Top 10 # Bài Thơ Lục Bát Của Giáo Sư Ngô Bảo Châu Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Anhngucongdong.com

Thơ Lục Bát Của Tiến Sĩ Ngô Hồ Anh Khôi

Lục bát vốn là thể thơ luật rất quen thuộc, được coi là thuần túy Việt Nam đã có từ lâu nhưng không rõ phát xuất từ thời đại nào. Nhiều câu ca dao hoặc đồng dao trong văn học dân gian mang nội dung sâu sắc và có giá trị nghệ thuật được phổ biến sâu rộng trong mọi tầng lớp quần chúng: Bầu ơi! thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn hay Ngó lên nhan tắt đèn mờ/ Muốn nuôi cha mẹ bây giờ còn đâu.

Nhiều thi phẩm nổi tiếng trong văn học Việt Nam được sáng tác theo thể sáu – tám: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Bích câu kỳ ngộ (Khuyết danh), Đại Nam Quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái) … Trên thi đàn hiện đại cũng không thiếu những nhà thơ sở hữu được những câu, những bài thơ hay làm theo thể loại sáu tám: Tố Hữu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyễn Duy…

Thể thơ sáu – tám chủ yếu sáng tác bằng chữ Nôm ở thời Trung đại và chữ Quốc ngữ thời hiện đại từ khi Việt Nam có cơ hội giao lưu với văn hóa phương Tây. Do qui tắc tương đối không gò bó như các thể thơ khác, cụ thể là thơ Đường luật, lục bát được dùng để soạn thảo các văn bản thông tin, tuyên truyền tôn giáo, đạo lý nhờ có vần điệu dễ đọc, dễ nhớ…

Với Ngô Hồ Anh Khôi, Lục bát ký sự là sáng tác đầu tay bằng văn vần của một sinh viên mới bắt đầu hành trình vào con đường văn chương nhưng có những thành công nghệ thuật đáng khích lệ.

Hầu hết những bài lục bát của Anh Khôi khơi nguồn từ cảm xúc tinh tế nhạy bén của tác giả sau khi nghe được một bản nhạc tâm đắc, hay trong những lần thù tạc văn chương, xướng họa thơ ca cùng các bạn văn chương “đồng khí đồng thanh” nơi đất khách. Do vậy, lục bát Anh Khôi nói lên được phần nào tình cảm, tâm tư và cá tính của tác giả, một chàng thanh niên cực kỳ hiếu học mà vẫn đam mê tha thiết với văn học nghệ thuật nước nhà.

Cõi thơ của Lục bát ký sự đích thực là một Vườn Thơ được minh họa rõ nét hồn cốt sáng trong lành mạnh của một con người yêu văn nghệ và quê hương. Tuy nhiên, trong vườn thơ của Anh Khôi, bên cạnh những hoa tươi cỏ đẹp, ắt cũng có xen lẫn đôi chùm cỏ dại trái mùa như trong bức tranh phong cảnh của một họa sĩ. Do vậy, đôi chỗ ta vẫn bắt gặp cách dùng từ của tác giả còn dễ dãi ngôn ngữ, tu từ sử dụng sát sao luật thơ lục bát.

Văn chương tự nghìn xưa là một thế giới thực hư mênh mông vô bờ bến. Lĩnh vực thi ca trong đó vốn là một không gian tư tưởng, nghệ thuật đặc thù vạn trạng muôn hình. Nàng Thơ đến với chúng ta qua chân dung một người đẹp siêu thực, với đường nét vô cùng phức tạp và ngôn ngữ đa dạng luôn luôn được cập nhật theo từng sat-na thời gian. Có nhà thơ coi tứ thơ hay đến với thi sĩ như một tia chớp bất ngờ, lời thơ được coi như là thứ ngôn ngữ từ trên trời mặc khải cho tác giả có được trong trạng thái tâm hồn đồng bóng (être en extase) (Vũ Đức Sao Biển)! Từ đó việc đánh giá thơ hay, dở thường mang tính chủ quan, phiến diện tùy theo lăng kính cảm nhận rất riêng của mỗi người. Nghĩ như vậy, bạn đọc của Lục bát ký sự của Ngô Hồ Anh Khôi sẽ thông cảm và bao dung với tác giả, một hồn thơ rất trẻ trung, còn có cả một con đường thơ rộng thênh thang phía trước.

N.T

* Ngô Hồ Anh Khôi: Tốt nghiệp Tiến sĩ tại Pháp, dạy học tại Cần Thơ

** Thơ Thiền đời Lý, NXB Hội Nhà văn – 2013, Cần Thơ

Đối đáp và Xướng họa thơ Đường, NXB Văn hóa – Văn nghệ 2013, Cần Thơ

Hương sắc bốn phương, NXB Văn hóa – Văn nghệ 2013, Cần Thơ

Lục bát ký sự, NXB Hội Nhà văn – 2014, Cần Thơ

Thơ Lục Bát Của Học Sinh

Trời đang giá rét run người

Chợt mưa phùn đến dạo chơi đêm ngày Mai vàng, đào thắm trên cây Và chim én liệng từng bầy đồng xanh… Hình như những giọt mưa lành Đã mang xuân đến trên cành non tơ.

( Võ Thị Bảo Yến)

Chào xuân

Quê em yên ả thanh bình Mọi người đóng góp sức mình dựng xây Người dân vất vả cấy cày Lưng còng dấu hỏi mong ngày giàu hơn

( Đào Minh San)

Buổi trưa

Trong vườn hoa thắm nhiều cây Quả ngon, thơm mát vườn đầy tiếng chim Chim ơi hãy khẽ im lìm Để cho bé ngủ lim dim mắt tròn.

( Nguyễn Văn Huy)

Lời thầy

Vang vang tiếng giảng cô thầy Cho em bài học trời mây xa vời Cánh cửa kiến thức chân trời Mở ra trước mắt sáng ngời bao la Nhớ công dưỡng dục mẹ cha Lời thầy giảng dạy sâu xa tình người Cho em cảm nhận buồn vui Cho em thấu hiểu cuộc đời cha ông Lời thầy khơi dậy ước mong Để em sáng lòng phân đấu ngày mai

( Trần Thị Quỳnh Nga)

Đã đăng ở tập chí Văn học và tuổi trẻ số 155 – tháng 01 năm 2008

Lương Sỹ Hiệp @ 10:34 12/02/2012 Số lượt xem: 308

Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

– Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

– Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

– Hài thanh:

+ Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

Ví dụ:

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

+ Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

Ví dụ:

(Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

Cách gieo vần thơ lục bát

Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

+ Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

“Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

+ Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

“Nhện – quện” là vần trắc.

+ Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

+ Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

“Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

+ Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

+ Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

+ Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

+ Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

+ Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

– Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

– Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

– Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

– Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

Các thể ngũ ngôn đường luật

– Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

– Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

– Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

– Vần: 1 vần, gieo vần cách

– Nhịp lẻ: 2/3

– Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

Các thể thất ngôn đường luật

Gồm:

Thất ngôn tứ tuyệt

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

– Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

– Nhịp: 4/3

Thất ngôn bát cú

– Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

– Vần: vần chân, độc vận

– Nhịp: 4/3