cà khô dần. Khi cà khô vừa độ, Mạ đem bỏ vô rổ, đậy vải lên cho cà dịu nắng. Mắm cá nục Mạ đã làm sẵn từ mấy tháng trước, loại cá nhỏ chỉ bằng ngón tay người lớn ăn mới ngon. Mình rất thích hít mùi mắm cá nục mỗi khi Mạ mở hũ mắm ra để chuẩn bị làm mắm cà. Mắm cà Mạ làm ngon nứt tiếng không chỉ trong huyện mà còn lan lên Dinh (hồi đó dân quê gọi vùng Huế là Dinh, dấu vết còn sót lại đến chừ là Chợ Dinh), Tỉnh trưởng- Trung tá Phan Văn Khoa rất thích món mắm cà O Tư, lan tới tận Sài Gòn do cậu ruột em Mạ là cậu Trình về quê mang vô thết đãi mấy vị quan chức, sĩ quan chính quyền Sài Gòn hồi ấy. Nghe nói là đến cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quê miền Bắc cũng thích ăn mắm cà do Mạ làm, mỗi năm Mạ phải làm vài ba bốn hũ gửi vô cho ông ta. Có lẽ vì thế nên Mạ mới hoàn thành trót lọt những chuyến lên Huế nhận hàng về cho Cách mạng. Và có lẽ cũng vì thế nên năm 1967, Mạ bị vu cáo tội làm gián điệp cho địch, suýt chút nữa bị cách mạng xử tử hình nếu không có chú Côi du kích kịp báo tin cho Mạ thoát thân lên Huế, sau này một cán bộ lãnh đạo của huyện hồi đó xác nhận Mạ bị vu oan… thì có lẽ đời mình sẽ mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ (!). Thôi, không nói chuyện suýt buồn nữa, nói chuyện vui thôi!

Nhớ món mắm cà Mạ làm, lại càng thấm hương vị đồng quê, niềm tự hào muốn khoe đặc sản quê nhà và hơn hết muốn khẳng định sức sống bền vững của Đất và Người quê mình, cho dù bom đạn giặc đã bao lần cày xới. Chỉ những người ở quê, thụ hưởng đặc sản quê nhà, máu thắm hồn quê mới cảm được tận tim gan những câu thơ này: Làng ta giặc đốt mấy lần qua. Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà. Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt…

Bom đạn cày xới quê mình dữ dội nhất là sau trận Xuân Mậu Thân 1968. Địch tung toàn bộ hỏa lực dội xuống toàn xã, ác liệt nhất là 3 thôn Niêm Phò, Phò Nam và Tân Xuân Lai. Chưa hết, chúng còn đem xe ủi xe cày về ủi hất nhà cửa, tre pheo của các hộ dân 3 làng sống sát bờ sông Bồ, trong đó có nhà mình xuống sông hết. Mục đích chúng làm là tìm cho được các căn hầm bí mật thường được người dân cơ sở của Cách mạng đào ở dưới hoặc sát các bụi tre sau nhà, sát bờ sông, nhà mình cũng có hai cái. Năm 1975, sau ngày 30 tháng 4, mình dẫn cô vợ mới cưới trên rừng về quê chồng. Trời ơi! Một vùng quê xanh tươi trù phú ngày nào, nay chỉ còn đất đá, cỏ dại ngổn ngang, rắn bò lúc nhúc. Lại nhớ đến bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao:

Nhà thơ tả thực, không thêm bớt chút nào cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh do bom đạn giặc Pháp cày phá. Tiếc là mình không có tài thơ như Vũ Cao để tả lại cảnh bom đạn giặc Mỹ hủy hoại đất quê mình một cách “văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” nhất. Bây giờ nhiều nhà phê bình và cả những bạn thơ trẻ, bạn trẻ yêu thơ cũng phê phán trào lưu sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lắm. Nhưng chắc họ chưa tận thấy cảnh bom đạn giặc ngoại xâm tàn phá làng quê, cày nát chính ngôi nhà của mình… nên họ không thể rung cảm thật lòng khi đọc những dòng thơ tả thực của Tố Hữu và Vũ Cao chăng? Thế thật thì nên cảm thông cho họ, những người may mắn sinh ra khi đất nước đã thanh bình, quê hương không còn bóng giặc ngoại xâm. Nếu họ phải sinh ra sớm hơn, vào thời kháng chiến thì sao nhỉ? Thì mình đã trải qua rồi cái cảnh:

Với Tố Hữu, cảnh đó diễn ra vào thời điểm trước sau 1930, khi nhà thơ còn ở độ tuổi chín, mười: Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi! Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười. Khi những toán lính sư đoàn Một bộ binh- Quân lực VNCH đêm đêm đi lùng sục khắp các làng quê ở xã Quảng Thọ, khắp làng Phù Lai, mình cũng ở độ tuổi đó, lớn hơn tí nhưng bé choắt bé teo như một con mèo đói, nằm gọn trong lòng Mạ, nghe rõ tiếng tim Mạ đập thình thịch mỗi khi có tiếng giày đinh đạp trên lá khô sau vườn. Mạ đã bao lần Thắt ruột, mòn gan, héo cả tim! Như mẹ của nhà thơ và bao bà mẹ khác cô đơn bảo vệ con mình, khi chồng đi xa, lính áp sát nhà!

Nói thật, hồi ấy mình chưa hề có chút căm thù và sợ sệt nào với mấy chú lính sư đoàn Một bộ binh, nghĩa quân, dân vệ…vì trong đó có cậu Dọc, cậu Nhơn người làng, dượng Mo chồng dì Gái, dượng Lỗ chồng dì Hòa… toàn những người nông dân thật thà như đất, bị bắt đi lính; có anh Toàn thiếu úy quê “Quảng Nôm” mỗi lần về làng lại cho mình và lũ bạn ăn kẹo nu- ga, vuốt đầu khen học giỏi, lại còn kỳ công bày cho mình cách làm diều, làm đèn ông sao 5 cánh. Ô hay! Sao hồi ấy anh thiếu úy Toàn lại vừa làm vừa hát nho nhỏ “Vàng vàng ơi! Đẹp lắm, sao sao ơi!” nhỉ? Hồi ấy mình không hiểu, bây giờ thì hiểu rồi, tiếc là anh Toàn đã đi xa! Vì thế, nếu vào ban ngày, hễ gặp mấy chú mấy anh lính sư đoàn Một vô nhà, bọn trẻ con làng Phù Lai mình luôn hí hửng chạy ra chờ kẹo. Bù lại, mình luôn có sẵn mấy con chim rôộc rôộc trong lồng để chú nào, anh nào xin thì cho, anh Toàn được phần con chim to nhất biết hót líu lo. Ban đêm, khi không gian yên ắng, mấy o mấy chú du kích mặc áo đen, trong đó có O Thuấn Em, về vai vế bà con phải gọi mình bằng anh, khoác súng cạc- bin vô nhà nói chuyện chi thì thầm với Mạ, xong rồi quay sang mình vỗ vai, bảo “Lớn mau lên!”. Có một chú có vẻ làm to, vai đeo xắc- cốt đen khi nào vô nhà nói chuyện với Mạ xong lại vuốt đầu dặn “Ráng học giỏi cháu hí!”. Lại nhớ nhà thơ Hoàng Cát hồi ấy vào miền Nam chiến đấu, trú trong hầm bí mật làng mình, đã chép cho mình mấy bài thơ tình của Xuân Diệu! Ôi, nhớ quá, nhớ biết bao người! Nhìn cảnh nhớ người, gặp người nhớ chuyện…những người những chuyện xảy ra trong hoàn cảnh ôi những đêm xưa tối mịt mùng nhưng lòng người lại sáng trong, đậm đà tình nghĩa!

Chỉ đến khi quân Mỹ và sau đó đám quân chư hầu kéo vào miền Nam, tình hình khác hẳn. Lòng người bỗng rõ trắng đen: Địch là địch mà Ta là ta. Lòng người bỗng hoang mang: ai là Ta, ai là Địch? Ngụy quân ngụy quyền là ai? Là những người như chú Dọc, chú Nhơn, dượng Mo, dượng Lỗ? Là ông cai Bân, người thời Việt Minh làm lính của cha mình, sau năm 1954 quay về làm cán bộ xã Quảng Thọ, hay dọa nạt dân kháng chiến? Là anh thiếu úy Toàn luôn hát líu lo “Vàng vàng ơi! Đẹp lắm, sao sao ơi!”? Hẳn rồi, đó là những kẻ như đại úy Tôn Thất Trực, tên sĩ quan hung bạo khét tiếng luôn đeo một chuỗi lỗ tai người quanh cổ, đó là những lỗ tai Việt Cộng mà hắn ta giết được, coi như một “vòng hoa chiến tích”? Hẳn nhiên rồi, đó là bọn xâm lược Mỹ đã kéo quân vào, đem bom đạn tàn phá quê ta, giết dân ta.

Không thể khác, không thể hành động khác! Ngày ấy, Tố Hữu không còn Mẹ, nhưng còn quê hương, đất nước: Mẹ không còn nữa, còn đây Huế. Mình vẫn còn Mạ ở nhà ngóng trông mỗi ngày thứ Bảy con về. Nhưng mình cũng thế: Con lớn lên con biết lẽ rồi. Nước mất nhà tan, đời khổ thế! Không làm nô lệ, đứng lên thôi!. Ông nhà thơ thì: Con lớn lên, con làm cách mạng. Còn mình chỉ đi theo cách mạng thôi, khác chút đó. Ông ấy có anh Lưu, anh Diểu dạy con đi, mình cũng có anh Hoàng Cát, anh Thắng, anh Hồng bày đường chỉ lối, cũng là người trước bảo người sau, khác chi đâu. À! Có khác, ông ấy mất mẹ khi chưa làm cách mạng, mình vẫn còn Mạ và chính Mạ là người đầu tiên báo tin vui cho mình được kết nạp vào Đảng.

Khi thoát ly lên rừng tham gia Quân giải phóng miền Nam, mình cứ nhẩm hoài câu hát thể hiện lòng mong nhớ gia đình, nhớ mẹ và lời thề “Ra đi, ước hẹn ngày về thăm quê. Rằng chưa tan hết giặc, ta chưa về”. Ngày ấy, ở chiến trường nhớ Mạ, mình cũng đã làm thơ lúc xuân về: Tết đến con cùng chốn chiến trường. Một cành mai nhỏ, nhớ quê hương. Mạ ơi! Thêm một ngày xa cách. Ray rứt lòng con đau nhớ thương. Nhưng chỉ đến khi trở về thăm quê ngoại sau ngày thống nhất đất nước, nhìn cảnh làng xã tan hoang, vườn nhà nát bét, ngôi nhà thân yêu không còn, chỉ trơ cái móng nhà nham nhở vì bom đạn giặc Mỹ, mình mới thấm được nỗi đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Thấm tận xương tủy, không thể nào quên! Đọc và ngấm thêm vậy: Từ ấy, xa quê mẹ đến rày. Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngày. Giặc về giặc chiếm, đau xương máu. Đau cả lòng sông, đau cỏ cây! Cám ơn nhà thơ Tố Hữu đã giúp mình hiểu tận nỗi đau này!

Tố Hữu là nhà thơ, không phải nhà tiên tri. Nhưng trong Quê Mẹ, có một khổ thơ chứng tỏ tài tiên tri của ông: Chúng bay không thể có ngày mai. Chết dưới chân bay vạn bẫy gài. Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày. Bẫy gài, hầm chông đã có từ thời xưa, khi dân ta tiến hành chiến tranh chống giặc ngoại xâm thời quân Tần xâm lược, tiếp tục đến thời chống Mỹ, không nói làm gì. Nhưng Chết xuống đầu bay từng hốc núi. Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày là chuyện có thật xảy ra trong thời chống Mỹ: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Tố Tâm và tiểu đoàn 14 công binh của quân chủ lực Quân khu Trị Thiên đã làm như vậy, khiến quân thù kinh hồn táng đởm. Trong khổ thơ này, nhà thơ dùng một từ rất “nặng ký”: Bay, chúng bay. Không phải là bây, chúng bây. Đọc thầm, đọc to lên, không thấy gì khác. Đọc gằn giọng giận dữ, thấy có chút khác. Đọc với giọng căm hờn và khinh miệt, thấy rõ sức nặng của bay, chúng bay. Chợt nhớ lại lần viết bài thơ Trung Quốc, hãy nhớ, có một khổ thơ mình dùng từ bây, chúng bây. Đem tặng hai người bạn học thời Hàm Nghi- Gia Hội, sau này một đứa đi học Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt, một đứa học trường sĩ quan trù bị Thủ Đức, khi giải phóng miền Nam, tụi hắn mới là sinh viên, chưa đeo lon nên chỉ bị đi cải tạo 1 năm rồi trả quyền công dân, cho về đoàn tụ gia đình, bạn bè lâu lâu lại gặp nhau cụng vài ly, hàn huyên tâm sự chuyện đời. Tưởng được bạn khen, ai ngờ thằng bạn cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức chê ngay: Dùng chữ bây, chúng bây, tau không thỏa, đọc không đã! Ủa! Thì dùng chữ gì? Bay, chúng bay đọc lên nghe mới đã! Dừng một lát để ngẫm nghĩ, vẫn chưa đồng ý. Hắn thủng thẳng: Mi chưa đọc bài thơ Quê Mẹ của Tố Hữu à? Ngớ cả người. Chừ về quê ngoại, đọc và ngẫm lại mới hay…bạn mình sâu!

Nhưng ở khổ thơ cuối cùng, nhà thơ mong ước, hy vọng và xác định vững chắc niềm tin chứ không tiên tri:

Trong bài PHÍA MẸ, PHÍA QUÊ NHÀ, được viết năm 1986, trước ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và được tác giả yêu cầu Nhà xuất bản Thuận Hóa đưa vào in cuối tập thơ Tố Hữu TỪ ẤY….CHÀO NĂM 2000 (Nxb Thuận Hóa- Huế, 1991, tr 438- 448, cố thi sĩ Chế Lan Viên đã nhận xét về thơ Tố Hữu như sau:

Tiếng đập thình thình muốn vỡ làm đôi

Ta biết em rất khỏe tim ơi

Không khóc đấy. Nhưng sao mà nóng bỏng

Đọc thơ anh là nghe cho được trái tim này. Và trái tim ư, nó cũng có những cái tinh tường kỳ ảo của riêng nó”. Và nhất là đoạn kết bài viết ” Thơ Tố Hữu là thơ trái tim (có biết chuyện này thì câu thơ cũng chả vì thế mà hay hơn, nếu nó đã hay; hoặc bớt dở đi, nếu nó vốn dở. Nhưng hiểu thơ trái tim, lại cần phải có bộ óc. Thế mới là hiểu cho tác giả. Do đó, tôi muốn các độc giả Thừa Thiên Huế chúng ta sẽ dần dần tìm đọc toàn tập Tố Hữu. Anh là nhà thơ của phía Mẹ, phía Quê hương. Và cũng là nhà thơ lớn của dân tộc”.

Không như Chế Lan Viên, tôi thì chỉ mong trước hết các con, các cháu bên nội của nhà thơ Tố Hữu hiện ở trong nước, tại quê hãy tìm đọc và thuộc (hiểu và cảm được càng tốt) nhiều bài thơ nổi tiếng của ông, trong đó có Quê Mẹ.

Nhà Thơ Tố Hữu &Amp; Quê Mẹ / 2023

TTH – Nhân dịp 100 năm ngày sinh nhà thơ Tố Hữu (4/10/1920 – 4/10/2020), Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức ấn hành thi phẩm với tên gọi lấy từ tựa đề bài thơ “Quê mẹ” của ông. Tập thơ bao gồm những bài thơ nhà thơ Tố Hữu viết ở Huế, viết về Huế, hoặc có nhắc đến quê hương Thừa Thiên Huế trong một cõi đất Việt “Nước non ngàn dặm”.

Bìa tập thơ Quê mẹ

Nhà thơ Tố Hữu sinh ra nơi miền quê ven sông Bồ, làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Từ nhỏ ông được tắm gội trong lời ru của mẹ, thừa hưởng vốn ca dao, dân ca xứ Huế với bao làn điệu mái nhì, mái đẩy, câu Nam ai, Nam bình… Từ Huế, ông làm thơ cho mọi nhà, mọi người, mang âm hưởng hồn cốt văn hóa Huế, nhịp điệu Huế, ngôn ngữ Huế… Từ thế giới âm điệu bay bổng của thơ mới và bình dị dìu dặt của ca dao dân ca, niềm hưng phấn lên đường đầy lý tưởng đã vang vọng, hòa quyện tạo nên tiếng thơ Tố Hữu khởi sáng lúc bấy giờ.

Quê hương Thừa Thiên Huế chính là nơi khởi nguồn bồi đắp lý tưởng, bầu nhiệt huyết cách mạng, bầu khí quyển thi ca của nhà thơ Tố Hữu. Những đồng chí lãnh đạo của Đảng hoạt động ở Huế thời đó đã dẫn dắt Tố Hữu đi theo con đường cách mạng (Con lớn lên con làm cách mạng/anh Lưu anh Diểu dạy con đi (Quê mẹ)). Đồng chí Phan Đăng Lưu là người thầy đầu tiên hướng Tố Hữu vào con đường thơ ca cách mạng. Những bài thơ ban đầu: Mồ côi, Hai đứa bé, Đi đi em, Tiếng hát sông Hương… ra đời trong những năm tháng đó, khiến cho Tố Hữu tạo dựng một tiếng thơ riêng, được bạn đọc yêu mến vì lời thơ mượt mà song vô cùng gần gũi, được các nhà phê bình thán phục vì sự bất khuất yêu ghét rõ ràng, và kêu gọi đấu tranh. Trong khi hầu hết các nhà thơ mới “đều say sưa bơi lội trong dòng sông tâm tư tình cảm cá nhân”, né tránh thân phận nô lệ, nỗi đau mất nước; thì Tố Hữu đã gióng lên lời thơ kêu gọi đấu tranh cho mọi tâm hồn đau khổ.

Vì quê hương đất nước ông đi làm cách mạng để giải phóng Nhân dân, giải phóng dân tộc. Tình cảm của nhà thơ đối với quê hương thật đậm đà da diết. Từ những ngày đầu đến với cách mạng rồi sớm xuất hiện trên văn đàn, những bài thơ ban đầu của Tố Hữu đều được bắt đầu từ Huế. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/Mặt trời chân lý chói qua tim” là những vần thơ có sức mạnh như một nguồn năng lượng tinh thần vô giá với hàng triệu con tim. Thơ Tố Hữu có sức lan tỏa rất lớn và cũng mang đậm hồn thơ xứ Huế.

Quê hương Thừa Thiên Huế là ý chí, là quyết tâm góp phần làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất:

“Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao

Mở mắt trông: Trời đất bốn phương chào

Một dân tộc đã ào ào đứng dậy!

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy

Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

(Huế tháng Tám)

Quê hương Thừa Thiên Huế, là Huế trong miền Nam, nằm trong khối Việt Nam thống nhất :

– “Nếu tâm sự cùng ta, bạn hỏi

Tiếng nào trong muôn ngàn tiếng nói

Như nỗi niềm nhức nhói tim gan ?

– Trong lòng ta hai tiếng: Miền Nam!”

(Miền Nam)

– “Ai vô đó, với đồng bào, đồng chí

Nói với nửa – Việt Nam yêu quý

Rằng: Nước ta là của chúng ta

Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

Chúng ta, con một cha, nhà một nóc

Thịt với xương, tim óc dính liền”

(Ta đi tới)

“Ôi Huế ngàn năm, Huế của ta

Đường vào sẽ nối lại đường ra”

Như con của mẹ về quê mẹ

Huế lại về vui giữa cộng hòa”

(Vui bất tuyệt)…

Nhiều người cho rằng thơ Tố Hữu như là tiếng nói trái tim nhân hậu của người mẹ, thật gần gũi thân quen đến độ khi đọc lên, cứ ngỡ đó là người mẹ ở quê nhà.

Từ bài thơ “Dửng dưng” viết về Huế trong thời thuộc Pháp, đến “Bài ca quê hương”, nhà thơ đã phải trải qua “Hai mươi chín năm dằng dặc xa quê/ nay mới về thăm mừng tái tê”; đó cũng là chặng đường dài của cách mạng đất nước. Đêm Hà Nội dịp tết năm 1955, nhà thơ Tố Hữu bước trên Phố Huế lòng mang nỗi nhớ quê hương, và bài thơ “Quê mẹ” tiếng lòng rưng rức nước mắt thương nhớ vang lên trong đêm: “Huế ơi quê mẹ của ta ơi”.

Quê hương Thừa Thiên Huế hiện lên trong thơ ông là lời ăn tiếng nói miền quê:

– “Ôi, cơ chi anh được về với Huế”

(Bài ca quê hương);

– “Có lẽ con anh lớn lắm rồi

Chúng đương đùa nghịch hét vang cươi”

(Người về);

– “Răng không cô gái trên sông?

Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài

Thơm như hương nhụy hoa nhài…”

(Cô gái sông Hương)

Là “Con cá chột nưa”.

Là các địa danh thân thiết:

– “Làng ta giặc đốt mấy lần qua

Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà

Mà quít Hương Cần ta vẫn ngọt

Nhớ anh du kích trấn Dương Hòa”

(Quê mẹ)

Bao nhiêu lần ông về thăm quê, đó là những chuyến đi của máu trở về tim. Về lần đầu tiên, ông viết: “Đường về xứ Huế quê ta/Mấy sông cũng lội mấy xa cũng gần” (Đường vào), và sau đó bao giờ cũng da diết: “Hương Giang ơi, dòng sông êm/ Quả tim ta, vẫn ngày đêm tự tình ” (Bài ca quê hương)…

Tố Hữu là một người con quê hương Thừa Thiên Huế tiêu biểu, một trong những ngọn đuốc trên đỉnh Ngự soi sáng dòng Hương. Quê hương Thừa Thiên Huế tự hào đã sinh ra ông, bên cạnh những tên tuổi chói ngời khác của Thừa Thiên Huế. Trường Quốc Học còn lưu giữ hình ảnh của ông cùng bao học trò là những tên tuổi lớn của đất nước: Nguyễn Tất Thành, Trần Phú, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh… Tên nhà thơ Tố Hữu được đặt tên đường, tên trường ở thành phố Huế, các huyện Quảng Điền, các thị xã Hương Trà, Hương Thủy… Một không gian thi ca Tố Hữu được xây dựng ở Quảng Điền, ngay bên dòng sông Bồ xanh trong mà nhà thơ Tố Hữu thường nhắc đến trong thơ ông.

Tập thơ “Quê mẹ” như là tấm lòng của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế hôm nay dành tri ân, tôn vinh nhà thơ Tố Hữu nhân 100 năm ngày sinh của ông. Đây hy vọng cũng sẽ là món quà dành cho những người đồng điệu yêu thơ Tố Hữu, yêu Huế – xứ sở thi ca giờ đây đang xây dựng và phát triển thành vùng đất “di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường”, là đô thị di sản trực thuộc Trung ương đặc sắc của Việt Nam.

Bài, ảnh: THANH NGỌC

Những Bài Thơ 8 Chữ Hay Nhất Về Thầy Cô, Mẹ Và Quê Hương / 2023

Những bài thơ 8 chữ hay nhất về thầy cô, mẹ và quê hương mặc dù không nhiều, bởi đây không phải là thể thơ phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên những vần thơ viết lên luôn đong đầy cảm xúc, và chuyển tải được tình cảm của thi nhân.

Làm thơ thơ 8 chữ dễ dàng hơn những thể thơ khác rất nhiều vì không bị luật thơ gò bó như những thể loại khác. Vì thơ 8 chữ không có quá gò bó, từ ngữ bạn dùng sẽ làm bài thơ trở nên hay hơn, chỉ cần uốn nắn, uyển chuyển dùng từ sẽ tạo ra một bài thơ thật hấp dẫn.

Những bài thơ 8 chữ hay nhất về thầy cô, mái trường

Những bài thơ 8 chữ về thầy cô giáo này chắc chắn sẽ khiến những tâm hồn “sắt đá” nhất cũng phải bồi hồi xúc động. Lời thơ tuy mộc mạc, giản đơn nhưng tất cả đều toát lên sự chân thành và biết ơn vô hạn.

Bên cạnh đó, mái trường luôn là nơi đong đầy cảm xúc, ghi đậm dấu ấn của thời thanh xuân, của những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Do vậy, nó luôn có một sức hút diệu kỳ.

Những bài thơ 8 chữ hay nhất về thầy cô, mái trường:

1. Vẫn nhớ ngày xưa

3. Thương lắm những con đò

4. Khi thầy về nghỉ hưu

7. Tình yêu tuổi học trò

8. Về thăm trường cũ

Những bài thơ 8 chữ hay nhất về mẹ

“Mẹ”, một từ đơn giản thôi nhưng lại chứa đựng biết bao nhiêu là tình thương, ý nghĩa sâu sắc thật bao la, rộng lớn. Không gì có thể thay thế dược tình yêu thương bao la và công lao của mẹ. Mẹ cũng là một bờ vai yên bình nhất để chúng ta dựa vào mỗi khi thất bại.

2. Trái tim của mẹ

3. Mẹ là duy nhất trong con

5. Nước mắt mẹ tôi

6. Điều ước giản đơn

Những bài thơ 8 chữ hay nhất về quê hương, đất nước

Thông qua những bài thơ hay về quê hương đất nước, tổ quốc con người, bạn sẽ cảm nhận được một phần nào đó về tình yêu dành cho quê hương, tổ quốc của mình và nhớ lại những buổi chiều tà cùng bạn đi chăn trâu những chùm khế ngọt, tắm ao, tắm hồ, lắng nghe tiếng sáo, tiếng diều buổi chiều hè … Tất cả đều là những hình ảnh rất đỗi thân thương.

1. Tổ quốc ở Trường Sa

Các con đứng như tượng đài quyết tử Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa

Bài thơ truyền lửa mạnh mẽ đến mọi con dân nước Việt về truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân ta ,chỉ cần có bóng giặc hay tổ quốc lâm nguy truyền thống ấy lại hừng hực khí thế

2. Trở lại quê hương

Bài thơ là hình ảnh những người con xa quê tìm trở về nơi chốn cũ sau bao năm trời xa cách bài thơ miêu tả hình ảnh quê hương chân chất mộc mạc mà bình dị hình ảnh quen thuộc có ấn tượng đặc biệt trong lòng con người .

3. Quê hương tôi

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”

Tình Bắc Nam chung chảy một dòng Không ghành thác nào ngăn cản được Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương…

Đây là một bài thơ 8 chữ chúng ta đã được học từ những ngày đi học. Bài thơ thể hiện sâu sắc hình ảnh quê hương được hiện lên trong từng câu chữ của bài thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương dù cho có khoảng cách về thời gian và khoảng cách địa lý xa xôi thế nào cũng sẽ không ngăn được tình cảm yêu quê hương

Một bài thơ 8 chữ của nhà thơ Tế Hanh đọc lên thật gần gũi và thân thương biết mấy. Quê hương gợi lên như tiếng ru, tiếng à ơi của mẹ. Khiến mỗi chúng ta đi xa ai cũng nhớ về.

5. Xa quê hương

7. Nhớ lắm quê hương